4
“Ừ mà bà Charlotte chẳng còn gì để mách bảo cho mình nữa cả!”
Cái ý nghĩ ấy đến trong đầu sáng hôm trở về Saranza làm tôi bối rối. Tôi xuống tàu, là hành khách duy nhất xuống ga xép này. Đằng kia sân ga tôi nom thấy bà tôi huơ huơ tay và bước tới. Đúng lúc ấy, trong khi bước lại bà tôi nẩy cái trực cảm kia: Bà chẳng còn gì mới để mách bảo cho mình về nước Pháp, bà đã kể tất tật rồi và nhờ đọc sách mình đã tích lũy những kiến thức dễ thường còn rộng lớn hơn của bà… Khi ôm hôn bà, tôi cảm thấy xấu hổ về cái ý nghĩ ấy khiến chính tôi cũng thấy bất ngờ. Tôi coi nó như một sự vô tình phản bội.
Mặt khác, đã từ mấy tháng nay, tôi cảm thấy một niềm băn khoăn kỳ lạ: là đã biết quá nhiều. Tôi giống như cái anh chàng vốn tính tiết kiệm mong mỏi cái khoản dành dụm được chẳng bao lâu nữa sẽ tạo một lối sống hoàn toàn khác, mở ra một chân trời kỳ diệu, thay đổi cách nhìn sự vật – cho đến cả cách đi đứng, hít thở, trò chuyện với phụ nữ. Khoản dành dụm ấy đang không ngừng tăng thêm, nhưng sự biết đổi căn bản chưa chịu đến cho.
Cũng giống y như vậy với cái tổng số những hiểu biết tôi thu lượm được về nước Pháp. Chẳng phải tôi muốn kiếm lợi lộc gì. Vẻ hứng thú của thằng bạn lười học đối với những chuyện tôi kể làm tôi thỏa mãn quá rồi. Nhưng tôi hy vọng một cái bật “tách” bí ẩn, giống như tiếng bật lò xo trong hộp âm nhạc, một tiếng bật dòn dã báo hiệu bắt đầu điệu mơ nuy ê để các tượng nhỏ quay tròn nhảy nhót trên bục. Tôi ước cái mớ lộn xộn những ngày tháng, tên tuổi, sự kiện, nhân vật đúc kết lại thành một chất liệu cốt tử chưa hề thấy, kết tinh vào một thế giới hoàn toàn mới. Tôi muốn cái nước Pháp ghép trong tim tôi được nghiên cứu, khám phá, học hỏi, biến tôi thành một con người khác.
Nhưng điều thay đổi duy nhất xảy ra đầu mùa hè này là sự vắng mặt của chị gái tôi vừa đi Mạc tư khoa tiếp tục việc học. Tôi sợ không dám thú nhận với mình là do chị đi vắng có thể sẽ chẳng còn những buổi thức đêm trên ban công.
Đêm đầu tiên như thế để xác minh điều mình lo ngại, tôi nghĩ ra chuyện hỏi bà tôi về nước Pháp vào cái thời bà còn trẻ. Bà vui lòng trả lời, cho rằng tôi tò mò thực bụng. Bà Charlotte vừa trò chuyện vừa tiếp tục mạng cổ đăng ten chiếc áo lót. Bà luồn cây kim với một chút duyên dáng thẩm mỹ thường thấy ở người phụ nữ vừa làm việc vừa nói chuyện với người khách mà bà ta cho là đang quan tâm đến điều mình kể.
Tựa lên bao lơn ban công, tôi lắng nghe. Các câu hỏi tôi nêu như cái máy gợi lại, như tiếng dội, những cảnh của quá khứ hàng ngàn lần mình từng ngắm nghĩa trong thời thơ ấu, những hình ảnh thân thuộc, những con người quen: bác xén lông chó trên bến cảng sông Seine, cuộc đón rước nhà vua dạo quanh điện Champs – Elyées, người đẹp Otéro, ông Tổng thống ôm cô nhân tình trong một cái hôn trí mạng… Giờ đây tôi nhận ra rằng tất cả các chuyện ấy bà Charlotte đã kể đi kể lại với chúng tôi mỗi mùa hè, chiều lòng chị em chúng tôi muốn nghe lại chuyện cổ tích ưu thích. Vâng đúng vậy, đó không phải là cái gì khác hơn là những chuyện cổ tích thực sự, chúng tôi nghe không biết chán.
