Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

2

- Cả đến ông Tổng thống cũng phải ăn thức ăn nguội!

Đó là câu nói thoạt tiên vang lên giữa thủ đo cái nước Pháp Atlantide của chúng tôi. Chúng tôi hình dung một ông già đáng kính gương mặt vừa giống vẻ chững chạc cao quý của cụ cố Norbert chúng tôi vừa đượm cái oai vệ kiểu hoàng đế Ai Cập cổ xưa của Staline một ông già râu bạc, ngồi bên bàn dưới ánh sáng rầu rĩ ngọn nến.

Tin này được mang đến do cái người đàn ông trạc bốn mươi, mắt linh lợi, dáng vẻ tự tin, xuất hiện trên các bức ảnh trong những an bom cũ nhất của bà ngoại. Đi thuyền tới cạnh một toàn nhà, ông ta bắc thang trèo lên cửa sổ tầng hai. Đó là Vincent, cậu của bà Charlotte, phóng viên tờ Excelsior.Từ khi bắt đầu xẩy ngập lụt, ông ta ngang dọc các đường phố thủ đo săn sự kiện nổi bật trong ngày. Bữa ăn nguội của Tổng thống là một trong số đó. Chính là từ chiếc thuyền của Vincent mà bức ảnh ngộ nghĩnh của chúng tôi nhìn thấy trong một mảnh báo vàng ệnh đã được chụp: ba người đàn ông trong một chiếc thuyền mỏng manh trên khoảng nước mênh mông vây bọc các ngôi nhà. Chú thích ghi: “ Ba nghị sĩ đi họp Quốc hội”

Vincent leo qua bậu cửa sổ nhảy vào vòng tay cô chị Albertine vào cháu Charlotte, hai mẹ con đang trú tại nhà ông lúc đến Paris… Đảo Atlantide, trước đây vắng lặng, lúc này đầy ắp âm thanh, xúc cảm, chuyện trò. Mỗi chiều tối, những câu chuyện kể của bà chúng tôi giải phóng một mảnh của cái thế giới đã bị thời gian nhấn chìm kia.

Rồi lại có cái kho báu rất kín kia nữa. Cái chiếc va li đầy những giấy má cũ mà mỗi khi mạo hiểm bò vào gầm giường bà Charlotte, cái mảng to bè của nó khiến chúng tôi đâm hồi hộp. Chúng tôi vặn ô khóa, mở nắp. Bao nhiêu giấy tờ linh tinh bề bộn! Cuộc sống người lớn, trong tất cả vẻ buồn chán và nghiêm chỉnh đáng ngờ của nó, khiến chúng tôi nghít thở vì mùi hấp hơi và bụi bặm… Làm sao mong được là giữa mớ báo cũ, giữa mớ thư từ của bà để những ngày tháng khó mà tưởng tượng nổi, chỉ ít tìm ra được bức ảnh ba ông nghị sĩ ngồi trong thuyền?

Chính ông Vincent đã truyền cho Charlotte cái thú đọc các bài phóng sự kia và khuyến khích cháu sưu tập chúng bằng cách cất trong báo các hình ảnh phù du của thực tế kia. Chắc ông nghĩ, với thời gian chúng sẽ càng nổi bật nét riêng đặc sắc, như các đồng hào bạc đượm lớp hoen qua các thế kỷ vậy.

Trong một chiều mùa hạ đầy ắp hương thơm đồng nội, câu chuyện của một khách qua đường dưới ban công lôi chúng tôi ra khỏi cơn mơ mộng.

- Mình thề với cậu, người ta đã nó ở đài mà! Ông ấy đã đi ra ngoài không gian.

Và tiếng người khác, giọng hoài nghi, vừa đi xa vừa đáp:

- Cậu tưởng mình là thằng ngốc hay sao? “Ông ấy đã đi ra…” Nhưng trên ấy, thì có gì để mà đi ra kia chứ. Nói thế bằng như nhảy từ máy bay không dù.

