Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

4

Những người trẻ sắp cưới trước ngày kết hôn, hoặc những người vừa dọn đến nhà mới, hẳn cảm thấy mối vui nhận thấy cái thường ngày đã biến mất. Mấy ngày lễ cưới rộn rịp hoặc cảnh bề bộn đầy thích thú lo sắp xếp nhà mới sẽ còn lưu lại mãi trong trí, làm thành cái chất liệu cốt tử, nhẹ nhàng và hớn hở, của cuộc sống bản thân.

Tôi sống trong tâm trạng hào hứng say sưa như vậy những tuần cuối chờ đợi. Rời chiếc phòng nhỏ, tôi thuê một căn hộ mà biết chỉ có thể có tiền trả khoảng bốn năm tháng nữa. Điều này chẳng làm tôi quan tâm. Từ căn phòng nơi bà Charlotte sẽ đến ở có thể nhìn thấy các mái nhà màu xanh xám trải rộng phản chiếu bầu trời tháng tư… Tôi đi vay chỗ này chỗ nọ sắm bàn ghế, màu cửa, thảm trải nhà và tất cả các thứ dụng cụ linh tinh mà trước đây tôi bất cần lúc ở nơi cũ. Vả chăng căn phòng vẫn còn trống, tôi ngủ trên nệm. Chỉ có cái buồng bà tôi sắp về ở giờ đây mới có vẻ tươm tất phần nào.

Tháng năm càng tới gần thì cái tâm trạng hồ hởi chẳng chút âu lo, cái cơn điên tiêu pha càng tăng. Tôi đến các nhà buôn đồ cũ mua những đồ vặt vãnh theo tôi sẽ tạo thêm linh hồn cho căn buồng vẻ như quá tầm thường. Trong tiệm đồ cổ, tôi nom thấy một cây đèn bàn, ông chủ thắp lên cho tôi xem thử, tôi hình dung gương mặt bà Charlotte dưới ánh chao đèn. Tôi không thể đi ra mà không có cây đèn này. Tôi chất lên kệ những cuốn sách gáy da, những họa báo đầu thế kỷ. Mỗi tối, trên chiếc bàn tròn giữa gian buồng đã được trang trí, tôi dàn bày chiến lợi phẩm: nửa tá cốc, một chiếc đàn ống cũ, một tập bưu ảnh cổ xưa…

Tôi hoài công tự nhủ là bà Charlotte sẽ chẳng bao giờ chịu xa cách lâu ngày Saranza nhất là phần mộ ông Fidor, vả chăng bà cũng sẽ thoải mái trong buồng khách sạn hơn là trong cái nhà bảo tàng ứng tác này, tôi cứ vẫn không ngừng mua sắm, hoàn chỉnh. Vì là con người ta, mặc dù am hiểu sự thần diệu của trí nhớ, am hiểu nghệ thuật tái tạo một khoảnh khắc đã biến mất, vẫn cứ gắn bó với những vật thờ sờ mó được của quá khứ! Cũng như người làm ảo thuật đã được Chúa truyền cho phép thần thông biến hóa, vẫn tin cậy hơn vào tài khéo léo bàn tay và chiếc hòm hai đáy có lợi thế là không phá rối giác quan của mình.

Và điều thần diệu thực sự, tôi biết, sẽ biểu lộ ra trong ánh biêng biếc các mái nhà, trong vẻ mảnh mai thanh thoát các đường nét phố phường ngoài kia cửa sổ mà bà Charlotte sẽ mở sáng tinh mơ sau hôm bà đến. Và trong âm thanh lanh lảnh những câu tiếng Pháp đầu tiên bà trao đổi đối với ai đó ở một góc phố…