Mùa hè năm ấy tôi mười bốn tuổi. Thời gian những chuyện cổ tích, tôi hiểu rõ, sẽ chẳng ở lại nữa. Tôi đã hiểu biết nhiều nên không còn để cho trò nhảy múa đầy màu sắc kia mê hoặc. Kỳ lạ thay, thay vì vui thích trước cái dấu hiệu hiển nhiên là mình đã chín chắn, đêm ấy, tôi vô cùng luyến tiếc tính tin cậy hồn nhiên ngày trước. Vì những kiến thức mới vừa thu lượm được, khác với điều tôi chờ đợi, dường như lại làm mờ tối đi hình ảnh của tôi về nước Pháp. Cứ hễ tôi muốn trở về cái Atlantide thơ ấu thì một giọng thông thái liền can thiệp: tôi nom thấy những trang sách những ngày tháng in bằng chữ đậm. Và cái giọng kia liền cất tiếng bình luận, đối chiếu, dẫn giải. Tôi cảm thấy mắc một chứng mù kỳ lạ…
Một lúc nào đấy, cuộc chuyện trò đứt quãng. Tôi đã nghe lơ đãng đến nỗi những lời bà Charlotte vừa nói – dường như bà hỏi gì đấy – tôi không để lọt tai. Ngượng ngùng, tôi nhìn vẻ mặt bà đang ngừng nhìn. Tôi nghe trong tai âm hưởng câu bà vừa nói. Chính cái giọng điệu ấy giúp tôi khôi phục lại nội dung. Vâng, chính là giọng điệu khi người kể nói: “Ừ mà chuyện này, chắc hẳn các cháu đã nghe rồi. Bà chẳng muốn làm nhàm tai các cháu với những câu chuyện cũ rích…” còn người kể thì trong bụng thầm mong người nghe sẽ khích lệ là chưa hề nghe hoặc đã quên rồi… Tôi khẽ lắc đầu, lưỡng lự:
- Không đâu, không đâu. Nhưng bà có chắc là bà đã kể cho cháu nghe không đấy?
Tôi thấy gương mặt bà tôi rạng lên mỉm cười. Bà lại kể tiếp. Lần này tôi lắng nghe chăm chú. Và lần thứ một trăm, một ngàn, trước mắt tôi hiện lên con đường hẹp của Paris thời Trung cổ, một đêm thu lạnh và trên bức tường – cái biển âm u ảm đạm ghép chúng vĩnh viễn ba số phận và ba cái tên ngày xưa: Louis d’Orléans Jean sans, Peur,Isabeau de Bavière…
Chẳng hiểu sao tôi ngắt lời bà vào lúc này. Chắc hẳn tôi muốn chứng tỏ sự uyên bác của mình. Nhưng nhất là vì cái sự phát hiện này khiến tôi sửng sốt: một bà già trên chiếc ban công treo lơ lửng giữa thảo nguyên mênh mông vô tận,một lần nữa nhắc lại một câu chuyện thuộc long, bà nhắc lại kiểu chính ác như cái đĩa hát, trung thành với cái câu chuyện ít nhiều huyền hoặc nói về một đất nước chỉ tồn tại trong ý ức bà …
Cảnh hai người đối mặt trong cái vắng lặng khuya đêm tôi cảm thấy như kỳ cục, giọng bà Charlotte cứ như giọng người máy. Tôi tóm lấy cái tên nhân vật bà vừa nhắc và kể tiếp vào. Jean sans Peur và những mánh khóe thông đồng giữa anh ta với bọn Anh. Paris nơi các bác hàng thịt bỗng dưng thành “nhà cách mạng”, làm mưa làm gió và tiêu diệt bọn kẻ thù của Bour-gogne hoặc bị gán cho tội ấy. Rồi là ông vua đầu tiên. Rồi những cái giá treo cổ trên các quảng trường Paris. Rồi các đàn sói lảng vảng trong ngoại ô thành phố bị nội chiến tàn phá. Rồi sự phản phúc không thể tưởng tượng được khi Isabeau de Baviére liên kết với Jean sans Peur và từ bỏ thái tử, khẳng định rằng anh này không phải con vua. Vâng, cái nàng Isabeau xinh đẹp tuổi thiếu thời chúng tôi…
Tôi bỗng ngột thở, lời nghẹn trong cổ họng, tôi còn muốn nói quá nhiều. Sau một lát yên lặng, bà tôi khẽ gật đầu, nói rất chân thành:
- Bà rất sung sướng là cháu hiểu biết lịch sử đến vậy!
