PHẦN III
1
Sang thu, chỉ ít ngày sau cái hôm mà, xấu hổ thú thực với chính mình, tôi khoái chí về sự vắng mặt của mẹ tôi, nhập viện để “khám bệnh bình thường thôi”, bà bảo thế, đến cái buổi chiều khi ở trường về nhà, tôi được tin mẹ chết.
Sau cái hôm mẹ vào viện, trong nhà diễn ra một cảnh tượng buông thả thật dễ chịu. Bố tôi xem truyền hình đến tận một giờ sáng. Còn tôi, nhấm nháp khúc dạo đầu quyền tự do người lớn, cứ mỗi ngày, tôi cố về nhà muộn hơn chút ít: chín giờ, chín rưỡi, mười giờ…
Những tối ấy tôi la cà ở một cái ngã tư nó tạo một ảo giác kỳ lạ trong bóng hoàng hôn mùa thu, chỉ cần tưởng tượng thêm tí chút: ảo giác đang sống một đêm mưa trong một thủ đô phương Tây. Đó là một địa điểm đặc biệt giữa những đại lộ đơn điệu của thành phố. Các ngả phố giao nhau nơi đây, tỏa vút đi như đường nan hoa vòng tròn – các tòa nhà do đó bị cắt thành hình thang. Tôi đã biết là ở Paris, Napoléon đã ra lệnh thiết kế kiểu hình thể như vậy ở các ngả giao nhau, để tránh xe cộ va chạm.
Đêm tối càng đậm đặc thì ảo giác trong tôi càng trọn vẹn. Biết rằng một trong các ngôi nhà này là nhà bảo tàng chủ nghĩa vô thần của địa phương và các ngôi nhà khác là những chung cư đông đặc người – tôi cũng bất cần. Tôi ngắm màu vàng và xanh nhạt các cửa sổ dưới mưa, những ánh đèn đường trên nhựa đường nhơn nhớt như mỡ, dáng các gốc cây trần trụi. Tôi đang có một mình, tự do thoải mái. Tôi đang hạnh phúc. Giọng thầm thì, tôi nói với mình bằng tiếng Pháp. Trước các mặt nhà hình thang kia, âm vang lanh lảnh thứ ngôn ngữ này tôi thấy hết sức tự nhiên. Cái thần diệu mà tôi phát hiện ra dạo mùa hè phải chăng sẽ cụ thể hóa ra bằng một cuộc gặp gỡ nào đó? Mỗi người phụ nữ tôi bắt gặp có vẻ như muốn trò chuyện với tôi.
Một nửa giờ đồng hồ được lợi thêm vào đêm làm phong phú thêm trong tôi cái ảo ảnh Pháp. Tôi không còn thuộc thời đại của tôi, cũng chẳng còn thuộc đất nước này. Đứng giữa bồn tròn ngã tư ban đêm này, tôi cảm thấy xa lạ với chính mình trong một tâm trạng hoan hỉ tuyệt vời.
Thời gian này mặt trời khiến tôi chán ngán, ban ngày biến thành một sự chờ đợi vô bổ trước cuộc sống thực của tôi vào ban đêm.
Tuy nhiên, chính là giữa ban ngày, đang hấp háy chói mắt nhìn cảnh băng tuyết lóng lánh đầu tiên mà tôi nhận được cái tin nọ. Thấy tôi đi qua, một giọng nói cất lên trong đám học sinh ồn ào tụ tập, chúng vẫn tiếp tục đối xử với tôi bằng vẻ thù nghịch cao ngạo.
- Chúng mày biết chưa ấy nhỉ? Mẹ cậu ấy chết rồi.
Tôi bất chợt thấy vài ba ánh mắt tò mò. Tôi nhận ra đứa vừa nói – con một nhà láng giềng.
Chính vẻ dửng dưng trong câu nói đã khiến tôi có thì giờ hình dung ra cái tình thề thật khó quan niệm nổi: Mẹ tôi chết rồi. Tất cả mọi sự việc xảy ra mấy hôm nay bỗng nhiên gộp thành một bức tranh gắn bó chặt chẽ: những buổi bố tôi luôn luôn đi vắng, vẻ câm lặng của ông, việc chị tôi về nhà cách đây hai hôm (tuy không phải kỳ nghỉ học, giờ tôi chợt nghĩ).