Vào một trong những đêm cuối thời kỳ chờ đợi, tôi bất chợt thấy mình đang cầu nguyện… Không, chẳng phải một bài kinh cầu nguyện đúng kiểu, đúng phép tắc. Tôi chẳng hề học một bài nào, do từng sống dưới ánh sáng giải ngộ của một chủ nghĩa vô thần đượm tính chiến đấu hầu như nhiễm màu tôn giáo trong cuộc viễn chinh bền bỉ chống Chúa trời. Không, đây là một kiểu cầu xin tài tử vu vơ hướng tới một đấng vô danh nào đó. Bắt quả tang mình đang làm cái hành động khác thường này, tôi vội tự cười nhạo. Tôi nghĩ, chiều theo thái độ báng bổ thời qua, tôi đã có thể kêu lên như anh chàng thủy thủ trong một truyện ngắn của Voltaire: “Tôi đã bước bốn lần lên cây thánh giá trong bốn chuyến đi Nhật Bản!” Tôi tự cho là kẻ nghịch đạo, kẻ thờ thần tượng. Nhưng những câu diễu cợt không ngăn được lời thì thầm mơ hồ trong bụng. Giọng của nó có gì hơi trẻ con. Cứ như thể tôi đề xuất với người đối thoại vô danh một giao kèo: tôi chỉ còn sống hai mươi năm ư, mười lăm năm ư, tốt thôi, thậm chí chỉ mười năm, cốt nhất là cuộc gặp gỡ này, những giây phút tìm thấy nhau lại này sẽ thành hiện thực…

Tôi đứng dậy, đẩy cửa phòng bên cạnh. Trong bóng mờ đêm mùa xuân, gian phòng như đang thức, đang âm thầm chờ đợi. Cả đến chiếc quạt, thực ra mới mua cách vài hôm, dường như cũng đã ở trên chiếc bàn thấp này từ bao năm, trong ánh mờ cửa kính.

Đó là một ngày hạnh phúc. Một trong những ngày biếng nhác màu xám lạc vào giữa những lễ hội đầu thánh năm. Buổi sáng, tôi đóng lên tường phía cửa ra vào một chiếc mắc áo to. Người ta có thể treo lên đó ít ra một chục áo. Thậm chí tôi cũng không tự hỏi là sang hè có cần đến nó không.

Cửa sổ buồng bà Charlotte vẫn để mở. Lúc này, giữa những khung mái nhà óng ánh bạc, thấy thấp thoáng những mảng sáng cành lá mới.

Sáng nay tôi viết thêm một đoạn ngắn cho sổ “ghi chép”. Tôi nhớ có một hôm, ở Saranza bà Charlotte có kể về những ngày sống ở Paris sau Đại chiến. Bà kể là cái thời hậu chiến này, mà chẳng ai ngờ chỉ là thời giữa hai chiến tranh, trong không khí có cái gì hoàn toàn giả tạo. Một cái vui mừng hớn hở giả, một sự lãng quên quá dễ dàng. Làm bà nhớ lại một cách kỳ quặc những lời quảng cáo đọc trong báo chí thời chiến: “Hãy sưởi ấm mà không cần than!”. Kèm theo lời giải thích là sử dụng các “cục giấy”. Hoặc nữa: “Hỡi các bà nội trợ, hãy giặt giũ mà không cần đun nước!” thậm chí: “Các bà nội trợ, hãy tiết kiệm: Món thịt bò hầm mà không cần lửa!”… Charlotte hy vọng là khi trở về cùng với bà Albertine mà bà đi gặp ở Xibêri, cả hai sẽ tìm thấy lại nước Pháp thời trước chiến tranh…

Khi ghi lại mấy dòng này, tôi nghĩ là sắp sửa có dịp đặt bao nhiêu câu hỏi cho bà Charlotte, tìm hiểu bao nhiêu tình tiết, chẳng hạn, ông đàn ông mặc áo dài hẹp tà trong một bức ảnh gia đình là ông nào, và vì sao một nửa bức ảnh đã bị cắt đi cẩn thận. Còn người đàn bà kia là ai, cái bà mặc áo bông mà sự hiện diện vào Thời đại Tao nhã khiến tôi ngày xưa lấy làm lạ.

Một buổi xế trưa khi đi khỏi nhà tôi thấy chiếc phong bì này trong hộp thư. Màu vàng sáng, nó mang tiêu đề Sở Cảnh sát. Đứng giữa vỉa hè, tôi xé lóng ngóng và mở rất lâu.

Mắt hiểu nhanh hơn trí óc, nhất là khi đó là một tin mới mà trí óc không muốn hiểu. Trong một phút giây phân vân ngắn ngủi, luồng nhìn cố đập tan chuỗi dài cay nghiệt từ ngữ, cứ như nó có thể thay đổi nội dung bức thư trước khi trí nghĩ nắm được ý nghĩa của nó.