Thế nhưng trong giọng nói vẻ đầy tin chắc kia, tôi dường như nhận thấy dư âm một ý nghĩ thầm: “Hiểu biết lịch sử là tốt. Nhưng khi bà nói về Issabeau và về con đường Arbalétriers, về cái đêm thu ấy, là bà đang nghĩ đến một điêu khác hẳn…”
Bà cúi xuống đồ khâu, tay lanh lẹn đưa mũi kim chính ác đều đặn. Tôi đi ngang qua phòng, bước xuống dường. Tiếng còi vang lên xa xa. Tiếng vang ngàn ngạt trong hơi nóng ban chiều nghe như tiếng thở dài, rền rĩ.
Giữa ngôi nhà bà Charlotte ở và thảo nguyên có một khu rừng nhỏ rất rậm rạp, thậm chí khó chui lọt: toàn những bụi dâu rừng, những cảnh phi gai góc, những hầm bị sập đầy cây tầm ma. Vả chẳng cả khi chúng tôi vượt qua được những trở ngại tự nhiên kia để chơi trò chơi thì lại còn có những chướng ngại do con người tạo ra: các hàng rào dây thép gai quấn quýt, các vật han gỉ vứt ngổn ngang chống xe tăng… Người ta gọi khu này là “Stalinka” lấy tên tuyến phòng thủ xây ở đây hồi chiến tranh. Họ sợ tụi Đức mò được đến đây. Nhưng sông Vôn ga và nhất là Stalingrad đã chặn chúng lại… Tuyến phòng thủ đã bị dỡ bỏ, những thứ dụng cụ chiến tranh còn sót nằm vương vại, khu rừng này chỉ thừa kế được có cái tên. Khu”Stalinka” dân Saranza gọi vậy, và thị trấn của họ tự dưng được liệt vào các chiến công lừng lẫy của Lịch sử.
Người ta bảo khu rừng có chôn min. Điều này khiến những đứa bạo dạn nhất trong chúng tôi đâm sợ không dám xông pha vào cái no mans land[1] kia vùi dưới các của cải han gỉ.
Chính sau khu rừng Stalinka là nơi có đường tàu hẹp chạy qua; cứ như thế đó là một đường tàu thu nhỏ kiểu mô hình, với chiếc đầu tàu đen sì muội than, những tao tàu be bé và – như trong một ảo ảnh thị giác – bác lái tàu mặc chiếc áo lót lấm lem dầu mỡ: một ông khổng lồ nom như người ngả nghiêng mình ra cửa sổ. Mỗi lần, trước khi cắt ngang qua một con đường đất chạy về phía chân trời, chiếc đầu tàu thét lên tiếng còi nửa dịu dàng nửa rền rĩ. Được nối thêm tiếng dội, tiếng còi ấy nghe như tiếng hót lanh lảnh con chim cu cu. “Con Koukouchka” đấy, chúng tôi liếc nhìn nhau bảo khi thấy đoàn tàu chạy trên đường ray hẹp mọc tràn hoang hủy những cây bồ công anh và cúc cam.
