Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

5

Sau khi cụ cố Norbert tôi qua đời, cái mênh mông trắng của Xibêri dần khép lại trên cuộc sống bà Albertine. Quả còn có vài ba lần bà trở lại Paris mang theo Charlotte, nhưng mảnh hành tinh tuyết phủ này chẳng bao giờ buông tha những linh hồn bị khoảng không gian không cột mốc và thời gian uể oải biếng lười của nó quyến rũ mê hoặc.

Vả lại, những ngày bà ghé Paris bị ghi dấu bằng một niềm chua chát mà những chuyện bà tôi kể không giấu giếm nổi. Một sự bất hòa nào đó trong gia đình, chúng tôi không được phép biết nguyên do chăng? Hoặc một thái độ lạnh lùng mang tính rất châu Âu trong quan hệ người thân, mà dân Nga chúng tôi không thể hình dung được, bởi quen với lối sống tập thể tràn trề chan chứa? Hoặc đơn giản chỉ là thái độ dễ hiểu của những con người bình thường đối với một trong bốn chị em trong gia đình, cái cô thích phiêu lưu thế rồi thay vì giấc mộng đẹp, mỗi lần lại chỉ mang về nỗi khắc khoải của một xứ sở hoang mạc và một cuộc đời tan vỡ.

Dù sao thì việc bà Albertine thích sống ở trong phòng cậu em hơn là trong nhà gia đình ở Neuilly không thể không làm cho mọi người chú ý, cả với đám trẻ chúng tôi.

Cứ mỗi lần trở về Nga, bà thấy cái xứ Xibêri này càng thêm mê hoặc không thể nào tránh khỏi, hòa lẫn với số phận mình. Không phải chỉ ngôi mộ ông Norbert ràng buộc bà với mảnh đất băng giá kia, mà còn là cái cảnh sống Nga âm u từng nếm trải mà bà cảm thấy chất thuốc độc say người của nó ngấm sâu trong mạch máu.

Vốn là vợ một thầy thuốc đáng kính, được cả thành phố biết tiếng, bà Albertine đã biến thành một góa phụ khá kì quặc - một phụ nữ Pháp dường như chẳng muốn quyết định trở về quê hương. Tệ hơn, cứ mỗi lần bà lại từ đó quay về!

Bà vẫn còn quá trẻ và quá đẹp nên không thể tránh khỏi những điều dèm pha của giới ăn chơi đài điếm ở Boiarsk. Quá kỳ lạ để người ta chấp nhận bà như vốn có. Và chẳng bao lâu sau là quá nghèo.

Charlotte nhận thấy mỗi lần đi Paris về, hai mẹ con về ở một căn nhà ngày càng bé. Ở nhà trường nơi Charlotte được nhận vào học nhờ một bệnh nhân cũ của bố, cô bé nhanh chóng trở thành “cái con Lemonnier”. Một hôm bà giáo chủ nhiệm gọi cô lên bảng - nhưng không phải để truy bài… Khi Charlotte đã đứng trước mặt, bà ngắm nghía cô bé từ chân đến đầu và với một nụ cười khinh khinh cất tiếng hỏi:

- Em có gì ở chân vậy, hả em Lemonnier?

Ba chục cô học sinh nhổm khỏi ghế, nghểnh cổ giương to mắt. Trên sàn xi bóng lộn, họ thấy hai cái bao bằng len, hai chiếc “giày” do Charlotte tự tạo, bị dẫm nát dưới ngần ấy luồng mắt, Charlotte cúi gằm mặt và vô tình quặp chặt ngón chân trong bao giày cứ như thể muốn làm cho chân biến mất…

Vào thời ấy Charlotte cũng đã phải sống trong một ngôi nhà gỗ cũ kỹ ở rìa thành phố. Charlotte chẳng còn lạ mắt thấy mẹ mình hầu như luôn luôn ngồi ủ rũ trên chiếc giường cao nông dân, sau tấm màn. Khi bà Albertine đứng dậy, trong con mắt bà, tuy mở, thấy những bóng đen chiêm bao lúc nhúc. Bà thậm chí chẳng còn gượng cười với con gái. Với cái muôi bằng đồng bà múc nước trong xô, uống giây lâu rồi đi ra. Charlotte vốn biết lâu nay hai mẹ con sống sót là nhờ mấy đồ nữ trang lấp lánh trong cái hộp nhỏ khảm xà cừ…

Chiếc nhà gỗ ghép ấy nằm cách xa các khu phố sang trọng thành phố Boiarsk, nên được Charlotte ưa thích. Người ta ít nhận rõ hơn cảnh khốn khổ của hai mẹ con giữa những ngả đường hẹp cong queo ngập tuyết. Với lại, thú vị biết bao lúc ở trường về, bước lên bậc tam cấp cũ kỹ bằng gỗ kêu cót két dưới chân, đi qua một lối vào âm âm tối hai bên tường ghép bằng những súc gỗ tròn lớn phủ lớp giá dày, và đẩy cánh cửa nặng khiến nó rít lên một tiếng rên rỉ ngắn hệt như tiếng người. Và ở đó, trong ngăn buồng, có thể ngồi một lát không châm đèn, nhìn ra cửa sổ thấp chứa đầy hoàng hôn tím, lắng nghe những luồng tuyết gõ ràn rạt vào ô kính. Tựa lưng lên bọ sườn nồng ấm chiếc lò sưởi lớn, Charlotte cảm thấy hơi nóng lan dần dưới áo khoác. Cô áp bàn tay tê cóng lên mặt đá âm ấm - chiếc lò sưởi cô thấy nó như quả tim khổng lồ của căn nhà gỗ cũ kỹ này. Và dưới gót giày ni những mảnh băng cuối cùng tan chảy.

Một hôm một mảnh băng vỡ ra dưới chân với tiếng răng rắc bất thường. Charlotte ngạc nhiên – cô về đã hơn nửa tiếng, bao nhiêu tuyết trên áo khoác và mũ lông đã tan và khô ráo từ lâu. Thế còn cái mảnh băng này… Cô cúi nhặt. Hóa ra một mảnh thủy tinh! Mảnh thủy tinh vỡ một ống thuốc, rất sắc…

Và như vậy đó mà cái từ khinh khủng “moóc phin” bước vào cuộc sống của Charlotte. Nó giải thích vẻ câm lặng bà mẹ sau tấm màn, những bóng mờ lúc nhúc trong mắt mẹ, giải thích cái vùng đất Xibêri phi lý và không thể tránh khỏi, cứ như số mệnh vậy.