Lúc tôi quay về, chính bà Charlotte ra mở cửa. Bà mới vừa từ Saranza đến sáng nay. Thế là mọi người đều đã biết! Tôi thì vẫn là “cái thằng bé lúc này chưa cần nói với nó gì cả”. Và cái thẳng bé ấy, chẳng hay biết gì hết, vẫn tiếp tục dạo bước lang thang nơi bồn tròn Pháp mà cứ tưởng mình đã lớn, tự do, bí ẩn. Sự vỡ mộng này là tình cảm đầu tiên do cái chết của mẹ gây nên. Nó nhường chỗ cho sự xấu hổ: mẹ tôi qua đời thế mà tôi, mang một tâm trạng thỏa mãn vị kỷ, tôi thích thú về sự tự do của mình, tái tạo lại mùa thu Paris dưới cửa sổ bảo tàng chủ nghĩa vô thần!
Suốt những ngày buồn rầu kia và trong ngày đưa tang, riêng bà Charlotte không khóc. Gương mặt lắng xuống, mắt bình thản, bà làm tất cả mọi thứ công việc nội trợ: đón khách, xếp nơi ăn chốn ở cho bà con từ nơi khác đến. Thái độ khô khan lặng lẽ của bà khiến người ta không bằng lòng.
“Cháu có thể về chơi với bà lúc nào cháu muốn”, lúc ra đi bà bảo. Tôi gật đầu, trí nhớ gợi lại Saranza, chiếc ban công, cái va ly dày cộm báo Pháp cũ. Tôi lại đâm xấu hổ: trong lúc bà cháu nói chuyện cổ tích, cuộc sống vẫn tiếp tục với những niềm vui thật và những nỗi buồn thật, mẹ tôi làm việc tuy đã ngã bệnh, đau đớn mà không thổ lộ với một ai, biết mình sắp chết mà không hé ra bằng bất cứ lời nói hay cử chỉ. Còn chúng tôi thì ngày ngày toàn nói về các phụ nữ duyên dáng thời đại Tao nhã.
Với một tâm trạng nhẹ nhõm thầm kín tôi nhìn bà ra về. Tôi âm thầm cảm thấy có lỗi trong việc mẹ qua đời. Đúng, tôi mang cái trách nhiệm mơ hồ của người khán giả do nhìn chăm chú khiến người làm xiếc leo dây lảo đảo, thậm chí rơi ngã. Chính bà Charlotte đã dạy cho tôi phân biệt ra bóng dáng các phụ nữ Paris giữa một thành phố công nghiệp lớn bên bờ Vôn ga, chính bà đã vây bọc tôi trong cái quá khứ đầy mơ mộng, nơi tôi chốc chốc lơ đãng nhìn ra cảnh sống thực.
Với cái cảnh sống thực này, đó là là nước xâm xấp mà tôi rùng mình nom thấy ở đáy mộ huyệt hôm tang lễ. Dưới cơn mưa thu lay bay, người ta từ từ hạ chiếc quan tài xuống lớp bùn nước nhão nhoẹt.
Cảnh sống thực cũng được cảm nhận với việc cô tôi đến, bà là chị cả bố tôi. Bà sống tại một thị trấn công nhân nơi dân cư thức dậy lúc năm giờ sáng và đổ vào cổng các nhà máy khổng lồ thành phố. Người phụ nữ này đem theo cái hơi thở nặng nề mạnh mẽ của đời sống Nga… Tôi khám phá ra, trong niềm ngạc nhiên càng lúc càng lớn dần, một thế giới trước đây bị cái nước Pháp của bà Charlotte che khuất.
Bà rất sợ bố tôi đâm nghiện, thói tật chết người của đám đàn ông bà quen biết trong đời mình. Nên mỗi lần đến thăm chúng tôi bà lại nhắc nhỏ: “Này cậu Nikolai, chớ có bập vào cái món cay đấy nhé!” Tức là rượu vốt ca. Bố tôi gật đầu như cái máy, tuy không nghe thấy, và lắc đầu lia lịa.