Chính tiếng con tàu đã dẫn dắt tôi chiều hôm ấy. Tôi men vòng quanh các bờ bụi khu Stalinka, nom thấy toa tàu cuối cùng lướt qua và mờ dần trong bóng hoàng hôn ấm. Cả đến cái đoàn tàu nhỏ bé này cũng tỏa cái thứ mùi đặc biệt của xe lửa, hơi hăng hắc và như vô tình mời gọi lên đường tìm những cuộc viễn du tốt lành do bất thần nảy ý. Nơi xa, từ làn sương chiều xanh nhạt, tôi nghe một tiếng “cú u u” buồn buồn. Tôi đặt chân lên đường ray đang khẽ rần rật sau khi tàu đi qua. Khi thảo nguyên bình lặng dường như đợi chờ ở tôi một cử chỉ, một bước chân.
“Ôi, cứ như trước mà lại hay bao nhiêu, tôi nghĩ thầm trong bụng. Cái Koukouchka mà xưa kia ta tưởng nó đi về một hướng nào xa lạ, tới những đất nước không có trên bản đồ, những dặng núi thuyết phủ, một biển đêm nơi các ngọn đèn thuyền và các ngôi sao xen kẽ. Giờ đây ta biết;à chiếc tàu này đi từ nhà máy gạch Saranza ra ga để rồi chuyển hàng đi tiếp. Vẻn vẹn hai hoặc ba cây số là cùng. Hành trình mới đẹp làm sao! Ừ, giờ đây ta biết điều đó và sẽ không bao giờ còn có thể nghĩ con đường ray này là vô tận và đêm nay là duy nhất, với cái mùi thảo nguyên nồng nàn này, bầy trời bao la này, và với sự hiện diện của ta khó giải thích mà lại cần thiết đến kỳ lạ ở nơi này cạnh con đường sắt này với những thanh tà vẹt nứt nẻ, đúng lúc này, với dư âm của tiếng “cu u u” trong không gian tím. Trước kia, mọi cái với ta dường như tự nhiên biết bao…”
Đêm, trước khi ngũ thiếp, tôi nhớ là cuối cùng đã hiểu được nghĩa của câu thần chú trong thực đơn bữa tiệc thết Sa hoàng: “bartavelles et ortolans truffés rôtis”, Vâng, giờ đây tôi biết đó là món thịt săn mà những người sành ăn rất ưa chuộng. Một món ăn tinh tế, thơm ngon, quý hiếm, nhưng chẳng có gì hơn nữa. Tha hồ cho tôi lặp đi lặp lại như hồi xưa: “bartavelles et ortolans”… cái ma lực khiến ngực tôi căng đầy gió mặn của Cherbourg nay vô hiệu mất rồi. Và với niềm phân vân tuyệt vọng, tôi lẩm bẩm một mình, mở to mắt trong bóng tối:
Vậy là ta đã sống một phần của đời ta!