Bà Albertine chẳng còn có gì để giấu giếm cô con gái. Chính Charlotte là người mà từ nay người ta thấy bước vào hiệu thuốc và rụt rè khẽ nói: “Cháu mua thuốc cho bà Lemonnier…

Cô bao giờ cũng trở về một mình, đi xuyên qua những khu đất hoang mênh mông ngăn cách thị trấn nhỏ nơi đang ở với những đường phố cuối của thành phố có cửa hàng và điện sáng. Một cơn bão tuyết thường hay kéo đến trên những khoảng trống vắng vẻ kia. Mệt nhoài vì phải chống đỡ với ngọn gió mang đầy bông tuyết, ù tai vì tiếng gió rít, một đêm Charlotte đứng dừng, quay lưng với gió táp, mắt mờ mịt đi trong làn tuyết bay vun vút. Cô cảm nhận cuộc đời mình một cách mãnh liệt, cảm nhận cái hơi nóng cơ thể gầy gò tụ thành một cái tôi bé xíu. Cô cảm thấy cái mơn man do một giọt nước rỉ từ mảnh che tai chiếc mũ lông, cảm thấy tiếng đập của trái tim và cạnh trái tim. Đột nhiên một tiếng nói thầm thĩ dội trong cô: “Chính là ta, là ta đấy đang ở nơi này, giữa những cơn lốc tuyết nơi tận cùng thế giới, trong cái xứ Xibêri này, ta, Charlotte Lemonnier, ta là kẻ vốn không có liên quan gì với cái nơi hoang vắng này, cái bầu trời này, cái mảnh đất đóng băng này. Cũng chẳng có liên quan gì với đám người kia. Ta ở đây, một thân một mình, và ta đem moóc phin về cho mẹ ta…” Cô tưởng như đầu óc mình chao đảo, rồi cả người đổ xiệu rơi xuống một cái vực nơi tất cả cái phi lý vừa đột nhiên phát hiện kia sắp trở thành đương nhiên. Cô cựa mình: không, cái hoang mạc Xibêri này tất phải chấm dứt một nơi nào đó, và ở đó, có một thành phố với những đại lộ hai bên trồng cây dẻ, những quán cà phê sáng đèn, có căn nhà ông cậu và tất cả các pho sách mở ra bằng những từ ngữ thân thiết biết bao chỉ cần nhìn vào dạng chữ. Có nước Pháp…

Cái thành phố có đại lộ hai bên trồng dẻ biến thành một vảy vàng mỏng manh lung linh trong ánh mắt Charlotte mà không ai nhận thấy. Charlotte lại còn nhận ra hồi quang của nó trong cái lóng lánh nơi chiếc ghim cài đẹp đẽ trên áo một cô gái trẻ có nụ cười đỏng đảnh kiêu kỳ - cô này ngồi trong chiếc ghế bành sang trọng, giữa một phòng lớn đồ đạc lịch sự, cửa sổ treo màn lụa.

- La raison du plus fort est toujours meilleurem cô ta nói bằng giọng kiểu cách[1]

- … est toujours la meilleure, Charlotte kín đáo sửa lại, và cúi nhìn xuống, nói thêm:

- Có lẽ nên phát âm là “meilleure” thì đúng hơn “meillaire” Meill-eu-eure…[2]

Charlotte tròn môi và kéo dài cái âm tiết cuối lịm dần trong một âm “r” mượt mà. Cô học trò, vẻ mặt cau có, lại đọc tiếp:

- Nous l’allons vous montrer tout à l’heure…[3]

Cô này là con gái ông thị trưởng Boiarsk. Charlotte dạy cô học tiếng Pháp thứ tư hàng tuần. Charlotte lúc đầu hy vọng sẽ là bạn của cô thiếu nữ ăn mặc chau chuốt, tuổi chỉ nhỉnh hơn mình tí chút này. Giờ đây, chẳng còn ước mong gì nữa, cô chỉ còn lo dạy cho tốt. Những cái liếc mắt khinh khỉnh của cô học trò chẳng còn làm cô bận tâm. Charlotte nghe cô ta nói, thỉnh thoảng nhắc nhở, nhưng luồng mắt hướng về ánh lấp lánh của chiếc ghim cài áo xinh xinh bằng hổ phách kia. Chỉ có con gái ông thị trưởng mới được phép mặc áo hở cổ với vật nữ trang ấy ở giữa. Tỉ mỉ chu đáo, Charlotte nêu từng lỗi phát âm hoặc ngữ pháp. Từ chiều sâu vàng óng của hổ phách vụt hiện lên một thành phố có cây cối mùa thu đẹp đẽ. Cô hiểu mình phải chịu đựng cả một tiếng đồng hồ trò nhăn nhó vặt của cô bé lớn, người mập mạp và ăn mặc cực kỳ sang trọng ấy, để rồi vào bếp nhận từ tay chị người ở cái gói của cô, đựng những thức ăn thừa, rồi đứng nơi đường phố chờ dịp chỉ có một mình đối mặt với bà dược sĩ, thì thầm: “Làm ơn cho tôi mua thuốc cho bà Lemonnier”.

Chút hơi ấm đánh cắp trong hiệu thuốc liền đó sẽ bị đánh bạt khỏi lần áo khoác bởi ngọn gió tê buốt trên các khoảng đất trống.

Khi bà Albertine xuất hiện trên bậc tam cấp, bác xà ích rướn mày và nhổm dậy trên ghế. Bác chẳng ngờ được chuyện này. Cái nhà gỗ mái sụt đầy rêu kia, cái bậc tam cấp mối mọt mọc đầy cây tầm ma kia. Và nhất là cái thị trấn với các ngả phố vùi trong cát xám.

Cánh cửa mở trong khung cửa xiêu vẹo, một người đàn bà bỗng xuất hiện. Bà bận chiếc váy dài cắt rất trang nhã, kiểu áo mà bác xà ích chỉ nom thấy ở các bà xinh đẹp đêm đêm ở nhà hát trung tâm thành phố bước ra. Mái tóc bà búi gọn - một chiếc mũ rộng trùm vòng quanh. Ngọn gió xuân thổi chiếc khăn voan bay phơ phất lượn song bên vàng mũ bẻ uốn duyên dáng.

- Chúng ta ra ga, bà nói và bác xà ích càng ngạc nhiên hơn vì cái giọng rung vang lanh lảnh rất lạ tai của bà.

- … Ra ga, cô bé vừa ra gọi bác ngoài phố hồi nãy lặp lại. Cô này thì nói giọng đặc Nga, điểm tí chút giọng Xibêri…

Charlotte hiểu được việc bà Albertine xuất hiện trên tam cấp vốn là kết quả một cuộc chiến đấu nội tâm dài và đau đớn, qua những dằn vặt trở đi trở lại. Giống như cảnh vật lộn của người đàn ông kia giữa băng tuyết, trên một hố sâu đen ngòm, một hôm cô nom thấy giữa mùa xuân, khi đi qua cầu. Bám chặt một cành cây dài được người ta chìa cho, ông ta bò lên dốc bờ trơn trượt, bụng áp vào mặt băng, nhích từng xăng ti mét một và đã giơ bàn tay bầm đỏ với được tay người cứu. Đột nhiên, chẳng hiểu vì sao, ông giật nẩy người và tuột xuống, rơi tõm vào hố nước đen thẳm. Giòng nước cuốn ông ra xa chút ít. Lại phải bắt đầu lại tất cả. Vâng, giống như cái người đàn ông nọ.

Nhưng vào cái buổi chiều hè tràn đầy ánh sáng và cây xanh ấy, hai mẹ con chuẩn bị về với vẻ hoàn toàn nhẹ nhàng thanh thản.

- Thế còn cái va ly to hả mẹ? Charlotte hỏi khi đã lên xe.

- Để lại thôi. Chỉ có mấy thứ giấy tờ cũ với lại báo của cậu con … Chúng ta sẽ trở về lấy.

Hai mẹ con vượt qua cầu, đi qua cạnh nhà ông thị trưởng. Cái thành phố Xibêri này tựa hồ như đã trải lùi về một quá khứ kỳ quặc, nơi người ta dễ mở lòng tha thứ kèm thêm một nụ cười.