Các con chữ nhảy nhót trước mắt tôi, bắn lỗ chỗ vào tôi bằng những từ, những mẫu câu. Rồi cái từ cốt yếu, in bằng con chữ đậm tách rời nhau như để dằn từng âm tiết, nặng nề nhất mạnh: KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN. Và trộn lẫn với nhịp đập mạch máu bên thái dương, những công thức giải thích tiếp vào: “Tình thế của ông không đáp ứng…”, “thực vậy ông không hội đủ…” Tôi đứng lặng không động đậy ít ra một khắc đồng hồ, mắt nhìn trân trân vào lá thư. Cuối cùng tôi đi về phía trước mà chẳng còn nhớ định đi đâu.

Lúc bấy giờ tôi chưa nghĩ đến bà Charlotte. Điều khiến tôi đau khổ trong những phút đầu tiên này là nhớ lại lần đi khám sức khỏe chỗ bác sĩ: vâng, cái cúi mình phi lý đến tận đất và kiểu hăng hái của tôi lúc này tôi cảm thấy vừa vô ích vừa nhục nhã.

Chỉ lúc về đến nhà tôi mới ý thức thật rõ về điều xảy ra cho tôi. Tôi treo áo vét vào mắc áo. Sau cánh cửa đằng cuối, tôi thấy căn buồng bà Charlotte… Vậy là chẳng phải Thời gian (Ôi cần phải dè chừng biết bao các thứ chữ hoa!) có nguy cơ làm hỏng dự kiến của tôi, mà là sự quyết định của anh viên chức bình thường kia bằng vài ba câu trên một tờ giấy đánh máy. Một người mà tôi sẽ không bao giờ biết, anh ta cũng chỉ biết tôi qua bản khai điền câu trả lời. Quả thực lẽ ra tôi phải hướng những lời cầu nguyện tài tử tới anh ta…

Ngay hôm sau một gửi đi một lá đơn xin xét lại. Chưa bao giờ tôi viết một bức thư cá nhân có tính giả dối đến thế, vừa kiêu kỳ một cách ngờ nghệch lại vừa quỵ lụy cầu xin.

Tôi chẳng còn chú ý chuyện ngày tháng trôi đi. Tháng năm, tháng sáu, tháng bảy. Có cái căn phòng kia mà tôi choán đầy những đồ vật và cảm giác xưa cũ, có cái bảo tàng mà tôi là kẻ bảo quản vô dụng. Và sự vắng mặt của người tôi đang chờ đợi. Còn cuốn “ghi chép” tôi chẳng viết thêm một câu nào từ hôm bị khước từ. Tôi biết rằng chính nội dung bản thảo này lệ thuộc vào sự gặp gỡ giữa hai bà cháu mà dù sao tôi vẫn hy vọng là có thể xảy ra.

Và suốt mấy tháng ấy tôi mơ thấy cảnh chiêm bao duy nhất cứ khiến tôi tỉnh giấc giữa đêm khuya. Một người đàn bà khoác áo măng tô màu sẫm đi vào một thành phố biên giới vào một buổi sáng tĩnh lặng.

Đây là một trò chơi cũ. Người ta chọn một tính từ diễn tả một tính cách cực đoan: chẳng hạn “thảm hại”. Rồi tôi tìm một từ đồng nghĩa rất gần, biểu hiện cùng một tính cách nhưng hơi nhẹ hơn, ví dụ “ghê tởm”. Từ tiếp theo nhắc lại nhưng yếu hơn chút nữa: “tệ hại”. Và cứ thế lần xuống một bậc trong các tính cách nêu lên: “nặng nề”, “không chịu nổi”, “khó chịu”… Để cuối cùng đến “xấu xa” thế rồi qua “tầm thường”, “trung bình”, trở lần lên với “khá”, “vừa ý”, “tốt”. Và sau mươi từ nữa, đạt đến “đặc biệt”, “tuyệt vời”.