Cuộc tranh cãi này đưa chúng tôi trở về với thực tế. Quanh chúng tôi trải rộng cái vương quốc nga to lớn phi thường, đặc biệt kiêu hãnh về công cuộc thám hiểm cái bầu trời vô cùng tận trên đầu chúng tôi. Một vương quốc với quân đội hùng mạnh ghê gớm, những tàu nguyên tử phá băng xẻ dọc ngang Bắc cực, những xí nghiệp chẳng bao lâu nữa sẽ sản xuất một lượng thép bằng tất cả các nước trên thế giới gộp lại, những đồng lúa mì lượn sóng từ Biển Đen đến Thái Bình Dương… Với cánh đồng thảo nguyên kia kéo dài vô tận…

Và trên chiếc ban công này, một phụ nữ Pháp nói với chúng tôi về chiếc thuyền đi ngang qua một thành phố lớn ngập lụt ghé bên bức tường một tòa nhà… Chúng tôi cựa mình có hiểu xem mình đang ở đâu. Đây ư? Hay ở đó? Trong tai chúng tôi tắt ngấm tiếng lao xao của sóng.

Không, chẳng phải lần đầu chúng tôi cảm nhận sự phân thân kia trong đời mình. Sống cạnh bà chúng tôi đã có nghĩa là cảm thấy sống ở nơi xa. Bà đi qua sân mà không bao giờ ghé ngồi ở ghế băng các bà giác Nga, cái thiết chế mà không có nó sân Nga không thể hình dung được. Điều này không hề ngăn bà chào hỏi các bà kia rất thân tình, thăm hỏi sức khỏe một bà mấy hôm rồi chưa gặp, hoặc giúp họ chút đỉnh bằng cách mách bảo, chẳng hạn, cách khử vị chớm chua ở nấm sữa mặn… Nhưng trong khi nói với họ những lời nhã nhặn, bà vẫn đứng… Và các bà già thích chuyện trò trong sân chấp nhận thái độ khác biệt ấy. Mọi người hiểu là bà Charlotte chẳng phải hoàn toàn một babouchka[1].

Điều này không có nghĩa bà sống cách biệt với mọi người hoặc bà vâng theo một thành kiến xã hội nào đó. Mỗi sáng sớm, đôi khi chúng tôi bị bứt khỏi giấc ngủ trẻ thơ bởi một tiếng gọi lảnh lói vang giữa sân:

- Ra nhận sữa nào!

Xuyên qua giấc ngủ, chúng tôi nhận ra tiếng và nhất là giọng điệu của Avdotia, chị bán sữa đến từ làng bên. Các bà nội trợ xách bi đông chạy tới cạnh hai chiếc thùng to tướng bằng nhôm do chị nông dân to khỏe tuổi khoảng năm mươi này chở từ nhà này sang nhà nọ. Một hôm, bị tiếng gọi đánh thức, tôi không ngủ lại được… Tôi nghe tiếng dập cửa và những giọng thầm thì lọt vào phòng ăn. Lát sau một tiếng đàn bà khẽ thốt giọng buông thả khoan khoái:

- Ôi bà Choura, nhà bà mới thích làm sao! Cứ như nằm trên mây ấy…

Nghe vậy tôi đâm tò mò, liếc nhìn sau tấm màn ngăn căn phòng. Chị Avdotia, nằm dài trên sàn, chân tay dang rộng, mắt lim dim. Tất cả con người chị - cặp chân trần đầy bụi, cho đến cả mái tóc rải xòa trên đất đang nằm xoài nghỉ ngơi hết sức thoải mái. Một nụ cười lơ đãng phảng phất trên cặp môi hé.

- Ôi nhà bà mới thích làm sao, bà Choura! Chị khẽ lặp lại, gọi bà tôi bằng tên tắt thường là thay cho cái tên họ khó nhớ.