Đúng vậy, đúng là với cái ánh mắt không thù hận mà hai mẹ con khi về lại Paris nhìn lại Boiarsk. Và lúc sang hè, khi Albertine tỏ ý muốn quay về sống ở Nga (để kết thúc hẳn giai đoạn Xibêri đời mình, như người thân nghĩ), Charlotte thậm chí còn hơi ganh tị với mẹ: cô cũng muốn được dịp lưu lại một hai tuần trong cái thành phố từ nay trong ký ức chứa đầy những nhân vật của quá khứ, nơi các ngôi nhà, nhất là các isbas[4] trở thành những công trình kỷ niệm của thời xưa cũ. Một thành phố nơi chẳng có gì có thể làm cô tổn thương nữa.

- Mẹ ơi, mẹ chú ý xem có còn cái tổ chuột nhắt không, ở cạnh lò sưởi ấy, mẹ nhớ chứ? Cô gọi với theo bà mẹ ngồi cạnh cửa sổ mở toa tàu.

Đó là vào tháng bảy năm 1914. Charlotte bấy giờ mười một tuổi.

Cuộc đời cô chẳng hề xẩy đứt đoạn. Riêng câu nói ấy (“Mẹ chú ý đàn chuột nhắt!”), với thời gian Charlotte ngày càng nhận thấy nó ngớ ngẩn, trẻ con. Lẽ ra phải lặng im và nhìn kỹ gương mặt kia cạnh cửa sổ toa tàu, chất đầy ánh mắt mẹ. Bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm trôi qua, và câu nói cuối cùng ấy vẫn còn mang nguyên vẹn vang âm một niềm hạnh phúc ngây ngô. Sự chờ đợi trở thành cái thời gian duy nhất cuộc đời Charlotte.

Thời bấy giờ (“lúc thời chiến”, báo chí viết vậy) giống như một buổi chiều xám, một ngày chủ nhật trong các phố vắng thành phố tỉnh lẻ: một cơn gió đột nhiên dấy lên từ góc nhà, cuộn thành cơn lốc bụi, một cánh cửa khẽ giật, con người dễ hòa tan trong làn không khí không màu sắc, biến mất không lý do.

Chính là như vậy mà ông cậu của Charlotte biến đi - “ngã xuống chiến trường”, “chết cho nước Pháp”, theo lối nói báo chí. Và cái ngữ điệu này khiến cho sự vắng mặt của ông càng gây thêm bối rối - như cái gọt bút chì kia trên bàn viết, với chiếc bút tra nguyên trong lỗ và vài vụn vỏ bào, nó nằm đó bất động từ khi ông mất đi. Chính là như vậy mà căn nhà ở Neuilly trống vắng dần - các ông các bà cúi hôn bé Charlotte và với vẻ rất nghiêm chỉnh nhắc nhở bé phải cho ngoan.

Cái thời gian kỳ quặc này có những thói thất thường của nó. Bỗng nhiên, với kiểu mau lẹ nhảy nhót như trong phim, một bà dì Charlotte vận váy áo trắng, quanh mình là các bà con thân thích tụ tập cũng với kiểu hối hả của điện ảnh bấy giờ, để đi bằng dáng đi nhanh nhẹn giật giật tới một nhà thờ nơi bà dì đứng bên một người đàn ông đeo râu mép, tóc chải dầu trơn mượt. Và hầu như ngay sau đó - trong kí ức Charlotte thậm chí họ cũng chưa có thời gian rời khỏi nhà thờ - cô dâu mới vận bộ đồ đen vào và không ngước nổi cặp mắt đầy lệ. Sự biến đổi quá ư nhanh chóng, cứ như thể ngay từ khi ra khỏi nhà thờ, bà ta chỉ có một mình, mang tang chồng và giấu cặp mắt đỏ hoe. Hai ngày đó chập làm một - cái ngày nhuốm màu bầu trời rạng rỡ, rộn tiếng chuông ngân và lộng gió hè, ngọn gió thổi dường như càng thúc đẩy nhanh hơn bước tới lui qua lại của khách khứa. Và hơi nóng của nó dán bết lên mặt người phụ nữ trẻ lúc thì chiếc khăn voan trắng cô dâu, lúc thì chiếc khăn trùm đen góa phụ.

Về sau, cái thời gian lạ lùng ấy trở về với dòng chảy bình thường và được ghi dấu bằng những đêm không ngủ và dãy dài những thân thể què cụt diễu qua. Giờ giấc lúc này rộn ràng như trong những phòng học lớn trường trung học Neuilly. Sự hiểu biết đầu tiên của cô về thân thể đàn ông là hình ảnh thứ thịt da rắn chắc bị dập xé máu me kia. Và bầu trời đêm những năm ấy chứa đầy vĩnh viễn hình bóng quái gở hai khinh khí cầu Đức màu xám nhạt giữa những tia đèn chiếu mọc lên trời như những măng đá.

Cuối cùng rồi cũng có một ngày, cái ngày 14 tháng bảy 1919, rất đông binh lính không đếm xuể kéo qua Neuilly tiến về thủ đô. Trang phục chau chuốt, ánh mắt hiên ngang, giày đánh xi bóng loáng - chiến tranh lấy lại dáng vẻ diễu binh của nó. Anh ta có trong số đó không ấy nhỉ, cái anh chàng chiến binh sẽ đặt vào tay Charlotte một viên sỏi con, cái mảnh đạn pháo đầy gỉ? Hai người có yêu nhau không ấy nhỉ? Hoặc là đã hứa hôn?

Cuộc gặp gỡ này không thay đổi gì quyết định của Charlotte, vốn sắp sẵn từ nhiều năm trước. Có dịp đến đầu tiên, may mắn lạ thường, cô liền đi sang Nga. Chưa hề có mối liên hệ nào gắn bó cô với cái đất nước bị nội chiến tàn phá này. Năm ấy là năm 1921. Một phái đoàn Chữ Thập Đỏ chuẩn bị đi đến vùng Vonga nơi xẩy những vụ chết đói. Charlotte được nhận vào làm y tá. Đề nghị của cô nhanh chóng được chấp nhận do hiếm người tình nguyện. Nhưng nhất là do cô nói được tiếng Nga.

Chính ở nơi đây cô mục kích bao cảnh nhọc nhằn. Từ xa, cái nơi nhọc nhằn này nom cũng giống như những làng Nga yên tĩnh - nhà ghép gỗ, giếng, hàng rào - chìm trong sương mù tỏa từ dòng sông lớn. Lại gần, nó đứng yên bất động trong những cảnh chụp do người thợ ảnh lấy ra từ những ngày tẻ nhạt kia: một nhóm nam nữ nông dân mặc áo da cừu, đứng im lìm trước một đống những bộ xương người, những thân thể xé từng mảnh, những mảng thịt chẳng còn nhận ra hình thù. Rồi cái thằng bé trần truồng trong tuyết - tóc dài rối bời, mắt sắc như mắt ông già, thân hình teo tóp như con bọ. Cuối cùng, trên mặt băng chỗ đường cái, một cái đầu lăn lóc, mắt mờ mờ đục. Tệ nhất là các cảnh chụp ấy không cố định. Do vì anh thợ ảnh gập cái giá ba chân và đám nông dân đi ra khỏi khung ảnh, nên họ lại trở về sống trong cái kiểu đơn giản đến lạ lùng của những cử chỉ thường ngày. Phải, họ vẫn tiếp tục sống! Một người đàn bà cúi xuống thằng bé và nhận ra đó là con mình. Và chị chẳng biết làm gì với cái ông già - sâu bọ. Thế rồi ông ta nghe từ cổ họng chị thốt ra tiếng tru như của chó sói. Không có bức ảnh nào có thể ghi lại được tiếng tru ấy… Một bác nông dân nhìn thẳng vào mắt chiếc đầu vứt trên đường. Rồi cúi xuống vụng về nhặt nó bỏ vào túi vải len thô, lẩm bẩm: “Để phải đem chôn”.