Những tin tức tôi nhận được từ Saranza đầu tháng tám hẳn đã đi theo kiểu thay đổi tương tự. Vì là lúc đầu được gửi tới cho Alex Bond (anh ta đã để lại cho bà Charlotte số điện thoại ở Mạc Tư Khoa), những tin tức này và gói hàng đã được chuyển qua nhiều thời gian và qua nhiều tay. Cứ mỗi lần chuyển, ý nghĩa bi đát của chúng bớt đi, sự xúc động giảm dần. Vậy nên chính là bằng một giọng hầu như vui vẻ mà người lạ mặt ấy báo với tôi qua điện thoại.

- Chào ông, người ta có trao một gói nhỏ nhờ chuyển cho ông. Gói hàng của… tôi cũng chẳng biết của ai, tóm lại là một người họ hàng đã qua đời… Ở Nga. Chắc ông đã biết tin rồi. Vâng, người ấy đã để lại cho ông bản di chúc, hề hề…

Anh ta định nói vui, bảo là “di sản”. Nhưng do nhầm ở các dân “Nga mới” thường xảy kiểu ăn nói lỏng lẻo như vậy, vì họ phải dùng tiếng Anh là tiếng thông dụng – nên anh ta nói chệch sang là bản “di chúc”.

Tôi đợi anh ta lâu tại đại sảnh một trong những khách sạn lớn Paris. Vẻ trống rỗng lạnh lẽo các tấm gương phía hai bên ghế bành, tương ứng tuyệt vời với niềm hư vô chất đầy trong mắt, trong trí óc tôi.

Người lạ đi ra khỏi thang máy, nhường bước cho một phụ nữ tóc vàng, to lớn rực rỡ, miệng mỉm cười như hướng về tất cả và chẳng cho một ai. Một người đàn ông nữa vai rất rộn đi theo họ.

- Val Grig, người lạ xưng tên lúc bắt tay tôi và giới thiệu hai người cùng đi: “Cô phiên dịch tính đỏng đảnh của tôi, còn đây là chú bảo vệ trung thành của tôi”.

Tôi hiểu không thể tránh mời anh ta đến quầy rượu. Nghe Val Grig nói chuyện sẽ là một cách cảm ơn về việc giúp đỡ. Anh ta cần đế tôi để tận hưởng trọn vẹn vừa tiện nghi của khách sạn này vừa danh hiệu “nhà kinh doanh quốc tế” lại vừa vẻ đẹp của cô “phiên dịch tính đỏng đảnh”. Anh ta nói về những thành công của bản thân và về sự nước Nga sụp đổ, có lẽ vô tình không ý thức được rằng có một mối quan hệ nhân ngộ nghĩnh giữa câu chuyện này hơn một lần, vẻ như buồn ngủ, mắt vẫn mở. Anh bảo vệ, như thể biện bạch cho sự có mặt của mình, nhìn chòng chọc các người ra vào. Tôi chợt nghĩ: “Khéo mà mình dễ giãi bày cảm nghĩ của mình với người trên Sao Hỏa hơn là với ba vị này…”

Trên tàu điện ngầm tôi mở gói hàng. Một tấm danh thiếp của Alex Bond rơi xuống. Trong có mấy lời chia buồn, xin lỗi (Đài Loan, Canada…) nên không có dịp tự tay giao lại. Nhưng nhất là ngày tháng bà Charlotte qua đời. Ngày chín tháng chín năm ngoái!

Tôi không còn theo dõi các ga tiếp theo, chỉ ổn định lại tâm trí khi tàu đến ga cuối. Tháng chín năm ngoái… Alex Bond đến Saranza hồi tháng tám cách đây một năm. Ít tuần sau tôi nộp đơn xin đổi quốc tịch. Có lẽ đúng vào lúc bà Charlotte sắp chết. Và tất cả mọi chuyện chạy chọt, tất cả mọi dự kiến, tất cả mọi tháng chờ đợi đều diễn ra sau khi bà qua đời. Ngoài cuộc đời bà. Chẳng có thể có mối liên hệ nào với cuộc đời đã hoàn tất kia… Gói hàng được một bà láng giềng cất giữ rồi mãi sang mùa xuân mới được chuyển cho ông Bond. Trên giấy bao bì có mấy chữ do tay bà Charlotte viết: “Nhờ làm ơn giao lại phong bì này cho ông Alexei Bondartchenko kính nhờ ông chuyển cho cháu tôi.”