- Không đâu. Không đâu, lẽ ra tôi phải chết trước mới phải. Chắc chắn là thế. Với cái này này…
Và ông áp lòng bàn tay lên trán hói. Tôi biết bố tôi có ở phía trên tai trái một cái “lỗ” – nơi này chỉ bọc một lần da mỏng trơn láng, bên dưới mạch máu đập đều đều. Mẹ tôi vẫn cứ sợ là bố tôi lỡ dính líu vào vụ ẩu đả, chỉ cần ai búng nhẹ bố có thể chết…
- Cậu chớ có bập vào cái món cay đấy nhé…
- Không đâu, lẽ ra tôi phải chết trước mới phải.
Ông không tập uống rượu. Tuy nhiên lời cảnh cáo của bà chị lại được chứng minh trong một tình huống thật ngớ ngẩn. Sang tháng hai, vào đợt rét đậm cuối đông, một đêm ông ngã xuống trong một đường hẻm ngập tuyết, do đứng tim. Cảnh sát thấy ông nằm thẳng cẳng trên tuyết, tự nhiên cho là tay bợm rượu và đưa ông vào nhà thương cai nghiện. Chỉ sáng hôm sau người ta mới nhận ra sự nhầm lẫn…
Một lần nữa đời sống thực, với uy lực ngạo nghễ của nó, tới thách thức những ảo tưởng trong tôi. Riêng cái tiếng động kia đã tỏ ra quá đủ để minh họa: người ta chờ thi thể bố tôi bằng một xe goòng phủ bạt, bên trong cũng lạnh cóng như ở ngoài trời; và khi cái xác ấy đặt trên bàn, nghe cạnh một cái như tiếng tảng nước đá va vào gỗ…
Tôi không thể tự dối mình. Trong mớ hỗn độn rất sâu xa những ý nghĩ không che đậy, những thú nhận không quanh co – trong tâm hồn tôi – việc bố mẹ tôi qua đời không để lại những vết tổn thương không thể lành. Vâng, trong những lúc thầm kín mặt đối mặt với chính mình, tôi phải thú thực là tôi không đau đớn quá mức.
Và nếu có lúc tôi bật khóc, thì chẳng phải tôi khóc vì mất bố mẹ. Đó là những giọt nước mắt bất lực trước một sự thực đáng kinh ngạc: hàng chục triệu con người bị gạch bỏ khỏi cuộc sống. Những người ngã xuống ở chiến trường ít ra còn được hưởng đặc quyền một cái chết anh hùng. Nhưng những người sống sát biến đi mười hoặc hai mươi năm sau chiến tranh dường như là chết “bình thường”, “vì tuổi tác”. Phải đến thật gần bố tôi mới thấy được phía trên tai ông cái vệt hom hõm có mạch máu đập giần giật. Cũng phải biết rõ mẹ tôi mới biện biệt ra cái cô bé gái trước cửa sổ đen, dưới một bầu trời đầy những ngôi sao rủ rít, vào cái ngày đầu tiên của chiến tranh ấy. Lại cũng thấy ở bà cái cô thiếu nữ gầy giơ xương, xanh xao vàng vọt ngốn những vỏ khoai tây đến nghẹn cổ…
Tôi quan sát cuộc đời họ qua làn nước mắt. Tôi thấy bố tôi, vào một chiều nóng tháng sáu, được phục viên trở về làng quê. Ông nhận ra tất cả: khu rừng, con sông, quãng đường quành. Thế rồi – cái chốn xa lạ kia, con đường đen kịt kia, gồm hai dãy nhà gỗ isbas cháy đen. Và không một bóng người. Chỉ có tiếng hót thanh bình của con chim cu nhịp nhàng với nhịp đập mạch máu phía trên tai ông.
Tôi trông thấy mẹ tôi, cô sinh viên vừa thi đỗ vào đại học, đứng sững như trời trồng trước một bức tường những bộ mặt khinh khỉnh – một ủy ban họp để phán xét về “tôi” của cô. Cô hiểu rằng quốc tịch của bà Charlotte, vâng, cái “lai lịch Pháp” của bà, là một tì vết ghê gớm. Trong bản khai trước kỳ thi, cô đã ghi, tay run run: “Mẹ - quốc tịch Nga”…
Và hai người đã gặp nhau, hai sinh linh rất khác nhau mà lại rất gần nhau trong cái tuổi trẻ bị cắt xén của họ. Và chúng tôi đã ra đời, chị tôi và tôi, và cuộc sống đã tiếp tục mặc dầu các cuộc chiến tranh, các làng mạc bị đốt phá, các trại tập trung.