Tôi đoán vẻ mệt mỏi của cái thân hình đàn bà to lớn ngã nhoài giữa phòng ăn. Tôi hiểu chị Avdotia tự cho phép buông thả như vậy chỉ là ở trong buồng bà tôi. Vì tin chắc không bị mắng mỏ hoặc khinh thường… Chị vừa làm xong nhiệm vụ hàng ngay, lưng còng dưới sức nặng những cái thùng to tướng. Và khi đã giao xong sữa, chị lên phòng “bà Choura”, chân liệt bại, cánh tay nặng chịch. Sàn ván luôn luôn sạch sẽ, để trần, vẫn còn giữ cái mát mẻ ban mai dễ chịu. Avdotia bước vào, chào bà tôi, và tụt đôi giày to kềnh, nằm lăn ngay trên đất. “Choura” mang đến cho chị cốc nước, ngồi cạnh chị trên chiếc ghế đẩu. Và hai người dịu dàng trò chuyện với nhau trước khi Avdotia lấy lại được can đảm lên đường.

Hôm ấy tôi nghe lời bà tôi nói với chị bán sữa mệt lả đang nằm choài khoan khoái. Hai người phụ nữ trao đổi với nhau chuyện đồng áng, chuyện thu hoạch lúa kiều mạch… Và tôi thật kinh ngạc khi nghe bà Charlotte nói về cảnh sống nông thông rất đỗi thông thạo. Nhưng đặc biệt tiếng Nga của bà, luôn luôn rất trong trẻo, rất tinh tế, chẳng tương phản tẹo nào với ngôn ngữ đậm đà, sù sì và đầy hình ảnh của chị Avdotia. Cuộc trò chuyện cũng nhắc đến chiến tranh, cái đề tài không thể tránh: chồng chị bán sữa chết ở mặt trận. Gặt hái, lùa kiều mạch, Stalingrad… Thế mà tối nay, bà lại sắp nói với chúng tôi về Paris ngập lụt hoặc đọc vài trang truyện Hector Malot cơ đấy! Tôi cảm thấy một quá khứ xa xôi, mờ tối lần này là quá khứ Nga thức dậy trong chiều sâu cuộc sống xưa cũ của bà.

Chị Avdotia đứng dậy, ôm hôn bà tôi và lại ra đi trên con đường dẫn chị xuyên qua các cánh đồng vô tận, dưới mặt trời thảo nguyên, trên chiếc xe ngựa chở hàng chìm lấp trong đại dương có cao và hoa đồng nội. Lần này khi chị đi ra, tôi thấy chị đưa những ngón tay nông dân to bậm với vẻ rụt rè thận trọng sờ lên bức tượng xinh xắn trên tủ thấp cạnh cửa ra vào: một nữ thần sông núi thân mình óng ả với nhiều dây leo quấn quýt, cái bức tượng bé thời đầu thế kỷ, một trong những di vật quý báu hiếm hoi được bảo tồn như nhờ phép lạ.

Điều này nói ra thật kỳ lạ, nhưng chính nhờ cái lão say rượu địa phương Gavrilytch mà chúng tôi khám phá ra ý nghĩa của cái “nơi khác” riêng biệt khác thường bà tôi vốn thường ấp ủ. Đó là một người mà chỉ nhác thấy cái bóng dáng lão loạng choạng đột nhiên xuất hiện sau rặng phong ngoài sân ai nấy đã đâm hốt. Một người thách thức cảnh sát bằng cách làm tắc nghẽn giao thông nơi đường cái lớn với kiểu đi ngùng ngoằng chữ chi, một người chuyên gây gổ quát tháo với các nhà chức trách, chửi rủa ầm ầm như sấm làm rung cửa kính và quét tất thảy các bà già khỏi ghế băng. Vậy mà chính cái lão Gavrilytch ấy hễ giáp mặt bà tôi liền đứng lại, cố hít vào cái hơi thở sặc mùi vốt ca và nói từng tiếng với một vẻ trọng vọng đặc biệt:

- Chào bà ạ, bà Charlotte Norbertovna!