Tôi lên tàu điện lại ở ga chót. Khi mỏ gói, tôi tự nhủ với chút an ủi đau xót là suy cho cùng chẳng phải quyết định của anh viên chức kia đã làm tan vỡ dự kiến của tôi. Mà là thời gian… Một thời gian chứa đựng một sự trớ trêu nghiệt ngã và nhắc nhở chúng ta về quyền lực tuyệt đối của nó với những trò đùa và những chuyện không ăn khớp do nó gây nên.

Trong phong bì chỉ có vài chục trang viết tay kẹp bằng cái cài giấy. Tôi nghĩ đấy là thư vĩnh biệt nên không hiểu tại sao lại dài đến vậy, vì biết tính bà Charlotte vốn không ưa những công thức trịnh trọng và những biểu lộ tình cảm dông dài. Không quyết định đọc liền một mạch trên tàu, tôi lật đật mấy trang đầu, không tìm thấy ở đâu hết những câu đại loại “Khi cháu đọc thư này, bà không còn ở trên đời nữa” mà quả là tôi rất sợ gặp phải.

Và chăng bức thư trong phần đầu, dường như chẳng nhằm gửi cho ai cả. Tôi đọc cóc nhảy vài dòng, vài đoạn, tôi thấy hình như câu chuyện bà Charlotte kể không liên quan gì đến bà cháu tôi. Trong lối chữ viết nhỏ nét và rõ, bà thuật lại cuộc đời một người phụ nữ. Không chú ý, hình như đã bỏ qua đoạn bà kể hai người quen nhau như thế nào. Với lại điều này tôi chẳng quan tâm. Cuộc đời được kể chỉ là thêm một số phận phụ nữ nữa, một trong những số phận bi thảm, thời Stalin, khiến chúng tôi kinh hãi thảng thốt hồi còn trẻ, nhưng nỗi đau từ ngày ấy đã cùn mòn đi. Người đàn bà nọ, con gái một phú ông, lúc còn bé đã trải qua cảnh lưu đày trong những bãi lầy ở tây Xibêri. Rồi sau hồi chiến tranh, bị kết tội chống việc tập thể hóa, đã bị giam vào trại tập trung… Tôi đọc nhanh mấy trang này như đọc một cuốn sách đã thuộc lòng. Cái trại, những cây bá hương mà tù nhân chặt hạ lội trong tuyết đến ngang hông; sự nhẫn tâm hằng ngày như cơm bữa của người gác, bệnh tật, chết chóc. Và chuyện làm tình bắt buộc, dưới sự hăm dọa của vũ khí hoặc hình phạt lao động tàn nhẫn, và làm tình mua bằng chai rượu… Đứa con bà ta đẻ ra chịu tù tội cùng mẹ, đó là luật lệ. Trong “trại nữ” này, có một nhà gỗ dự kiến cho những vụ sinh đẻ này. Người đàn bà đã chết, bị một máy kéo cán phải, ít tháng trước ngày ân xá của thời “tan băng”. Đứa bé lúc này hai tuổi rưỡi.

Mưa xua đuổi tôi khỏi chiếc ghế. Tôi giấu bức thư dưới áo vét, chạy về nhà chúng tôi. Câu chuyện kể mới đọc nửa chừng tôi thấy rất điển hình: với những dấu hiệu đầu tiên của việc mở rộng tự do, tất cả những người Nga vội lấy ra từ những chỗ ẩn giấu của trí nhớ cái quá khứ bị kiểm duyệt. Họ không hiểu rằng Lịch sử chẳng cần đến những trại tập trung nhỏ nhiều vô vàn ấy. Một cái thôi, đồ sộ và được công nhận là tiêu biểu, là đủ. Bà Charlotte khi gửi cho tôi những lời chứng của bà, chắc cũng đã như những người khác bị cuốn vào niềm say sưa của lời nói được giải phóng. Việc bà gửi cho tôi lời chứng này vô ích nhưng cảm động, khiến tôi đau xót. Tôi lại lần nữa đo lường được vẻ dửng dưng khinh khỉnh của thời gian. Người đàn bà bị giam tù kia cùng đứa con, chệnh choạng bên bờ của quên lãnh vĩnh viễn, được giữ lại duy nhất nhờ mấy trang viết tay này. Thế còn Charlotte, chính bà?