Rồi lại phải đi vào các ngôi nhà gỗ của cái cảnh đói khổ bình yên này để phát hiện ra là cái bà già đang nhìn ra đường qua mặt kính, thực ra là xác khô đét một cô gái chết cách đây nhiều tuần, ngồi cạnh cửa sổ với chút hy vọng sống còn đầy tuyệt vọng.

Charlotte rời phái đoàn ngay khi trở về Mạc tư khoa. Từ khách sạn đi ra, cô hòa vào trong đám đông ồn ào hỗn tạp nơi quảng trường và biến mất. Ở chợ Soukharevka chuyên nghề đổi chác, cô đổi đồng năm frăng bằng bạc (anh bán hàng ghé răng cắn rồi gõ gõ vào lưỡi rìu để thử) lấy hai chiếc bánh mì tròn làm lương ăn cho những ngày đầu đi đường. Cô đã ăn vận như một người Nga, và tại nhà ga xe lửa trong cảnh chen chúc hỗn độn lên toa, chẳng ai chú ý đến người đàn bà trẻ đang vừa sửa lại xắc đeo lưng vừa đánh vật với cảnh xô đẩy hoảng loạn của đám đông lùng nhùng.

Cô đi rong ruổi, và trông thấy tất cả. Cô bất chấp cái vô tận của đất nước này, bất chấp cái không gian càng lúc càng lùi xa trong đó những ngày những năm tháng sa lầy. Mặc dầu tất cả, cô vẫn cứ đi, lội bì bõm trong cái thời gian tù hãm. Bằng xe lửa, xe ngựa, đi bộ…

Cô trông thấy tất cả. Cả một bầy ngựa thắng yên cương mà không có người cưỡi phi trên cánh đồng, dừng chốc lát rồi hoảng hốt lại phóng điên cuồng vừa sung sướng vừa kinh hãi vì cái tự do vừa giành được. Trong đám ngựa có một con khiến mọi người chú ý. Một thanh kiếm cắm ngập vào yên, dựng đứng trên lưng nó. Con vật phi và chiếc lưỡi dài cây gươm cắm chặt trong tấm da thuộc dày đung đưa mềm mại, lóng lánh lên dưới mặt trời xế. Mọi người đưa mắt dõi theo những ánh đỏ tía kia cứ mờ dần trong sương mù cánh đồng. Họ hiểu là thanh kiếm, cán đúc chì, hẳn đã chẻ một thân người.

Cô cũng nom thấy những xác ngựa chết được kéo từ giếng lên. Và thấy những cái giếng mới đào trong đất mỡ màng dịn chặt. Các súc gỗ tròn đưa xuống lót bụng giếng còn thơm mùi gỗ mới.

Cô trông thấy một đám dân làng, dưới sự chỉ huy của một người đàn ông khoác áo da màu đen, đang hè nhau kéo một sợi giây thừng lớn quấn quanh cái nóc tròn một ngôi nhà thờ với cây thánh giá. Tiếng đổ vỡ răng rắc liên tục dường như kích thích họ hăng thêm. Trong một làng khác, mới tinh mơ, cô thấy một bà già quỳ trước một chiếc vòm củ hành nhà thờ vứt chơ chỏng giữa các nấm mồ một khu nghĩa địa không có hàng rào nhìn trống trơn ra cánh đồng.

Cô đi qua những làng mạc hoang vắng có những mảnh vườn quả chín nẫu rụng xuống cỏ hoặc khô quắt trên cành. Trong một thành phố có hôm, ở chợ, một người bán hàng chặt tay một đứa trẻ định đánh cắp một quả táo. Tất cả những con người cô gặp dường như hoặc đang lao về một mục tiêu không rõ, bằng cách chen chúc nhảy lên tàu và các bến đò, hoặc là chờ đợi, chẳng biết đợi ai - trước những nhà hàng cửa đóng kín, cạnh những cánh cổng có lính gác hoặc đôi khi chỉ là đứng đợi ngay cạnh đường.

Khoảng không gian nơi cô xông pha vào không biết đến sự trung dung: cảnh người người lớp lớp chồng chất không thể tưởng tượng nổi bỗng nhiên nhường chỗ cho cảnh hoang vắng hoàn toàn nơi cái mênh mông bầu trời, cái thẳm sâu rừng núi khiến sự hiện diện của con người là không thể hình dung được. Thế rồi cái trống rỗng ấy, không hề có sự chuyển tiếp, dẫn tới một cảnh chen lấn ác liệt đám nông dân đang lội bì bõm trong cái bờ đất một con sông dềnh lên do mưa rào mùa thu. Vâng, Charlotte cũng nom thấy điều đó. Những người nông dân giận dữ nọ dùng cây sào dài, gạt đẩy một cái xà lan trên đó dậy lên tiếng rên rỉ bất tận. Người ta nom thấy những bóng người trong xà lan giơ cánh tay gầy đét về phía bờ. Đó là những người mắc bệnh sốt chấy rận bị ruồng bỏ đang trôi giạt trên cái trên cái nghĩa địa nổi đã nhiều ngày. Cứ mỗi lần chiếc xà lan gắng cập bờ, người trên bờ lại hùa nhau xô ra. Chiếc xà lan lại tiếp tục cuộc nổi trôi tang tóc, lúc này có cả những người chết vì đói. Chẳng bao lâu họ cũng chẳng còn sức cố gắng đáp vào bờ, và những người sống sót cuối cùng, một hôm nào đó bị đánh thức bởi tiếng sóng ầm ào đều đặn, sẽ nom thấy xa xa đường chân trời dửng dưng lạnh lẽo biển Caspienne.

Ở một cửa rừng, vào một sáng lóng lánh sương giá, cô nom thấy những bóng người lủng lẳng trên cành cây, cái cười nhăn nhó tiều tụy của những kẻ bị treo cổ mà chẳng ai nghĩ đến chôn cất. Và cao tít trên bầu trời xanh lộng nắng, bóng một đàn chim di cư mờ tan dần, tăng thêm vẻ vắng lặng bằng tiếng hót lảnh lót dội về.

