Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

4

Cuối kì nghỉ hè chúng tôi từ biệt bà. Atlantide lúc này mờ nhạt đi phía sau sương mù mùa thu và những cơn bão tuyết đầu tiên – phía sau cuộc sống Nga chúng tôi.

Là ví cái thành phố nơi chúng tôi quay về không giống chút nào với cái Saranza tĩnh lặng. Thành phố này trải dài trên hai bờ con sông Vônga và với một triệu rưỡi cư dân, những xí nghiệp chế tạo vũ khí, những đại lộ rộng rãi cùng những tòa nhà lớn theo phong cách thời Stalin. Một nhà máy thủy điện khổng lồ phía hạ lưu, một đường tàu điện ngầm đang xây dựng, một cảng sông rộng mênh mông, ghi đậm trong mắt mọi người cái hình ảnh về đồng bào chúng tôi - đang chiến thắng sức mạnh thiên nhiên, sống nhân danh một tương lai rực rỡ, đang ra sức năng nổ nên chẳng cần quan tâm đến các tàn tích lố lăng quá khứ. Mặt khác, thành phố chúng tôi do vì có các xí nghiệp nên người nước ngoài không được phép vào… Vâng, đó là một thành phố nơi người ta cảm thấy rất rõ mạch đập của đất nước.

Cái nhịp điệu này, ngay khi chúng tôi trở về, liền bắt đầu chỉnh nhịp cho mọi cử động mọi suy nghĩ của chúng tôi. Ai nấy hòa vào trong hơi thở lạnh băng của tổ quốc.

Cái mầm ghép Pháp không hề ngăn cản chị tôi lẫn bản thân tôi sống một cuộc sống giống như các bạn bè: tiếng Nga trở thành ngôn ngữ hằng ngày, trường học, đúc khuôn chúng tôi thành những thanh niên Xô viết kiểu mẫu, các trò chơi bán quân sự giúp chúng tôi quen với mùi thuốc súng, với tiếng nổ lựu đạn, với ý nghĩ về kẻ thù phương Tây mà một ngày kia chúng tôi sẽ phải chiến đấu chống lại họ.

Các buổi tối trên ban công bà ngoại chúng tôi chỉ còn coi như giấc mơ con trẻ. Và khi, trong giờ lịch sử, ông giáo nói về “Nicolas đệ Nhị, mà nhân dân đặt biệt hiệu là Nicolas khát máu”, chúng tôi coi như không hề có mối liên hệ gì giữa tên đao phủ hoang đường này với ông vua trẻ từng vỗ tay thưởng thức Le Cid. Không, đó là hai người không hề biết nhau.

Thế nhưng một hôm do tình cờ, sự gắn liền này diễn ra trong đầu tôi: tuy không ai hỏi, tự dung tôi nói về Nicolas và Alexandra, về chuyến họ đến thăm Paris. Điều tôi trình bày khiến mọi người bất ngờ và các chi tiết tiểu sử tôi dẫn ra phong phú đến mức ông giáo đâm bối rối. Mấy tiếng cười khẩy sững sờ chạy khắp lớp: bọn học sinh chẳng biết nên coi lời tôi nói như một hành động khiêu khích hoặc đơn giản chỉ là một câu chuyện điên rồ. Nhưng ông giáo đã nắm lại tình thế bằng cách dằn từng tiếng:

- Chính Sa hoàng là kẻ chịu trách nhiệm về cuộc xô xát ghê gớm xẩy trên cánh đồng Khodynka - hàng nghìn người bị giết hại. Chính ông ta đã ra lệnh bắn vào cuộc biểu tình ôn hòa ngày 9 tháng giêng 1905 - có hàng trăm nạn nhân. Chính chế độ của ông đã phạm các tội tàn sát trên sông Léna - 102 người chết. Với lại chẳng phải ngẫu nhiên mà Lénine vĩ đại đã đặt tên mình như vậy - ông muốn bằng cái bí danh ấy đả kích các tội ác chế độ Sa hoàng!