Tôi đẩy cửa. Một luồng gió hút đập vào cánh cửa sổ mở nghe đánh phịch. Tôi đi khép lại cửa trong buồng bà tôi.

Tôi nghĩ về cuộc đời bà. Một cuộc đời nối liền những thời kỳ khác nhau biết bao: buổi đầu thế kỷ, cái thời hầu như cổ lỗ, hầu thành huyền thoại như việc Napoléon trị vì – và buổi cuối thế kỷ, thời kỳ cuối thiên niên kỷ. Tất cả mọi thứ cách mạng, chiến tranh, mọi trò không tưởng thất bại, mọi vụ khủng bố thành công. Bà đã chắt lọc lấy tinh chất trong những nỗi đau và những niềm vui những ngày này. Và cái mật độ tràn đầy phập phồng sự sống kia sắp sửa chẳng bao lâu nữa cũng chìm vào quên lãng. Như cái trại bé tẹo của người đàn bà kia với đứa con.

Tôi đứng một lát nơi cửa sổ bà Charlotte. Trước đây tôi đã hàng tuần đặt luồng mắt của bà trước cảnh trí này…

Buổi chiều, chỉ là để khỏi áy náy, tôi quyết định đọc bản viết của bà Charlotte cho đến hết. Tôi tìm thấy lại người đàn bà bị giam cầm, những trò tàn bạo trong trại cùng là cái đứa bé đem lại vài giây lát thanh thản trong cái thế giới độc ác và dơ bẩn này… Bà Charlotte viết là bà đã được phép đến thăm tại bệnh viện nơi người phụ nữ đang hấp hối…

Đột nhiên, tờ giấy tôi cầm trong tay biến thành một chiếc lá nhỏ thon bằng bạc… vâng, nó chói ánh kim loại và dường như phát ra tiếng ràng rạc lạnh lẽo. Một dòng chữ lấp lánh lên – sợi dây tóc trong bóng đèn điện cũng khía rách con ngươi trong mắt hệt như vậy. Bức thư viết tiếng Nga và chỉ ở dòng này bà Charlotte mới chuyển sang tiếng Nga của mình. Hoặc giả là tiếng Pháp, cái tiếng Pháp của một thời đại khác, giúp tôi cảm thấy một sự cách biệt nào đối đối với điều bà sắp nói với tôi:

“Người đàn bà này, tên Maria Stepanova Dolina, là mẹ cháu. Chính bà ấy muốn đừng kể với cháu điều gì hết càng lâu càng tốt…”

Một phong bì nhỏ được cặp vào trong trang cuối này. Tôi mở ra. Trong đó có bức ảnh mà tôi nhận ra dễ dàng: một người đàn bà mặc áo bông, đội mũ lông chapka to kềnh với những mảnh che tai rủ xuống. Trên mảnh vải trắng hình chữ nhật khâu cạnh hàng khuy – một con số. Trong tay bà, một đứa bé bọc trong chiến kén len.

Đêm đến, tôi tìm thấy lại trong trí nhớ hình ảnh mà tôi vẫn cứ tưởng như là một điều sực nhớ lại lúc nằm trong bụng mẹ đến từ tổ tiên tôi người Pháp và hồi bé tôi rất tự hào về điều đó. Tôi nhìn thấy trong đó chứng cứ về lai lịch truyền thống Pháp của tôi. Đó là một ngày thu đẫm nắng, bên cửa rừng, với một sự hiện diện phụ nữ vô hình, trong làn không khí trong veo và những sợi tơ nhện bay lượn xuyên qua cái khoảng không rực sáng… Giờ đây tôi hiểu khu rừng ấy là một rừng taiga vô tận, và mùa hè đẹp đẽ cuối mùa sắp sửa biến trong một mùa đông Xibêri kéo dài chín tháng. Những tơ nhện óng bạc phất phơ trong ảo ảnh Pháp của tôi chỉ là mấy dãy dây thép gai mới mắc chưa kịp gỉ. Với mẹ đẻ, tôi đi dạo trong địa phận “trại giam phụ nữ”… Đó là kỷ niệm thơ ấu đầu tiên của tôi.