Cái hơi thở nồng nặc ngừng ngắt từng quãng của cái thế giới Nga này không làm cô kinh hãi nữa. Cô đã học được bao nhiêu điều từ ngày ra đi. Cô biết mẹo khi ngồi trong toa tàu hay đi xe ngựa nên mang theo một cái túi nhét đầy rơm và mấy hòn sỏi dưới đáy. Bọn cướp đêm sẽ giằng lấy cái túi này là chủ yếu. Cô biết khi ngồi trên nóc toa chỗ tốt nhất là cạnh lỗ thông hơi: từ cái lỗ này người ta buộc thừng để tụt xuống hoặc leo lên nhanh chóng. Và khi may mắn tìm được chỗ trong hành lang toa tàu chật ních, chẳng việc gì phải ngạc nhiên nếu thấy những người chen chúc trên sàn chuyền tay nhau một đứa bé vẻ hớt ha hớt hải ra phía cửa. Những người đang co ro gần chỗ đó mở cửa ra và giữ đứa bé phía trên bậc lên xuống một lát để nó tiểu tiện hoặc đại tiện. Việc dịch chuyển này có vẻ khiến họ vui vui thật sự, họ mỉm cười, mủi lòng vì cái sinh linh nhỏ bé ấy lặng lẽ để mặc cho người ta làm, họ xúc động trước cái chuyện mót ỉa đái nó là tự nhiên biết bao giữa cái thế giới bất nhân này… Cũng chẳng cần ngạc nhiên, khi nghe tiếng thì thầm nổi lên giữa tiếng tàu giằn rầm rập trên đường ray: người ta chuyền tin cho nhau về cái chết của một hành khách vùi trong tầng sâu những cuộc đời lẫn lộn mù mịt.

Chỉ có một lần, trong chuyến đi xuyên dài ngày cắm mốc bằng bao nhiêu đau đớn, máu me, bệnh tật, bùn lầy, cô tưởng như thoáng thấy một mảnh của niềm thanh thản và hiền minh. Đã là phía bên kia dãy Oural. Vừa ra khỏi một thị trấn hỏa hoạn thiêu hủy mất một nửa, cô nom thấy mấy người ngồi trên một cái gò phủ đầy lá rụng. Gương mặt xanh xao của họ hướng về phía mặt trời dìu dịu cuối thu biểu lộ một vẻ bình thản chứa chan hạnh phúc. Bác nông dân đánh chiếc xe ngựa gật gù khẽ mách: “Tội nghiệp. Có đến mười hai người đi lang thang ở đây. Nhà thương của họ đã bị cháy. Dân mắc chứng điên ấy mà”.

Không, chẳng còn có gì có thể làm cô ngạc nhiên.

Thường khi, bị ép chặt trong bóng tối ngột ngạt toa tàu, có mơ thấy một giấc mơ ngắn, chói lòa và hoàn toàn huyền hoặc. Chẳng hạn như nom thấy mấy con lạc đà to lớn đi dưới tuyết, đang quay đầu khủng khỉnh nhìn về phía một ngôi nhà thờ. Bốn người lính đi ra khỏi cửa nhà thờ giắt theo một ông mục sư đang thuyết giảng họ bằng giọng run run. Những con lạc đà bướu phủ đầy tuyết, cái nhà thờ, đám đông hớn hở… Trong giấc ngủ Charlotte nhớ ra rằng xưa kia những cái hình bóng nổi bướu gù kia bao giờ cũng gắn liền với cây cọ, sa mạc, ốc đảo…

Và chính lúc bấy giờ cô nhô ra khỏi cơn trì độn, không, chẳng phải mơ đâu! Cô đang đứng giữa một cái chợ thuộc một thành phố không quen biết. Tuyết rơi đầy bám trên lông mi. Khách qua đường đến gần sờ vào chiếc mặt giây chuyền bằng bạc mà cô tính đem đổi bánh mì. Những con lạc đà vượt cao hẳn đám mua bán lúc nhúc, nom như những chiếc thuyền rồng kỳ quặc đặt trên giá. Và dưới con mắt đám đông thích thú, mấy người lính đẩy ông mục sư lên một chiếc xe quệt độn rơm.

Sau cái giấc mơ hư hư thực thực ấy, cuộc đi dạo buổi chiều quả là rất thường ngày, rất thực. Cô đi ngang qua một đường phố có vỉa hè loang loáng dưới ánh cây đèn đường lù mù. Đẩy cửa một cửa hàng bánh mì. Trong nhà ấm cúng, sáng đèn, nom có vẻ thân thuộc từ màu gỗ quầy hàng đánh véc ni cho đến cách bày bánh ngọt và sô cô la trong tủ kính. Bà nhà hàng mỉm cười nhã nhặn với cô như với khách quen và trao cho cô chiếc bánh mì. Trở ra đường, Charlotte chợt đứng dừng, bối rối: đáng lẽ phải mua nhiều bánh hơn nữa chứ! Hai, ba, không, bốn chiếc bánh tròn! Lại cũng phải nhớ tên đường phố có cái hiệu bánh tuyệt vời này. Cô đến trước ngôi nhà góc phố, ng]rng nhìn. Nhưng các con chữ có một dáng vẻ kỳ quặc, lờ mờ, chúng quấn quýt vào nhau, nhấp nha nhấp nháy “Ngốc ơi là ngốc! cô nghĩ bụng. Phố này là phố cậu mình ở đây mà…”

Charlotte giật mình tỉnh thức. Đoàn tàu bị chặn giữa cánh đồng, đầy những tiếng lao xao nháo nhác: một băng cướp đã giết bác lái tàu và lúc này đang đi lục lọi các toa giật lấy tất cả những gì tìm thấy. Cô cởi khăn san trùm lên đầu buộc các góc dưới cằm như bà già nông dân thường làm. Đoạn, vẫn còn mủm mỉm cười nhớ lại giấc mơ vừa rồi, cô đặt lên đầu gối các túi nhét đầy giẻ bọc quanh hòn đá…

Và nếu cô thoát để được sống sót trong hai tháng trời đi đường ấy, thì chỉ là vì cái lục địa mênh mang nơi cô đi qua đã no nê máu. Cái chết, ít ra trong vài ba năm, mất vẻ hấp dẫn của nó, trở nên quá nhàm và chẳng đáng để ra tay.

Charlotte đi xuyên qua Boiarsk, cái thành phố Xibêri của tuổi thơ, và cũng không buồn tự hỏi đây vẫn là giấc mơ hay đây là sự thực. Cô thấy yếu mệt quá rồi chẳng còn muốn suy nghĩ nữa.

Tại nhà ông thị trưởng, phía trên cửa ra vào, treo một lá cờ đỏ. Hai người lính cầm súng dẫm trong tuyết đi đi lại lại hai bên cửa… Vài cửa sổ nhà hát đã bị phá vỡ và vì không tìm ra gì hơn được bít tạm bằng mấy mảng phông bài trí bằng gỗ dán: chỗ thì lá cành điểm hoa trắng, chắc là cảnh trong kịch Vườn anh đào, chỗ thì cảnh mặt tiền một nhà nghỉ nông thôn. Phía trên cổng, hai người thợ đang chăng một tấm biểu ngữ dài vải đỏ: “Tất cả tham gia mít tinh quần chúng xã hội vô thần!” Charlotte đi chậm lại một chút thử đọc. Một người thợ rút chiếc đinh cắn trong miệng và đóng vào cạnh cái dấu chấm than.

- Chúng mình thế nào cũng làm xong trước tối nhá, lạy trời! Anh ta nói to với cậu bạn.

Charlotte mỉm cười đi tiếp. Không, cô chẳng nằm mơ đâu.

Một anh lính gác cạnh cầu ngăn cô lại hỏi giấy. Charlotte làm theo. Anh ta cầm giấy nhưng chắc hẳn không biết đọc nên quyết định giữ lại. Vả chăng anh ta cũng có vẻ ngạc nhiên vì cái quyết định của chính mình. “Cô sẽ được nhận lại sau khi ủy ban cách mạng đã xem xét”, anh ta bảo, rõ ràng có vẻ như lặp lại lời ai đó. Charlotte chẳng còn hơi sức đâu tranh cãi.