Vâng, nếu tôi khóc, ấy là vì trước thái độ nhẫn nhục lặng im của bố mẹ. Hai thân tôi không oán hận ai, không đòi phải bồi thường. Họ sống và cố gắng để tạo cho chúng tôi hạnh phúc. Bố tôi đã sống cả cuộc đời đi ngang dọc những không gian vô tận giữa sông Vôn ga và vùng U ran cùng với đội xây dựng đường dây cao thế. Mẹ tôi, bị đuổi khỏi trường đại học sau cái tội của bà, không bao giờ còn đủ can đảm thử xin học lại. Bà vào làm phiên dịch trong một xí nghiệp lớn thành phố. Cứ như thể cái tiếng Pháp chuyên môn và khách quan kia miễn trừ cho bà cái tội lai lịch Pháp.
Tôi quan sát hai cuộc đời rất đỗi tầm thường và rất đỗi phi thường nọ, và cảm thấy dâng lên trong lòng một niềm uất hận mơ hồ. Cũng chẳng biết để chống lại ai. Không, có biết đấy, chống lại bà Charlotte! Chống lại vẻ thanh thản của cái thế giới Pháp của bà. Chống lại nếp tinh tế vô bổ của cái quá khứ tưởng tượng kia: điên rồi làm sao cái trò nghĩ tới ba sinh vật xuất hiện trên một mẩu báo đầu thế kỷ hoặc cố tái tạo lại trạng thái tâm hồn một ông tổng thống si tình.
Vâng, nếu một hôm nào đó tôi bật khóc là vì tôi cảm thấy mình là người Nga. Và vì có mầm ghép Pháp trong tim tôi bắt đầu thỉnh thoảng khiến tôi đau nhói.
Bà cô chị bố tôi đã vô tình đóng góp vào sự lật ngược này…
Bà ở trong nhà chúng tôi với hai con trai tức là anh họ tôi, bà có vẻ vui thích vì được rời cái căn hộ chung cư đầy ắp trong thị trấn công nhân. Chẳng phải bà muốn bày ra một kiểu sống khác, xóa bỏ đi cái dấu vết lối sinh hoạt kia. Không, đơn giản là bà sống như có thể sống. Và nét độc đáo gia đình tôi – cái lai lịch Pháp rất kín đáo và rất xa với những bản dịch chuyên môn của mẹ tôi – tự nó cũng xóa mờ đi.
Cô tôi là một nhân vật xuất thân từ thời kỳ Stalin. Stalin đã chết từ hai mươi năm, nhưng bà thì không thay đổi. Chẳng phải là một tình yêu lớn đối với vị thống chế. Chồng trước của bà bị giết trong cảnh hỗn loạn đầy chết chóc những ngày đầu chiến tranh. Bà biết rõ ai là thủ phạm trong cái vụ buổi đầu thảm hại ấy và kể vung lên cho mọi người. Bố hai đứa con, người mà bà chưa bao giờ làm lễ kết hôn, đã bị giam tám năm trong một trại tập trung, “vì cái lưỡi quá dài”, bà nói.