Tuy nhiên gây xúc động với tôi nhất, chẳng phải cái giọng hăng say đả kích kia. Một câu hỏi đầy hoang mang hiện ra trong đầu lúc giờ ra chơi, trong khi bọn học trò nhâu nhâu chế giễu tôi (“Xem kìa! lão có một vương miện, cái lão Sa hoàng này!” một đứa nắm tóc tôi kêu lên). Câu hỏi vẻ như thật đơn giản: “Ừ, tôi biết, đó là một bạo chúa khát máu, sách giáo khoa nói rồi. Nhưng ta làm gì đây với cái ngọn gió mát mang vị biển thổi trên sông Seine, với âm vang những câu thơ tỏa lan trong gió, tiếng sào sạo chiếc bay bằng vàng miết trên đá hoa cương - làm gì đây với cái ngày xa xôi ấy? Bởi vì tôi cảm nhận lại bầu không khí này mãnh liệt xiết bao.

Không, vấn đề với tôi không phải là khôi phục danh dự cho cái ông Nicolas đệ Nhị. Tôi tin ở cuốn sách giáo khoa, tin ông giáo. Nhưng còn cái ngày xa xôi ấy, ngọn gió ấy, cái không gian rạng rỡ ánh mặt trời ấy? Đầu tôi rối bời trong những suy nghĩ rời rạc nọ - nửa ý tưởng, nửa hình ảnh. Trong khi xua bọn bạn đang bíu quanh giễu cợt ầm ỹ, tự dưng tôi cảm thấy ghen tị ghê gớm với chúng: “Sung sướng thay khi không mang trong đầu mình cái ngày lộng gió ấy, cái quá khứ đậm đặc vẻ như vô dụng ấy. Ừ, chỉ một cách nhìn duy nhất thôi về cuộc sống. Không thấy như ta đang thấy…”

Cái ý tưởng cuối cùng này nó kỳ lạ đến mức tôi không chống lại cuộc tấn công của bọn chế giễu nữa và quay nhìn ra phía cửa sổ nơi thành phố trải dài phủ đầy tuyết. Ừ nhỉ, tôi thấy cách khác! Đó là một lợi thế chăng? Hay là một điều thiệt thòi, một tì vết? Không rõ. Tôi nghĩ có thể giải thích cách nhìn này bằng hai thứ ngôn ngữ mình dùng: đúng vậy, khi tôi phát âm tiếng Nga Bapb, một bạo chúa hiện ra trước mắt, trong khi tsar tiếng Pháp chứa đầy ánh sáng, âm thanh, gió, ánh đèn chùm lóng lánh, làn vai trần phụ nữ, mùi nước hoa hỗn hợp - đầy cái không khí Atlantide không gì sánh nổi. Tôi hiểu cần giấu đi cách nhìn về sự vật này, vì chỉ tổ gây thêm trò chế nhạo xung quanh.

Cái nghĩa bí mật của từ ngữ, sau đó, một lần nữa, hiện rõ trong một tình huống bi hài tương tự như cái lần bài học sử.

Tôi đi theo một dòng người rồng rắn dài vô tận trước một cửa hàng thực phẩm, dòng người này khi vượt qua ngưỡng cửa cuộn mình vào bên trong nhà. Chắc hẳn có một món hàng hiếm gì đó cho mùa đông - cam hoặc chỉ là táo thôi, chẳng nhớ. Tôi đã vượt qua cái ranh giới tâm lý quan trọng nhất của cuộc xếp hàng - chỗ ngưỡng cửa nơi hàng tá người phía ngoài đang bì bõm trong tuyết trộn bùn. Vào lúc ấy chị tôi đến đứng cạnh: hai người thì được mua hai khẩu phần phân phối.

Không hiểu có cái gì đột nhiên khiến đám đông giận dữ. Những người đứng sau chắc tưởng chị tôi định chen ngang - một tội không thể tha thứ! Những tiếng quát hằn học nổ ra, con rắn dài co lại, những bộ mặt hăm dọa vây quanh chúng tôi. Hai chúng tôi cố thanh minh chúng tôi là chị em. Nhưng đám đông có bao giờ chịu nhận là mình lầm lẫn. Những người chưa lọt qua ngưỡng cửa là những kẻ bực bội nhất hét toáng lên phẫn nộ, cũng chẳng còn biết nhằm vào ai. Và do vì bất cứ đám đông quần chúng nào đang vận động cũng thổi phồng quá đáng mục tiêu đầu một cách phi lý, chính là bản thân tôi lúc này bị tống cổ ra ngoài. Con rắn rùng mình, các bả vai gồng lên. Một cú thúc, và tôi thấy mình bị bật ra khỏi hàng, cạnh chị tôi, đối mặt với cái chuỗi ken sít những bộ mặt hằn học. Tôi cố chiếm lại chỗ, nhưng các cùi tay tạo thành một dãy khiên. Ngơ ngác, môi run bần bật, tôi đoán cả hai chị em chúng tôi lúc này rất dễ bị thất thế. Hơn tôi hai tuổi, chị suýt soát mười lăm, chưa có con chủ bài nào của người phụ nữ trẻ, lại đã mất những lợi thế tuổi thơ lẽ ra đã có thể làm mềm lòng cái đám đông sắt đá kia. Với tôi cũng vậy: tuổi mới mười hai rưỡi, tôi không thể làm dữ như mấy gã mười bốn mười lăm vốn cậy thói ngổ ngáo vô trách nhiệm của tuổi thanh xuân.