Hai hôm sau tôi rời căn phòng này. Chủ nhà đã đến hôm trước và chấp nhận một cách giải quyết ổn thỏa: tôi để lại cho ông ta tất cả bàn ghế và đồ vật cũ tích lũy từ nhiều tháng nay…

Tôi ngủ ít. Bốn giờ sáng tôi đã thức dậy. Tôi chuẩn bị túi đeo lưng tính chuyện ngay hôm ấy tổ chức chuyến đi thường lệ. Trước khi lên đường tôi nhìn lại lần cuối gian buồng bà Charlotte. Dưới ánh sáng xám ban mai vẻ lặng yên của nó không còn gợi quang cảnh bảo tàng nữa. Không, nó không còn có vẻ vắng người ở. Tôi ngần ngừ một lát, rồi tôi cầm lấy một cuốn sách cũ trên bậu cửa sổ và đi ra.

Đường phố đang vắng vẻ, đắm trong giấc ngủ. Các phối cảnh của nó dường như được tạo dần theo bước chân tôi.

Tôi nghĩ đến cuốn sổ “ghi chép” mang theo trong túi. Chiều nay hoặc mai, tôi sẽ thêm một đoạn mới vừa nẩy sinh trong trí đêm qua. Đó là ở Saranza, trong mùa hè cuối cùng với bà tôi. Hôm ấy đáng lẽ theo con đường đất dẫn xuyên qua thảo nguyên, bà Charlotte đã đi vào dưới lùm cây khu rừng ngổn ngang dụng cụ chiến tranh mà dân địa phương gọi là “Stalinka”. Tôi phân vân bước theo bà: theo lời đồn, trong các bờ bụi Stalinka có thể dẫm lên mìn… Bà dừng lại giữa một khoảng trống và lẩm bẩm: “Cháu nhìn kìa!” Tôi nom thấy ba bốn cây giống nhau cao đến đầu gối. Những chiếc lá to cắt khía, những giây leo cuốn quanh mấy que nhỏ cắm trong đất. Những cây phong tí hon chăng? Hay cây phúc bồn đen còn bé? Tôi không hiểu cái vui bí ẩn của bà Charlotte.

- Đây là cây nho, đúng là cây nho đấy, cuối cùng bà bảo.

- À thế ạ…

Sự phát hiện này không làm tăng thêm sự hiếu kỳ trong tôi. Tôi không thể gắn liền trong trí cái cây bình thường này với tục lệ tôn thờ rượu nho tại đất nước bà tôi. Hai bà cháu đứng lại ít phút giữa lòng khu Stalinka, trước khu vực trồng trọt bí mật của bà Charlotte…

Nhớ lại cây nho kia, tôi cảm thấy một niềm đau xót khó chịu đựng nổi, đồng thời một mối vui sâu xa. Một cái vui mà lúc đầu tôi thấy đáng xấu hổ. Bà Charlotte đã qua đời và ở chỗ khu Stalinka, người ta xây một sân vận động. Không còn bằng chứng nào xác thực hơn về sự biến mất hoàn toàn, vĩnh viễn. Nhưng cái vui còn mạnh hơn. Nguồn vui là ở cái khoảnh khắc từng sống giữa một khu rừng thưa, trong làn gió thổi qua thảo nguyên, trong vẻ lặng lẽ thanh thản của người đàn bà đứng trước bốn gốc cây giờ đây tôi hình dung có những chùm quả non dưới lá.

Khi bước đi, cứ chốc chốc tôi lại nhìn bức ảnh người đàn bà mặc áo bông. Giờ đây tôi hiểu vì sao nét mặt bà hao hao giống những người trong an boom của gia đình đã nuôi tôi. Đó là cái nụ cười thoảng, hiện ra do câu thần chú của bà Charlotte “petite pomme”! Vâng, người đàn bà đứng chụp gần hàng rào trại giam hẳn là đã lẩm nhẩm một mình trong miệng những từ bí ẩn kia. “Cần phải làm quen với ý nghĩ người đàn bà trẻ hơn ta ấy, là mẹ ta”, tôi tự nhủ.

Tôi cất lại bức ảnh, tiếp tục đi. Và khi tôi nghĩ đến bà Charlotte, sự hiện diện của bà trong những phố đang thiu thỉu ngủ này có cái vẻ hiển nhiên, kín đáo và linh lợi, của chính bản thân cuộc sống.

Duy tôi chỉ còn thiếu những từ để nói ra điều ấy.

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.