Vâng, lão là người duy nhất trong sân gọi bà bằng cái tên tục Pháp, quả có Nga đi ít nhiều. Không những thế, lão lại còn nhớ được, chẳng rõ từ bao giờ và cách thế nào, tên ông cụ của Charlotte và lão pha chế thành cái tên họ ngoại lai “Norbertovna” cực điểm của sự lễ độ và vồn vã ân cần trên miệng lão. Cặp mắt mờ đục rạng lên, cái thân hình khổng lồ lấy lại được thăng bằng tương đối, đầu gật gật lia lịa có hơi hỗn độn, và lão vắt cái lưỡi ngâm trong rượu thực hiện trò nhào lộn bằng âm thanh này:

- Bà khỏe chứ, thừa bà Charlota Norbertovna?

Bà tôi chào đáp lại, thậm chí còn trao đổi với lão vài lời không phải không mang ẩn ý khuyên răn. Sân nhà vào lúc ấy có một vẻ mặt rất kỳ lạ: các bà già bị cuộc bước lên sân khấu giông bão của lão say xua đuổi, lách vào bậc cấp ngôi nhà gỗ lớn đối diện với toàn nhà chúng tôi, bọn trẻ thì nấp sau các gốc cây, trong các cửa sổ người ta nom thấy những gương mặt nửa tò mò, nửa khiếp sợ. Và trên trường đấu, bà chúng tôi tranh luận với một Gavrilytch đã thuần hóa. Và lại lão vốn không phải thằng ngu xuẩn

Từ lâu lão đã hiểu vai trò của lão vượt lên trên sự say nhà và đôi co ầm ĩ. Lão cảm thấy như thế mình cần thiết cho sự an lạc tinh thần trong sân. Gavrilytch đã thành một nhân vật, một kiểu người, một hiện tượng kỳ lạ - kẻ phát ngôn của cái số phận bất trắc, ngông cuồng, thứ niềm tin xiết bao da diết với tâm tình Nga. Thế rồi đột nhiên, xuất hiện người phụ nữ Pháp kia, với ánh nhìn trầm tĩnh trong cặp mắt xám, váy áo giản dị nhưng thanh lịch, thân hình mảnh dẻ khác hẳn các bà cùng tuổi, cái đám bà già mà lão ta vừa xua khỏi sào đậu.

Một hôm, muốn nói với Charlotte một điều gì khác hơn câu chào đơn giản, lão húng hắng ho trong nắm tay to che miệng và lầm bầm:

- Thế đấy bà Charlota Norbertovna, ở đây bà thật là đơn độc giữa cái thảo nguyên của chúng tôi.

Chính nhờ câu nói vụng về ấy mà tôi có thể hình dung (điều mà đến giờ tôi chưa hề làm) cảnh bà ngoại khi không có chúng tôi, vào mùa đông, một thân một mình trong phòng.

Giá như ở Matxcơva hoặc Lêningrát, mọi sự sẽ diễn ra khác đi. Cảnh đám đông hỗn tạp thành phố lớn sẽ đang về ở tại cái thành phố của Charlotte.

Nhưng bà lại đang về ở tại cái thành phố Saranza nhỏ bé này, nơi lý tưởng để sống những chuỗi ngày giống hệt nhau. Cuộc đời dĩ vãng của bà hiện về mãnh liệt, cứ như vừa mới hôm qua.

Saranza là vậy; vẻ sững sờ trong niềm kính ngạc sâu xa nơi rìa thảo nguyên trước cái vô tận trải ra trước mặt. Những ngả đường dốc cong, bụi bặm, không ngớt leo lên các ngọn đồi, những hàng rào gỗ dưới màu xanh vườn tược. Ông mặt trời. Những cảnh vật ngái ngủ. Những khách đi đường đột nhiên xuất hiện ở một đầu phố tưởng như đi mãi đi mãi vẫn không tới được ngang tầm bạn.

Nhà bà tôi ở ven thành phố, tại một khu gọi là “Rừng thưa Phía Tây”: một sự trùng hợp như vậy (Phía Tây Châu Âu Pháp) khiến chúng tôi rất thích thú. Toàn nhà ba tầng kia xây vào những năm mà theo dự án của ông thị trưởng nhiều tham vọng, sẽ mở đầu cho việc kẻ một đại lộ mang dấu ấn phong cách hiện đại.