Không, cái “chủ nghĩa Stalin” của bà, chủ yếu nằm trong cách nói năng, ăn mặc, nhìn thẳng vào mặt người khác cứ như thể vẫn đang giữa thời chiến, cứ như thể đài phát thanh vẫn đang cất giọng buồn thảm thống thiết: “Sau những cuộc chiến đấu dũng cảm và quyết liệt, quân ta đã bỏ thành phố Kiev… đã bỏ Smolensk… đã bỏ thành phố…” và mọi gương mặt cũng đọng lại khi theo dõi bước tiến quân khốc liệt của địch hướng về Máxcơva… bà sống như trong những năm tháng khi các người láng giềng trao đổi với nhau ánh mắt lặng lẽ, nhướng mày về một nhà – ban đêm, cả một gia đình đã được đưa lên chiếc ô tô đen…
Bà quàng một chiếc khăn choàng vai lớn màu nâu, một áo măng tô bằng dạ thô vào mùa đông – đi giày bốt bằng nỉ lúc mùa hè – giày gài kín, đế rất dày. Tôi sẽ chẳng hề ngạc nhiên nếu thấy bà khoác chiếc áo vét nhà binh và đi ủng lính. Và khi bà đặt chén xuống bàn, hai bàn tay to có vẻ như đang thao tác những đui đạn trái phá trên dây chuyền một xưởng vũ khí, như trong thời chiến tranh…
Bố hai đứa con của bà, mà tôi gọi bằng tên họ là Dimitrich, thỉnh thoảng đến chơi chúng tôi, và nhà bếp vang lên cái giọng khàn khàn của ông dường như được sưởi ấm dần sau một mùa đông dài dặc nhiều năm. Cả cô tôi, cả ông chồng chẳng còn gì để mất và chẳng sợ gì hết. Hai người nói về mọi chuyện với một vẻ thẳng thừng hung hăng và tuyệt vọng. Ông chồng uống rượu khá, nhưng mắt vẫn trong, chỉ có cằm hàm càng lúc càng nghiến chặt như để thuận miệng chốc chốc thốt lên mấy câu rủa độc làm cháy cổ họng như cái “chất cay” mà tôi uống trong chiếc cốc nhiều cạnh.
Điều làm tôi đau khổ nhất trong những cuộc thú nhận ban đêm của họ, là cái tình yêu bền chặt đối với nước Nga mà những câu chuyện tâm sự ấy gợi lên trong tôi. Lý trí tôi chống lại chất cay nồng ngụm vốt ca chợt nổi loạn: “Cái đất nước này thật quái gở!Thế nhưng tôi lại yêu thương nó? Tôi yêu thương bởi cái phi lý của nó. Bởi cái quái dị của nó. Tôi thấy trong đó một ý nghĩa phi phàm không một lý lẽ lô gích nào có thể hiểu thấu…”
Tình yêu ấy là một nỗi giằng xé thường trực…
Một đêm, tôi nghe cô tôi và ông chồng không cười xin của bà nói về Béria…
Trước kia, trong các câu chuyện của khách khứa, tôi đã biết cái tên ghê gớm ấy che đậy những gì. Họ nhắc đến với giọng khinh bỉ, nhưng không phải không nhuốm chút kinh hãi trọng thị. Đang quá trẻ, tôi chưa thể hiểu cái khu vực bóng tối đáng sợ trong cuộc đời gã này. Tôi chỉ đoán là có một nhược điểm nào đó thuộc về con người. Họ nói về y giọng thầm thì và thường thì khi thấy tôi có đấy họ xua đuổi tôi khỏi nhà bếp…
Từ này trong nhà bếp chúng tôi có ba người. Ba người lớn. Dù sao thì cô tôi và ông Dimitrich chẳng cần gì phải giấu diếm tôi. Hai ông bà chuyện trò và xuyên qua làn khói thuốc lá xanh, xuyên qua hơi rượu, tôi hình dung thấy một chiếc ô tô đen có cửa kính mờ. Tuy dáng dấp to lớn oai vệ, chiếc xe vẻ như một chiếc tắc xi chạy chậm đón khách. Nó đi chầm chậm vẻ xảo quyệt, gần như dừng lại, rồi bỏ chạy nhanh như để đuổi bắt ai. Tôi tò mò theo dõi các chuyến chạy qua chạy lại trong các đường phố thủ đô. Đột nhiên tôi đoán ra mục địch: chiếc ô tô đen đuổi theo phụ nữ. Đẹp, trẻ. Nó quan sát họ qua làn kính mờ, lăn bánh theo nhìn bước chân họ. Rồi buông họ ra. Hoặc đôi khi, cuối cùng nó quyết định, theo họ tuồn vào một phố ngang…
Ông Dimitrich không có lý do gì để nói năng thận trọng đối với tôi. Ông thuật lại tất cả không tránh nó. Ngồi xệp trên ghế sau ô tô là một nhân vật mặt tròn, hói, chiếc kính cặp mũi chìm lặn trong bộ mặt béo phị. Béria.
Ông Dimitrich không nói – bản thân ông cũng không biết rõ – sau đó những người phụ nữ bị giữ ra sao. Dù sau đó không ai lại nom thấy họ bao giờ.