Từ nay trở đi, hai bà cháu tôi nói để chẳng nói gì hết. Chúng tôi thấy giữa bà cháu dựng lên tấm màn chắn làm chằng những từ trơn nhẵn, những vang vọng âm thanh của cái thường ngày bằng thứ chất nước ngôn ngữ mà người ta cảm thấy bắt buộc phải dùng để đổ đầy cái lặng im, cũng chẳng hiểu vì sao nữa. Tôi kinh hãi khám phá ra rằng nói, thật ra là cách tốt nhất để im đi điều cốt yếu. Trong khi muốn nói điều cốt yếu này, lẽ ra phải cấu âm các từ môi cách khác hẳn, thì thào thì thầm, đan dệt chúng trong những âm thanh ban đêm, trong những ánh nắng xế. Một lần nữa, tôi cảm thấy trong tôi sự sinh thành bí ẩn của một thứ ngôn ngữ khác xa bao nhiêu với những câu trao đổi dùng đi dùng lại đến cùn mòn, một thứ ngôn ngữ mà tôi có thể dùng nó mà nói khe khẽ khi gặp ánh mắt bà Charlotte:
- Bà ạ, tại sao cháu lại thấy tim mình thắt lại khi nghe tiếng còi tàu Koukouchka văng vẳng gọi? Tại sao một buổi sáng thu ở Cherbourg cách đây một trăm năm, vâng, cái thời khắc cháu chưa bao giờ sống, trong một thành phố cháu chưa bao giờ viếng thăm, tại sao luồng ánh sáng và ngọn gió của nó cháu lại cảm thấy sinh động hơn những ngày cháy đang sống thực? Vì sao chiếc ban công của bà chẳng còn bay lượn trong không gian tím ban chiều, trên thảo nguyên? Vẻ trong suốt mơ màng bọc quanh nó đã tan vỡ mất rồi, như cái bình nhà ma thuật. Và những mảnh thủy tinh vỡ kia kêu răng rắc, ngăn cản chúng ta nói năng như ngày trước… Và những kỷ niệm của bà mà giờ đây cháu thuộc lòng phải chăng thành một cái lồng nó giam hãm bà? Và cuộc sống chúng ta, phải chăng chính nó là sự biến đổi hằng ngày cái hiện tại sinh động ấm nóng thành một bộ sưu tập những kỷ niệm cóng đờ như những con bướm bị mũi kim găm căng ra dưới tấm kính bụi bặm? Và vậy thì tại làm sao cháu lại cảm thấy sẵn sàng đem cho đi toàn bộ sưu tập này để đổi lấy cái cảm giác chua chát độc nhất vô nhị bám trên môi cháu từ chiếc cốc bạc bé xíu trong tiệm cà phê hư ảo ở Neuilly? Đổi lấy dù chỉ một ngọn gió mặc Cherbourg? Dù chỉ một tiếng còi duy nhất của Koukouchka vẳng đến từ tuổi thơ ấu?
Trong lúc ấy, chúng tôi vẫn tiếp tục lấp đầy cái im lặng, như một chiếc thùng tô nô không đáy của các nàng Danaides trong huyền thoại Hy Lạp đổ nước mãi vẫn không đầy, bằng những từ vô ích, những lời nói đối đáp trống rỗng: “Hôm nay nóng hơn hôm qua. Lão Gavrilytich lại say bét nhè… Con tàu Koukouchka chiều nay chưa thấy đi qua… Ngoài thảo nguyên hình như có đám cháy, nhìn xem! Không, chỉ là đám mây. Để bà pha trà mới… Hôm nay ngoài chợ thấy bán dưa hấu Ouzbek…”
Cái điều khó nói ra! Nó gắn liền một cách bí ẩn, giờ đây tôi đã hiểu, với cái điều cốt yếu. Điều cốt yếu là khó nói ra. Là không thể giao cảm. Và mọi sự trên thế gian này vốn thường hành hạ giằn vặt tôi bởi vẻ đẹp câm lặng, mọi sự bất cẩn đến lời nói, tôi cảm thấy nó mới là điều cốt yếu. Cái khó nói ra là điều cốt yếu.