Phải, toàn nhà là một phiên bản mơ hồ mốt đầu thế kỷ. Có thể nói tất cả các khúc quanh, dáng uống, nét cong của kiến trúc này tuôn chảy mô phỏng theo cái nguồn châu Âu, thế rồi suy yếu đi, phần nào bị gạch xóa, đã tới được nơi xa nôi tận cùng nước Nga này. Và trong gió gá rét thảo nguyên, sự tuôn chảy ấy đã đông cứng thành những cửa sổ mắt bò bầu dục kỳ quặc, những nét trang trí dây hoa hồng bao quanh lối vào... Dự án của ông thị trưởng sáng suốt bị thất bại. Cách mạng Tháng Mười đã chấm dứt hẳn các khuynh hướng suy đồi của thứ nghệ thuật tư sản kia. Và tòa nhà này một phần nhỏ của đại lộ mơ ước thành ra độc nhất trong thể loại. Vả chăng, sau nhiều lần sửa chữa, nó chỉ còn giữ cái bóng của phong cách buổi đầu. Chính cái chiến dịch do chính quyền phát động “chống những cái thừa thãi về kiến trúc (đang bé tí chúng tôi được chứng kiến việc này) đã đánh đòn chí mạng đối với nó. Mọi cái đều xem như “thừa thãi”: thợ vứt bỏ các nhành hoa hồng, bít các cửa sổ mắt bò... Và do bao giờ cũng có những kẻ muốn tỏ ra hăng hái (quả nhờ những người này mà các chiến dịch thành công thực sự), ông láng giềng tầng dưới ra sức rút bỏ khỏi tường cái dư thừa kiến trúc hiển nhiên nhất: hai khuôn mặt cô tiên dâng rượu xinh đẹp buồn rầu mỉm cười với nhau bên này bên kia chiếc ban công nhà bà chúng tôi. Muốn đạt được điều đó, ông ta phải thực hiện những kỳ công rất nguy hiểm, đứng cheo leo trên bậu cửa sổ phòng mình tây cầm một dụng cụ dài bằng thép. Hai khuôn mặt lần lượt tách khỏi tường rơi xuống. Một khuôn rơi xuống đường nhựa vỡ vụn, khuôn kia rơi theo kiểu khác, lún vào đám thược dược rậm rì nên bớt va đập. Đêm xuống, chúng tôi nhặt đưa vào nhà. Từ đó, suốt những đêm hè dài, trên ban công, khuôn mặt đá với nụ cười héo hon và cặp mắt dịu dàng của nó nhìn chúng tôi giữa các chậu hoa và có vẻ như lắng nghe những câu chuyện kể của bà Charlotte.