Ở nơi đây, Boiarsk, mùa đông đã đến từ lâu. Nhưng hôm ấy trời ấm, lớp băng dưới cầu phủ những mảng lớn ẩm ướt. Dấu hiệu trở ấm đầu tiên. Và có những bông tuyết lớn lười biếng bay nhởn nhơ trong cái lặng im trắng toát của những khu đất hoang mà cô đã bao lần đi qua hồi bé.

Bằng hai cửa sổ bé như hai con mắt ngôi nhà gỗ dường như đã nhận ra cô từ xa. Vâng, ngôi nhà nhìn cô đi tới gần, gương mặt nó đầy nét nhăn rạng lên một cái cười nhăn nhó khó nhận ra, một niềm vui cay đắng của cảnh gặp lại.

Charlotte chẳng trông đợi gì nhiều về cuộc thăm viếng này. Cô đã chuẩn bị tinh thần từ lâu để đón nhận những tin không vui: chết chóc, phát điên, biến mất. Hoặc là một sự vắng mặt đơn thuần, không thể giải thích, tự nhiên như không, chẳng làm ai ngạc nhiên. Cô tự ngăn cấm mình hy vọng mà vẫn cứ hy vọng.

Những ngày cuối đi đường, sức đã kiệt quệ quá chừng cô chỉ còn nghĩ đến cái hơi nóng lò sưởi lớn nơi cô sẽ đến tựa vào và ngã lăn đùng xuống sàn nhà.

Từ tam cấp ngôi nhà, cô nom thấy dưới gốc táo cằn cỗi một bà cụ già, đầu trùm kín mít trong chiếc khăn quàng đen. Còng lưng, bà cụ lôi một cành cây to vùi trong tuyết. Charlotte cất tiếng gọi. Nhưng bà cụ không quay lại. Giọng cô yếu ớt quá và tan nhanh trong không khí trầm đục của thời tiết trở ấm. Cô cảm thấy không còn sức gọi thêm lần nữa.

Cô ghé vai đẩy cửa. Chỗ lối vào, tối và lạnh, thấy cả một đống gỗ dự trữ - ván thùng, ván sàn và thậm chí cả những phím dương cầm dồn một đống nhỏ đen trắng. Charlotte nhớ lại chính đàn dương cầm trong các nhà giàu là cái chủ yếu gây tức giận của hàng xóm. Cô đã nom thấy một chiếc bị rìu đập vỡ, kẹt trong băng trong một con sông…

Khi cô bước vào trong nhà, cử chỉ đầu tiên là sờ vào mấy hòn đá lò sưởi. Nó vẫn còn âm ấm. Cô cảm thấy bàng hoàng dễ chịu. Đã định tiến đến gần lò sưởi cô bỗng nom thấy một cuốn sách mở đặt trên chiếc bàn ghép bằng ván gỗ nâu sỉn theo thời gian. Một cuốn sách nhỏ giấy ram ráp. Ngồi tựa trên chiếc ghế dài, cô cúi nhìn xuống các trang mở. Kỳ quặc thay, các con chữ bỗng chập chà chập chờn, hòa tan đi - hệt như cái đêm trong toa tàu cô đã mơ thấy đường phố Paris nơi ông cậu ở. Lần này thì chẳng phải giấc mơ, mà là nước mắt. Đó là một cuốn sách Pháp.

Bà cụ trùm khăn đen bước vào và vẻ như chẳng hề ngạc nhiên khi nom thấy người phụ nữ trẻ mảnh mai kia đang từ ghế đứng dậy. Những cành cây khô bà cụ ôm trong tay rỏ từng sợi tuyết dài xuống sàn nhà. Gương mặt tàn tạ nom giống bất cứ gương mặt bà cụ nông dân nào trong vùng Xibêri này. Cặp môi đầy một mạng li ti những nếp nhăn rung lên. Và từ chính cái miệng kia, từ bộ ngực lép kẹp của con người khó nhận ra kia buột lên giọng nói của bà Albertine, một giọng không hề thay đổi lấy một ly:

- Mấy năm nay, mẹ chỉ sợ có một điều: là mày trở về đây!

Vâng, đó là câu đầu tiên bà Albertine nói với con gái. Và Charlotte hiểu ra: những điều hai mẹ con đã trải từ ngày giã biệt trên sân ga, cách đây tám năm, vô số những cử chỉ, gương mặt, lời nói, khổ đau, thiếu thốn, hy vọng, lo buồn, kêu thương, nước mắt - toàn bộ cái ầm ì sự sống vang lên trên nền một tiếng vọng không chịu tắt: cái cuộc gặp gỡ này, mong mỏi biết bao, đáng sợ biết chừng nào.

- Mẹ tính nhờ ai viết thư cho con bảo rằng mẹ đã chết. Nhưng rồi xẩy chiến tranh, rồi cách mạng. Rồi lại chiến tranh nữa. Thế rồi…

- Thư có viết thế con cũng chả tin đâu…

- Ừ, vả chăng mẹ cũng nghĩ là dù thế nào con cũng không tin…

Bà cụ đặt bó cành cây cạnh lò sưởi và đến gần Charlotte. Lần ở Paris bà nhìn con gái mình qua cửa sổ toa tàu, cô bé lên mười một tuổi. Giờ đây cô sắp sửa tuổi hai mươi.

- Con có nghe thấy không, bà Albertine thì thào, mặt tươi rạng lên và bà quay về phía bếp lò. Đàn chuột nhắt, con còn nhớ không? Nó vẫn còn đấy…

Lát sau, ngồi xổm trước ngọn lửa đang bừng lên sau cánh cửa nhỏ bằng gang, bà Albertine lẩm bẩm như nói một mình, không nhìn Charlotte nằm trên ghế dài vẻ thiu thiu:

- Cái đất nước này là thế. Vào thì dễ nhưng chẳng bao giờ ra khỏi được đâu…

Nước nóng dường như một chất liệu mới tinh, chưa hề biết. Charlotte giơ tay đón dòng nước bà mẹ rót từ từ lên vai lên lưng từ một chiếc gáo bằng đồng. Trong bóng tối căn phòng chiếu bằng ngọn lửa liu riu một mảnh vỏ bào, những giọt nước nóng tựa như giọt nhựa thông. Nước mơn man thật dễ chịu khắp cơ thể mà Charlotte kỳ cọ bằng cục đất thó xanh. Cái khoản xà phòng chỉ còn là một kỷ niệm mơ hồ.

- Con gầy đi nhiều quá, bà Albertine thì thào, giọng nghẹn hẳn đi.

Charlotte cười khẽ. Và ngửa đầu với mái tóc ướt, cô thấy những giọt nước mắt cũng cái màu hổ phách ấy long lanh trong mắt lờ đờ của mẹ.

Những ngày sau đó, Charlotte thử hỏi xem bằng cách nào hai mẹ con có thể rời Xibêri (vì mê tín, cô không dám nói: trở về Pháp). Cô đi vào nhà ông thị trưởng cũ. Mấy người gác cửa mỉm cười với cô: dấu hiệu tốt chăng? Chị thư ký ông chủ tịch mới của Boiarsk bảo chị ngồi chờ ở một gian phòng bé - nơi mình ngày xưa chờ cái túi đựng thức ăn thừa. Charlotte nghĩ.