Phương trình này tạo trong đầu óc non trẻ của tôi một thứ chập mạch tinh thần. Và chính nhờ tính xúc tích của nó mà mùa hè này tôi rơi vào một sự thực đáng sợ: “Người ta nói vì người ta sợ im lặng. Họ nói như cái máy, nói to hoặc nói thầm một mình, họ say sưa với cái bột nhão lời lẽ nó kết dính mọi vật mọi con người. Họ nói về trời mưa trời nắng, họ nói về tiền bạc, tình yêu, chẳng về cái gì sất. Và họ sử dụng, ngay cả khi nói về tình yêu cao cả của mình, những từ đã lập đi lặp lại hàng trăm lần, những câu chữ sờn mòn đến trơ bì. Họ nói để nói. Họ muốn xua đuổi cái im lặng…”
Chiếc bình giả kim đã tan vỡ. Ý thức về cái vô duyên vô vị lời nói của ta, chúng ta vẫn tiếp tục cuộc đàm thoại thường ngày: “Có lẽ sắp mưa. Xem mây kéo đùn đùn kia kìa. Không, đấy là thảo nguyên bốc cháy… À này, con tàu Koukouchka hôm nay chạy qua đây sớm hơn thường lệ… Lão Gavrilytch… Trà… Ở ngoài chợ…”
Đúng rồi, một phần quãng đời tôi đã ở phía sau tôi. Cái tuổi thơ.
Xét cho cùng thì hè này, những câu chuyện trao đổi về mưa nắng không phải hoàn toàn vô căn cứ. Trời thường đổ mưa, và nỗi buồn của tôi nhuốm kỳ nghỉ hè ấy trong ký ức bằng những sắc màu mù sương ấm nóng.
Đôi lúc, từ chiều sâu chuỗi ngày chậm rãi xám xịt, một ánh hồi quang những cuộc thức đêm trò chuyện ngày xưa chợt xuất hiện – một bức ảnh nào đấy tình cờ tìm thấy trong chiếc va li Xibêri từ lâu tôi đã quá thuộc nó chứa đựng những gì. Hoặc già thỉnh thoảng một chi tiết thoáng qua thuộc đời sống gia đình ngày xưa tôi chưa bết mà bà Charlotte mách tôi với vẻ vui thích rụt rè của một cô công chúa sa sút bỗng nhiên tìm thấy trong lần vải lót mòn xơ chiếc ví một đồng tiền vàng.
Chẳng hạn một hôm trời mưa to, trong khi lật giở các tập báo Pháp cứ chồng chất trong va ly, tôi chợt bắt gặp một trang rời chắc hẳn thuộc một cuốn họa báo đầu thế kỷ. Đó là phiên bản một bức tranh mang tính hiện thực rất chi ly, chỉ hơi nhuốm màu nâu xám tí chút, còn thì tình tiết vẫn rất dồi dào, chính xác buộc phải chú ý. Suốt trong cơn mưa dài rả rích tôi đã ngắm rất kỹ nên nhớ đề tài: một tốp binh sĩ rất táp nham, ai nấy bộ dạng rã rời vì mệt mỏi và tuổi tác, đi qua một làng nghèo cây cối trơ trụi. Đúng, các người lính đầu rất cao tuổi – như những ông già theo tôi nghĩ, tóc bạc trắng xóa dài chờm khỏi mũ rộng vành. Đó là những người khỏe mạnh cuối cùng trong một đợt động viên dân chúng phần lớn đã bị chiến tranh nuốt chửng. Tôi không nhớ đầu đề bức tranh, nhưng cái từ “cuối cùng” có ở đấy. Họ là những người cuối cùng ra đương đầu với kẻ thù, những người tột cùng còn có thể cầm vũ khí. Vả chăng vũ khí cũng hết sức thô sơ: vài ngọn giáo, rìu, thanh gươm cũ. Tôi tò mò nhìn kỹ quần áo họ, giày xăng đa với những vòng đồng to tướng, mũ họ đội có đôi người xen một chiếc mũ sắt mờ xỉn, giống như mũ lính đi chinh phục châu Mỹ xa xưa, ngón tay đầy máu co quắp trên cán giáo… Nước Pháp, vốn bao giờ cũng xuất hiện trước mặt tôi trong vẻ huy hoàng cung điện vào những giờ vinh quang lịch sử, đột nhiên hiển hiện dưới dáng cái làng phương bắc kia nơi các túp nhà thấp bé nằm co quắp sau những hàng rào gầy guộc, những cây cối cằn cọc run rẩy trong gió đông. Kỳ lạ thay, tôi cảm thấy mình gần gũi với con đường bùn lầy cũng như với những người binh sĩ già kia sắp ngã xuống trong một trận chiến đấu không cân xứng. Không, không hề có dáng vẻ gì bi thiết trong bước đi của họ. Không hề là những anh hùng phơi bày lòng dũng cảm hoặc đức hy sinh quên mình. Họ vốn đơn giản, vốn con người. Nhất là cái ông đi cuối đoàn đội mũ sắt lính chinh phục châu Mỹ, nhiều tuổi và cao lớn, bước đi chống cây giáo. Gương mặt ông khiến tôi như mê hoặc bởi vẻ thanh thản lạ lùng, chua chát lẫn tươi vui.