Phía bên kia sân rợp tán lá bồ đề và cây phong sừng sững một ngôi nhà lớn bằng gỗ hai tầng, đen sạm màu thời gian, với những ô cửa sổ tối tắm vẻ đa nghi. Chính nhà này và những nhà tương tự là cái mà ông thị trưởng muốn xóa bỏ dưới ánh sáng diễm kiều của phong cách hiện đại. Trong ngôi nhà xây từ hai thế kỷ này đang sinh sống các bà già dân dã nhất, đi thẳng từ truyện cổ tích ra với những chiếc khăn quàng dày, những gương mặt tái mét chết chóc, những bàn tay xương xẩu gần như màu xanh đặt nằm trên đầu gối. Đôi khi có dịp đi vào cái ngôi nhà tối tăm kia, tôi thấy nghèn nghẹt trong cổ họng vì cái mùi hăng hằng đậm đặc nhưng không hẳn là khó chịu ngưng đọng trong cách hành lang bộn bề đồ đạc. Đó là cái mùi của cuộc sống xưa cũ tăm tối và rất cổ sơ trong cách thức riêng của nó đón nhận cái chết, sự sinh nở, tình yêu, niềm đau khổ. Một thứ không khí nặng nề, nhưng đầy sức sống kỳ lạ, nói cho cùng là thứ không khí duy nhất có thể thích hợp với các cư dân ngôi nhà gỗ này. Cái hơi thở Nga Bước vào phía trong, chúng tôi ngạc nhiên thấy cơ man cánh cửa ra vào không đối xứng dẫn vào những căn phòng đắm trong bóng mờ mờ như khói. Tôi cảm thấy, gần như một cảm giác vật chất, cái mật độ thân thể của những cuộc đời xen kẽ lẫn nhau nơi đây. Lão Gavrilytch sống dưới tầng hầm có ba gia đình nữa ở chung. Cửa sổ bé phòng lão nằm ngang mặt đất và cứ xuân đến lại bị cỏ hoang trùm lấp. Các bà già ngồi trên ghế băng cách đấy dăm mét, chốc chốc liếc nhìn lo lắng không hiếm lần họ trông thấy qua cửa sổ mở cái gương mặt to bạnh của lão “ba bửa”. Đầu lão như trồi từ mặt đấy. Nhưng vào những giây lát trầm tư ấy, bao giờ lão cũng yên lặng. Lão ngửa ngật mặt như thế muốn ngắm bầu trời và ánh chiều giữa các cành lá... Một hôm leo lên tận gác xép ngôi nha gỗ màu đen ấy, dưới chiếc mái bị mặt trời hun nóng, chúng tôi đẩy cái cánh cửa sập. Phía chân trời, một cơn hỏa hoạn ghê gớm hừng hừng đốt cháy đồng cỏ, trong chốc lát khói bốc mù che kín mặt trời.

Rốt cuộc cách mạng chỉ tạo được một cách tân duy nhất trong cái góc yên tĩnh của Saranza này. Ngồi nhà thờ ở một đầu mút sân bị xén mất vòm mái. Người ta cũng khiêng đi bức bình phong tranh thánh và thay vào đó một khung vuông lụa trắng lớn làm màn ảnh khâu bằng những ri đô trưng thu trong một căn phòng tư sản của toàn nhà “suy đồi”. Rạp chiếu bóng Chiến lũy sẵn sàng đón các khán giả đầu tiên...

Vâng, bà chúng tôi chính là người phụ nữ có thể chuyện trò yên ổn với Gavrilytch, người phụ nữ chống đối lại mọi chiến dịch và một hôm nói với chúng tôi về rạp chiếu bóng, vừa nói vừa kèm cái nháy mắt: “Cái nhà thờ cụt đầu...” Và chúng tôi cũng đã từng nom thấy phía trên cái phần xây thấp bè (xưa kia thế nào chúng tôi không rõ), mọc lên cái dáng cao dong dỏng của một vòm bát úp và một cây thánh giá.

Chính những dấu hiệu cỏn con như vậy khiến chúng tôi nhận ra sự khác biệt của bà ngoại hơn là cách ăn mặc hoặc dáng ngoài của bà. Còn tiếng Pháp, chúng tôi coi nó như là một thứ phương ngữ gia đình. Suy cho cùng thì mỗi nhà đều có những tật nói năng, những thói riêng ngôn ngữ và những cách gọi biệt danh không bao giờ ra khỏi ngưỡng cửa, nó là thứ tiếng lóng thân mật gia đình.

Hình ảnh về bà ngoại được dệt bằng những nét lạ thường vô hại như vậy đó độc đáo dưới mắt một số người, với những ai khác coi như lố lắng. Cho đến cái ngày một hòn cuội nhỏ đầy vệt gỉ khiến trào lên lóng lánh những giọt lệ trên mi bà, và tiếng Pháp, thổ ngữ gia đình chúng tôi, nhờ cái thần diệu âm thanh của nó, làm xuất hiện từ những làn nước đen náo động một thành phố huyền ảo đang dần dà trở về với sự sống.

Từ một mệnh phụ gốc gác mờ mịt không thuộc Nga, Charlotte đêm hôm ấy biến thành sứ giá của cái Atlantide bị thời gian chìm ngập.

❀ ❀ ❀

[1] Bà già Nga

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.