Ông lãnh đạo tiếp cô, ngồi sau chiếc bàn giấy to nặng, cô đã bước hẳn vào nhưng ông ta, cặp lông mày cau cau, vẫn tiếp tục gạch rất mạnh bằng bút chì đỏ lên các trang một cuốn sách. Có cả một chồng sách mỏng tương tự nằm trên bàn.

- Chào nữ công dân! Cuối cùng ông ta nói và chìa tay.

Hai người nói chuyện. Với một niềm kinh hãi chen nghi hoặc, Charlotte nhận thấy những lời đáp của vị viên chức giống như tiếng dội méo mó các câu hỏi của cô. Cô nói về Ủy ban Cứu tế Pháp và nghe dội lại một bài diễn văn ngắn về những mưu đồ đế quốc của Phương Tây dưới danh nghĩa nhân đạo tư sản. Cô nêu nguyện vọng đi Matxcơva và rồi… Tiếng dội ngắt lời cô: các lực lượng can thiệp của ngoại bang và các kẻ thù nội địa đang phá hoại cuộc sống tái thiết trong nước cộng hòa Xô viết trẻ tuổi.

Sau mười lăm phút trao đổi kiểu như vậy, Charlotte cứ muốn buột kêu lên: “Tôi muốn đi! Thế thôi!” Nhưng cái lô gích phi lý của câu chuyện vẫn chưa buông tha cô.

- Một chuyến tàu đi Matxcơva…

-Thủ đoạn phá hoại của bọn chuyên gia tư sản trong ngành đường sắt…

- Tình trạng sức khỏe mẹ tôi kém sút…

- Cái di sản kinh tế và văn hóa kinh khủng do chế độ Xa hoàng để lại…

Cuối cùng, kiệt lực, cô thì thào:

- Vâng, thế thì xin ông cho tôi lại giấy tờ…

Giọng ông lãnh đạo tựa hồ vấp phải một vật chướng ngại. Một nét co rúm nhanh chạy qua trên bộ mặt. Ông ta lẳng lặng đi ra khỏi bàn giấy. Lợi dụng lúc ông vắng mặt, Charlotte liếc nhìn cái chồng sách mỏng. Đầu đề khiến cô bối rối vô cùng tận: Để chấm dứt thói buông thả tình dục trong chi bộ Đảng (chỉ thị).

- Đúng là những chỉ thị như vậy mà ông lãnh đạo gạch dưới bằng bút đỏ.

- Chúng tôi không tìm thấy giấy tờ của cô, ông ta đi vào nói.

Charlotte cố đòi. Việc xảy ra lúc đó vừa khó tin vừa thật là lô gích. Ông lãnh đạo tuôn ra một tràng chửi rủa đến nỗi hai tháng sau cái dận trong toa tàu lèn chặt, lúc này cô vẫn còn choáng váng. Ông vẫn tiếp tục quát lác khi cô đã nắm quả đấm cửa. Đoạn ghé sát mặt vào mặt cô, ông ta thì thào:

- Tôi có thể bắt cô đem xử bắn ngay trong sân này, sau nhà xí ấy. Hiểu không, đồ gián điệp!

Lúc về, trong khi bước giữa cánh đồng tuyết phủ, Charlotte tự nhủ có một ngôn ngữ mới đang nảy sinh ở đất nước này. Một ngôn ngữ cô không hề biết, và vì thế cuộc đối thoại trong phòng giấy ông thị trưởng cũ cô cảm thấy như không thể tin nổi. Không, mọi việc đều có ý nghĩa riêng của nó: nào cái giọng hùng biện cách mạng đột nhiên trượt sang thứ ngôn ngữ thô lỗ, nào cái “con mẹ công dân gián điệp”, nào cuốn sách nhỏ quy định đời sống tình dục đảng viên. Đúng rồi, một trật tự sự vật mới đang được an bài. Mọi chuyện trong cái thế giới này, tuy thật quen thuộc, sắp đội một cái tên mới, người ta sắp áp dụng cho mỗi vật, mỗi con người một cái nhãn khác.

“Thế còn cái làn tuyết rơi chậm rãi này, cô nghĩ, những cái bông tuyết bay lửng lờ buổi trở ấm trong bầu trời chiều màu tím này?” Cô nhớ hồi còn bé đã vui sướng biết bao khi thấy lại tuyết trên đường phố, sau buổi dạy con gái ông thị trưởng. “Cũng như hôm nay vậy…” Cô tự nhủ và hít thở thật sâu.

Ít hôm sau, cuộc sống đông cứng lại. Vào một đêm trong trẻo, cái lạnh bắc cực tràn xuống từ trên trời. Thế giới chung quanh biến thành một khối pha lê nước đá trong đó khảm những cây cối lờm xờm sương giá, những cột trắng bất động phía trên các ống khói, nét lóng lánh bạc rừng taiga nơi chân trời, ông mặt trời viền một quầng có vân long lanh. Giọng nói không đi xa được, hơi nước ngưng đọng trên môi.

Hai mẹ con chỉ còn lo sống từng ngày một, bằng cách duy trì một khu vực nhiệt bé tẹo quanh thân mình.

Chính cái nhà gỗ isba đã cứu sống họ. Mọi sự đã được thiết kế để chống lại những mùa đông liên miên không dứt, những đêm sâu không đáy. Phải nói chính là chất gỗ các súc cây tròn lớn vốn chứa đựng cái từng trải gian khổ của bao nhiêu thế hệ người dân Xibêri. Bà Albertine đã cảm nhận ra cái hơi thở thầm kín của ngôi nhà cũ này, đã học cách sống mật thiết với nhịp sống chậm rãi nồng ấm của chiếc lò sưởi lớn chiếm nửa căn phòng, với cái vắng lặng rất sinh động của nó. Còn Charlotte khi quan sát các cử chỉ thường ngày của mẹ, thường hay mỉm cười nghĩ: “Bà cụ là một dân Xibêri thực thụ rồi!” Ở lối ra vào ngay từ hôm đầu cô đã chú ý có những bó cỏ khô. Chúng làm nhớ đến những cụm lá người Nga dùng để quất lên người trong các nhà tắm. Khi đã ăn hết khoanh bánh mì cuối cùng cô mới khám phá ra tác dụng thật sự các bó cỏ kia. Bà Albertine ngâm vào nước nóng và đến chiều, hai mẹ con ăn cái món mà về sau họ gọi vui là: “Món canh Xibêri” - lổn nhổn những nhánh, hạt và rễ. “Mẹ bắt đầu thuộc lòng tên các cây cỏ rừng taiga”, bà Albertine vừa nói vừa múc canh vào dĩa. “Mẹ đang tự hỏi tại sao người ở đây ít tận dụng nó phí vậy”.