Tôi trải qua nhiều đêm không ngủ. Đứng trước cửa sổ, mắt mờ tịt, trán và mồ hôi lạnh. Tôi nghĩ đến Béria, nghĩ đến những người phụ nữ nọ mà số phận chỉ được sống có một đêm. Óc tôi đầy những vết bỏng. Trong miệng gờn gợn một vị chan chát, như ngậm kim loại. Tôi tự thấy mình là ông bố hoặc vị hôn phu, hoặc chồng của người phụ nữ trẻ bị cái ô tô đen theo đuổi. Vâng, trong mấy giây, chừng nào còn chịu được, tôi sống trong vai người đàn ông ấy, sống nỗi lo lắng của anh ta, những giọt nước mắt, cơn giận dữ vô ích, bất lực, niềm nhẫn nhục của anh ta. Vì mọi người đều biết những phụ nữ ấy biến đi như thế nào! Bụng tôi quặn đau như thắt. Tôi mở lá cửa con, vốc một nắm tuyết trên bậu cửa xát lên mặt. Cũng chỉ đỡ rát bỏng được một phút. Lúc này tôi lại thấy cái con người nấp sau cửa kính mờ ô tô. Trong mắt kính cặp mũi của y in những bóng dáng phụ nữ, y lọc lựa họ, sờ nắn họ.
Còn tôi, tôi căm ghét mình! Là vì tôi không ngăn được khâm phục cái tên chuyên mò gái kia. Vâng, đúng là trong tôi có một kẻ nào đó – vừa kính sợ, vừa tởm lợm, vừa xấu hổ - đang ngơ ngẩn trước quyền lực của con người mang kính cặp mũi. Y đi dạo giữa thành phố Mátxcơva mênh mông như giữa một hậu cung. Và điều khiến tôi đâm mê hoặc hơn cả, là cái dửng dưng của y. Y không cần được yêu. Y chẳng quan tâm là những người phụ nữ y chọn có thể có cảm giác như thế nào đối với y. Y chọn một phụ nữ, thèm muốn cô ta, ngủ với cô ta ngay trong ngày. Rồi quên cô ta đi.
Tôi ngất xỉu vào đầu cái đêm thứ tư mất ngủ.
Tỉnh lại, tôi cảm thấy mình đổi khác. Bình thản hơn, đồng thời bền bỉ hơn. Như người bệnh sau cuộc phẫu thuật tập đi, tôi tiến chậm chạp từ một từ ngữ này đến từ ngữ nọ. Tôi cần phải sắp đặt lại trật tự trong đầu.
Vâng, tôi là người Nga. Giờ đây tôi hiểu, tuy đang mơ hồ, như thế nghĩa là thế nào. Đeo đẳng trong tâm hồn mình tất cả những sinh linh mặt méo mó vì đau khổ, những làng mạc cháy đen. Biết đến sự nhẫn nhục của người bị một tên bạo ngược kiêu xa hãm hiếp. Và niềm ghê tởm thấy mình tham gia vào tội ác ấy. Và nỗi ao ước điên cuồng diễn lại tất cả những chuyện đã qua kia để tiệt trừ những đau khổ, bất công, chết chóc gắn liền với chúng…
Săn đuổi cái ác. Tạo nơi ẩn náu cho mọi con người trong buồng tim mình để có thể ngày kia thả họ ra trong một thế giới giải thoát khỏi cái ác. Nhưng, trong lúc chờ đợi, san sẻ niềm đau khổ đang dằn vặt họ. Căm ghét mình về nỗi yếu đuối. Đẩy điều cam kết này tới tận sự cuồng nhiệt, tới tận cơn ngất xỉu. Sống hằng ngày hằng ngày bên bờ vực. Vâng, nước Nga là thế.
Trong tâm trạng hoang mang tuổi trẻ, tôi bám víu vào cái nhân cách vừa mới xác định kia. Nó đối với tôi trở thành chính cuộc sống, cái cuộc sống theo tôi nghĩ, sẽ vĩnh viễn xóa bỏ niềm ảo tưởng Pháp.
Cuộc sống ấy bộc lộ ra nhanh chóng tính cách chủ yếu của nó (do nếp quen hàng ngày mà chúng ta không nhận ra) – tính chất huyễn hoặc xa thực tế.