Chúng tôi đi men đám xếp hàng hy vọng được xếp ít ra cách vài mét chỗ bị mất. Nhưng các thân hình chen khít vào nhau khi chúng tôi đi qua nên chẳng mấy lúc chúng tôi bị lọt hẳn ra ngoài, trong bãi tuyết loãng. Mặc dù chị mậu dịch gọi ra: “Này, những ai đứng ngoài cửa đừng đợi nữa nhé, không còn đủ cho cả mọi người đâu!” người ta vẫn cứ dồn tôi.

Hai chị em đứng cuối hàng, như mê man đi trước cái quyền lực vô danh của đám đông. Tôi không dám ngước mắt, không dám cựa quậy, tay thọc sâu trong túi run rẩy. Và chợt nghe giọng nói chị tôi cứ như tới từ một hành tinh khác - mấy tiếng đượm một nỗi buồn rầu vui vui:

- Em có nhớ không: Bartavelles et ortolans truffés rôtis?[1]

Chị cười khe khẽ.

Còn tôi, khi nhìn gương mặt xanh xao của chị với đôi mắt phản chiếu bầu trời đông, tôi cảm thấy ngực mình tràn căng một làn không khí hoàn toàn mới - không khí Cherbourg - mang mùi vị sương mù mằn mặn, mùi vị những viên sỏi ướt đẫm trên bãi biển, và tiếng kêu lảnh lót của những con hải âu mênh mông biển cả. Tôi đứng một lát như thằng mù. Đám xếp hàng tiến dần từ từ đẩy tôi về phía cửa ra vào. Tôi để mặc cho họ xô đẩy, không rời bỏ cái giây phút rực sáng đang bừng nở trong tôi.

Đa đa đỏ và chim sẻ vườn… Tôi mỉm cười và nháy mắt kín đáo về phía chị tôi.

Không, chúng tôi không cảm thấy cao hơn đám người đang chen chúc. Chúng tôi giống họ, dễ thường còn sống xoàng xĩnh hơn nhiều người trong đám. Tất thảy chúng ta thuộc cùng một giai cấp: giai cấp những kẻ đang bì bõm trong làn tuyết bị dẫm xéo giữa một thành phố công nghiệp lớn, trước cửa một nhà hàng, mong chất đầy túi hai cân cam.

Thế nhưng, khi nghe mấy cái tiếng thần diệu kia, được biết qua bữa tiệc ở Cherbourg, tôi cảm thấy là mình khác họ, chẳng phải vì tôi uyên bác gì hơn (dạo ấy tôi chưa hiểu những cái bartavelle và ortolan cừ khôi nọ mặt mũi nó thế nào). Đơn giản là cái giây phút chợt đến trong tôi - với những luồng ánh sáng mù sương và mùi biển mặn của nó - đã khiến cho mọi cái quanh mình đều trở thành tương đối: cái thành phố này với vóc dáng rất Staline, cảnh chờ đợi căng thẳng này và thói dữ dằn cùn bướng của đám đông. Thay vì nổi giận với những kẻ đã gạt đẩy mình, giờ đây tôi cảm thấy một niềm thương hại lạ lùng đối với họ: họ không thể nheo mắt mà thâm nhập được vào cái ngày đầy những vị rong rêu man mát, những tiếng chim hải âu, ánh mặt trời mây phủ kia… Tôi bỗng nẩy ý muốn lạ kỳ nói điều này ra cho tất cả mọi người. Nhưng nói thế này đây? Tôi phải phát minh ra một ngôn ngữ chưa hề có mà lúc này mình cũng chỉ mới biết có hai từ đầu tiên: Bartavelle và Ortolan…

❀ ❀ ❀

[1] Món ăn sáng sang trọng trong thực đơn chiêu đãi nhà vua Nga: Đa đa đỏ và chim sẻ vườn nhồi nấm quay.

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.