Cái điều cứu sống họ còn là sự có mặt của con bé kia, con bé Di-gan một hôm hai mẹ con bắt gặp trên bậc tam cấp, hầu như rét cóng. Nó cào lên ván cửa lạnh cứng bằng các ngón tay cóng đờ bầm tím…

Để nuôi nó, Charlotte làm những việc mà cô sẽ chẳng bao giờ làm cho chính mình. Cô ra chợ ăn xin một củ hành, ít củ khoai tây quắt, tí mỡ lợn. Cô moi trong thùng rác gần nhà ăn của cơ quan Đảng, không xa mấy nơi ông lãnh đạo dọa bắn chết cô. Có lúc cô giúp dỡ hàng từ toa tàu xuống để nhận lấy chiếc bánh mì. Con bé, chỉ còn bộ xương bọc da, mấy ngày đầu lay lắt nơi biên giới mỏng manh giữa ánh sáng hư vô, rồi dần dà, với một sự ngạc nhiên ngập ngừng, lại tuôn nhập theo cái dòng chảy kỳ lạ những tháng ngày, lời nói, mùi vị - cái mà người ta gọi là sự sống…

Sang tháng ba, vào một ngày đầy nắng và đầy tiếng sào sạo bước chân khách bộ hành trên tuyết, một người đàn bà (mẹ hay chị?) đến tìm con bé và chẳng giải thích gì hết, mang nó đi. Charlotte chạy theo đến tận lối ra thị trấn và trao cho đứa bé Digan con búp bê to má bị tróc rạn nó vẫn thường chơi suốt những đêm đông dài… Con búp bê nầy vốn xưa kia đến từ Paris và cùng với những báo chí cũ trong chiếc va ly là một trong những di tích cuộc đời xưa cũ mẹ con cô.

Cái đói thực thụ, bà Albertine vốn biết, sẽ đến vào mùa xuân… Chẳng còn lấy một bó cỏ ở lối vào, chợ búa vắng tanh. Sang tháng năm, hai mẹ con trốn khỏi ngôi nhà gỗ mà chẳng biết đi đâu. Hai người đi trên con đường còn ẩm ướt mùa xuân, chốc chốc cúi xuống ngắt những ngọn rau chua me mới nhú.

Một phú nông nhận cho mẹ con vào làm công nhật trong trang trại của lão. Đó là một người dân Xibêri gầy mà khỏe, mặt lấp một nửa sau chòm râu thỉnh thoảng để lọt vài lời cụt lủn hiếm hoi quyết đoán.

- Chẳng tiền nong gì đâu nhá, lão nói không úp mở. Có chỗ ăn, chỗ ngủ. Ta nhận hai mẹ con mụ chẳng phải vì là người đẹp. Ta cần nhân công.

Hai mẹ con không còn con đường nào khác. Những ngày đầu, khi trở về, Charlotte bổ nhoài nằm như chết trên chiếc giường mọt, tay đầy nốt phỏng bị vỡ. Bà Albertine suốt ngày khâu bì cho vụ thu hoạch sắp tới và tận tình săn sóc con gái. Một tối, Charlotte mệt rũ đến mức gặp bác chủ trại, cô buột nói bằng tiếng Pháp. Bộ râu bác nông dân linh hoạt lên làm chuyển động cả gương mặt, mắt giãn dài - lão mỉm cười.

- Tốt, mai cháu có thể nghỉ. Nếu mẹ cháu muốn lên phố thì mẹ con cứ đi…

Lão bước ít bước rồi quay mình:

- Bọn trẻ trong làng chúng nó nhảy hàng đêm đấy, cháu có biết không? Cháu thích thì cứ đến…

Như đã giao hẹn, bác nông dân chẳng tính tiền nong gì hết. Sang thu, khi hai mẹ con chuẩn bị trở về thành phố, lão trỏ chiếc xe ngựa chở hàng hóa phủ tấm bạt bằng len thô.

- Ông lão này sẽ đánh xe, bác nói và nhìn về ông cụ nông dân ngồi trên ghế đằng trước.

Bà Albertine và Charlotte cảm ơn và leo lên xe ngồi cạnh thành chiếc xe chở đầy những sọt, những túi, gói.

- Bác chở mọi cái này ra chợ à bác? Charlotte hỏi để khỏa lấp cái im lặng ngượng nghịu lúc chia tay.

- Không. Giả công cho hai mẹ con đấy.

Hai người không kịp đáp. Lão đánh xe giật giây cương, chiếc xe lắc lư rồi lăn trong làn bụi nóng dọc cánh đồng. Dưới lần vải bạt, Charlotte và bà cụ khám phá ra ba túi khoai tây, hai bì lúa mì, một thùng con mật ong, bốn quả bí ngô to tướng và nhiều sọt rau, đậu táo. Trong một góc có nửa tá gà mái chân bị trói, giữa đám là một anh gà trống giương cặp mắt tức tối bất bình.

Bà Albertine nhìn mãi không chán mắt, cuối cùng mới nói:

- Mẹ cũng cứ phải nhặt phơi vài bó cỏ. Rồi đây chẳng biết thế nào.

Hai năm sau bà qua đời. Bấy giờ là một buổi chiều tháng tám, bình lặng trong trẻo. Charlotte đi làm ở thư viện về, cô nhận công việc nghiên cứu hàng núi sách tịch thu từ các khu nhà quý tộc bị phá… Bà mẹ đang ngồi trên chiếc ghế băng nhỏ sát cạnh tường, đầu dựa trên những súc gỗ tròn trơn láng. Chắc bà đã thiếp đi và tắt nghỉ trong giấc ngủ. Một cơn gió nhẹ vùng tai-ga thổi bay bay các trang một cuốn sách mở đặt trên đầu gối. Cũng vẫn là cuốn sách nhỏ bằng tiếng Pháp gáy mạ vàng đã sờn.

Hai người cưới nhau vào mùa xuân năm sau. Anh chồng vốn quê một làng bên bờ Biển Trắng, cách mười nghìn cây số cái thành phố Xibêri nơi cuộc nội chiến đã đưa anh lưu lạc đến. Charlotte nhanh chóng nhận ra rằng ở chồng, xen lẫn mối tự hào là một “thẩm phán nhân dân”, có một tâm lý bất ổn mơ hồ nào đấy mà lúc bấy giờ hẳn anh cũng chẳng thể phân tích lý do. Trong bữa tiệc cưới, một ông khách đề nghị đứng mặc niệm một phút để tưởng nhớ ngày Lênin qua đời. Mọi người đứng dậy… Ba tháng sau lễ cưới, anh được bổ nhiệm đến tận đầu mút kia xứ sở, tại Boukhara. Charlotte khăng khăng đòi mang theo cái va ly to đầy những tờ báo Pháp. Anh chồng không phản đối, nhưng trong toa tàu, chẳng thể giấu kín cái tâm lý bất ổn dai dẳng, anh giảng giải cho vợ hiểu là một đường ranh giới, khó vượt qua hơn bất cứ rặng núi nào, từ nay sẽ dựng lên giữa đời sống Pháp của cô và đời sống hai người. Anh tìm chữ để nói cái điều chẳng bao lâu nữa sẽ thành tự nhiên biết bao: cái màn sắt.

❀ ❀ ❀

[1] Cô học trò Nga dẫn ngụ ngôn La Fontaine (Pháp), bài Chó sói và cừu non, nhưng dẫn sai và phát âm chệch, Charlotte chỉnh lại.

[2] Cô học trò Nga dẫn ngụ ngôn La Fontaine (Pháp), bài Chó sói và cừu non, nhưng dẫn sai và phát âm chệch, Charlotte chỉnh lại.

[3] Cô học trò Nga dẫn ngụ ngôn La Fontaine (Pháp), bài Chó sói và cừu non, nhưng dẫn sai và phát âm chệch, Charlotte chỉnh lại.

[4] Tiếng Nga: Căn nhà kiểu Nga, loại bình dân

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.