Trước kia tôi sống trong sách vở. Tôi lần theo từ một nhân vật này sang nhân vật khác, dựa vào lô gích một truyện tình hoặc một cuộc chiến tranh. Nhưng cái buổi chiều tháng ba ấy, oi nồng đến nỗi cô tôi mở toang cửa sổ nhà bếp, tôi hiểu rằng trong cuộc đời này chẳng có lô gích, chẳng có mối liên kết nào cả. Và chỉ có cái chết mới là đoán trước được.
Chiều hôm ấy, tôi biết được điều mà bố mẹ vẫn giấu tôi. Cái giai đoạn loạn lạc ở Trung Á: bà Charlotte, những kẻ mang vũ khí, chúng xô đẩy nhau, hò hét. Tôi chỉ nhớ lại mang máng kiểu con trẻ về những chuyện kể ngày xưa. Lời lẽ người lớn quá xa xôi tối nghĩa.
Lần này sự thực chói sáng lên làm đầu óc tôi lảo đảo. Bằng một giọng hết sức bình thường, trong lúc múc những củ khoai bốc khói vào đĩa, cô tôi nói với đám khách ngồi cạnh ông Dimitrich:
- Dĩ nhiên ở đấy họ không sống như chúng ta. Họ cầu kinh năm lần mỗi ngày, có lạ không! Thậm chí họ ăn cũng không ngồi bàn. Đúng, ngay trên đất. Ừ thì trên thảm. Và không dùng thìa mà bốc tay!
Ông khách, hẳn muốn đưa đầy cho chuyện thêm rôm rả, cãi lại giọng lý sự:
- Ái dà, không như chúng ta ư, nói vậy hơi quá đấy. Chính tôi đã đến Tachent hè năm ngoái. Cũng chẳng khác chúng ta lắm đâu.
- Thế bác đã đến sa mạc của họ chưa, hả (Bà nói to hơn, vui sướng vì có người bắt chuyện và bữa ăn có cơ sôi nổi thân tình). Vâng, vùng sa mạc ấy? Bà của cháu đây chẳng hạn (bà cô hất cằm về phía tôi), bà Cherl… Chour!... ừ thì cái bà người Pháp ấy, thật chẳng hay ho gì cái chuyện xảy ra cho bà ấy. Bọn Bashmat, bọn cướp không thích chính quyền xô viết, chúng đã bắt bà, lúc ấy đang rất trẻ, trên đường và hãm hiếp bà ta, thật như những con thú dữ! Tất cả, cứ lần lượt. Có sáu hoặc bảy thằng. Thế mà bác bảo “chúng cũng như chúng ta”… Sau đó chúng đã bắn một phát súng vào đầu bà ta. May làm sao thằng giết người ấy lại bắn trật. Còn bác nhà quê chở bà ấy trên xe ngựa, chúng đã giết bác ấy như giết thịt con cừu. Thế mà bảo “như chúng ta”, ối dào…
- Không đâu, không đâu, đấy là bác đây nói về cái thời xưa.
Ông Dimitrich xen vào. Và họ tiếp tục bàn cãi vừa ăn vừa uống rượu. Phía sau cánh cửa mở, vẳng tới những tiếng động thanh bình trong sân. Không gian ban chiều màu xanh, dìu dịu. Họ nói chuyện mà không chú ý đến tôi lúc bây giờ ngồi bất động trên ghế, không thở, không trông thấy gì nữa hết, không hiểu ý nghĩa lời họ nói. Cuối cùng, như kẻ mộng du, tôi bước ra khỏi nhà bếp và khi đi ra đường cái, tôi bước trong tuyết loãng, xa lạ với cái chiều xuân trong trẻo này hơn cả người từ trên sao Hỏa.
Không, tôi không bị kinh hoàng về chuyện xảy ra trên sa mạc. Được kể bằng giọng bình thường như không, câu chuyện sẽ không thế bao giờ, như tôi tiên cảm thấy, thoát ra khỏi cái vỏ quặng từ ngữ và cử chỉ thường ngày. Vẻ dữ dằn của nó bị pha nhạt đi với cảnh tượng những ngón tay to bặm với lấy quả dưa chột, cục yết hầu trên cổ khách chạy lên chạy xuống khi nốc rượu, với tiếng đùa ríu rít bọn trẻ con trong sân. Cũng giống như cái cánh tay người một hôm tôi trông thấy trên xa lộ cạnh hai ô tô đâm nhau. Một cánh tay bị gãy rời, có ai bọc trong giấy báo chờ xe cứu thương đến. Các dòng chữ in, các bức ảnh dính vào da thịt máu me khiến cho khúc thịt này hầu như chẳng phải của ai đó cả.
Không, điều khiến tôi thật sự thảng thốt, đó là cái vô lý khó tin của sự sống. Một tuần trước, tôi biết được cái bí mật của Béria. Lúc này là vụ hãm hiếp người phụ nữ Pháp trẻ mà tôi không thể nhận ra là bà Charlotte.
Điều quá mức này khiến tôi sững sờ. Sự trùng hợp vô cớ, hiển nhiên một cách phi lý làm rối tung ý nghĩ của tôi. Tôi tự nhủ là trong tiểu thuyết, sau một câu chuyện về phụ nữ bị bắt cóc giữa Mátxcơva người ta lẽ ra phải để cho người đọc tỉnh trái lại qua nhiều trang dài. Người đọc lẽ ra có thể chờ đợi một vị anh hùng xuất hiện quật ngã tên bạo chúa. Nhưng sự sống bất cần đến tình liên kết của chủ đề. Nó trút đổ nội dung của nó ào ào, hỗn độn. Do vụng về, nó phá hỏng sự thuần khiết của niềm trắc ẩn và gây tổn hại cho sự thức giận chính đáng của chúng ta. Cuộc sống trong thực tế là một bản nháp vô tận trong đó các sự kiện sắp xếp lộn xộn dẫm đạp lên nhau, các nhân vật quá dòng ngăn cản nhau nói, đau khổ, được yêu hoặc bị ghét từng cá nhân một.
Chính lúc đêm xuống tất cả mọi ý nghĩ về tính chất rời rạc của sự sống nhằm để tự an ủi tôi mới cảm thấy là sai lầm. Trong lúc nửa mê nửa tỉnh tôi nom thấy lại cái cánh tay bọc trong giấy báo… Không, nom nó càng trăm lần ghê rợn hơn trong cái bao gói nhặt nhạnh bất kỳ kia! Thực tế với tất vẻ khó tin của nó vượt rất hư cấu. Tôi lắc mạnh đầu để xua đuổi hình ảnh những mụn rộm giấy báo dính vào mảng thịt máu me kia. Đột nhiên, không hề có mờ nhiễu, trong không khí trong veo của sa mạc, một hình ảnh khác khảm vào mắt tôi,, minh bạch, tỉa từng nét. Hình ảnh một thân thể phụ nữ trẻ nằm rã rượi trên cát. Một thân thể trơ trơ bất động, mặc dù những động tác hùng hục của những kẻ man rợ lao xuống nó. Trần nhà tôi đang nhìn đăm đăm biến thành màu xanh. Tôi đau đớn đến nối thấy in lên trong ngục những đường viền trái tim mình cháy bỏng. Chiếc gối dưới gáy rắn căng và nhám sì như cát…
Cử chỉ của tôi khiến chính tôi cũng bị bất ngờ. Tôi liền tát vào tôi rất dữ, lúc đầu từng cú một, rồi sau tới tấp không thương tiếc. Tôi cảm thấy trong tôi có một kẻ, trong những hõm sâu sình lầy ý nghĩ, đang ngắm nghía cái thân thể phụ nữ trẻ kia một cách thích thú.
Tôi tự đánh cho đến lúc mặt tôi sưng phồng, dàn dụa nước mắt, dính dáp nhìn mà thấy tởm. Cho đến lúc kẻ nấp trong tôi câm lặng hoàn toàn… Rồi vấp ngã trên chiếc gối tôi đã đánh rơi xuống đất trong lúc sôi sục, tôi đến cạnh cửa sổ. Một vầng trăng lưỡi liềm rất mỏng in lên da trời. Những ngôi sao mỏng manh, run rẩy, dường như cũng phát tiếng rào rào như làn băng dưới bước chân ai đấy đi khuya qua sân. Không khí lạnh làm dịu mặt tôi sưng vù.
- Ta là người Nga, tôi chợt thì thào.