Đang tuổi thành niên hay u sầu, tôi đột nhiên thấy dậy lên một niềm vui mơ hồ. Tôi nghĩ mình đã hiểu ra phong thái bình thản của người chiếc sĩ già kia đối mặt với cái thất bại nhân tiền, đối mặt với khổ đau và cái chết. CHẳng hề là khắc kỷ hoặc khoan khoái tâm hồn, ông ta bước tới, đầu ngửng cao, xuyên qua cái vùng đất bằng phẳng, lạnh lẽo và tẻ nhạt này mà ông yêu mến mặc dù tất cả và gọi nó là “tổ quốc”. Ông có vẻ như không thể bị tổn thương. Trong một giây trái tim tôi dường như đập cùng nhịp với tim ông, chiến thắng sự sợ hãi, số mệnh, cô đơn. Trong cái thái độ bách thúc này tôi cảm thấy như có thêm một giây đàn nối vào sự hài hòa sinh động là nước Pháp trong lòng tôi. Tôi liền cố cho nó một cái tên: tự hào dân tộc? Hư vinh? Hay là cái dũng cảm, cái furia francése cừ khôi mà dân Ý thừa nhận cho người lính Pháp.
Trong khi đầu óc gọi những cái nhãn hiệu kia, tôi thấy gương mặt người lính già dần dần khép lại, mắt mờ tối. Ông ta lại trở về là một nhân vật trong một phân bản cũ kỹ màu xám xỉn. Cứ như thế ông đã quay mặt đi để giấu điều bí mật của ông mà tôi vừa thoáng nhận thấy.
Một tia sáng chói nữa của quá khứ nữa là người phụ nữ nọ. Người phụ nữ bận áo bông đội mũ lông to kềnh mà tôi có lần khám phá trên một bức ảnh trong cuốn an bom đầy những ảnh chụp thời kỳ gia đình tôi ở Pháp. Tôi nhớ là bức ảnh này đã biến khỏi an bom sau cái hôm tôi quan tâm đến nó và hỏi bà Charlotte. Dạo ấy tôi đã cố hỏi xem tại sao,nhưng đã không được trả lời. Tôi nhớ lại cảnh này như trước mắt: tôi chỉ bức ảnh cho bà ngoại và đột nhiên thấy một bóng lướt nhanh qua khiến tôi quên bẵng câu hỏi; tôi đưa bàn tay lên tường chụp một con bướm kỳ lạ, một con bướm đêm hai đầu, hai thân, bốn cánh.
Tôi tự nhủ là giờ đây, sau bốn năm, con bướm kép ấy chẳng còn có gì bí hiểm đối với tôi: hai con bướm lẹo nhau, đơn giản vậy thôi. Tôi nghĩ về những con người lẹo nhau, có hình dung động tác thân thể họ… Và đột nhiên tôi hiểu ra là đã bao tháng nay, dễ thường đã bao năm nay, tôi độc cứ nghĩ tới những cái thân thể kia ôm ấp hòa lẫn vào nhau. Tôi nghĩ đến điều này mà không tự giác, cứ mỗi lúc trong ngày, miệng thì nói chuyện khác. Cứ như thế cái ấp ôm run rẩy của cặp bướm luôn luôn đốt cháy bỏng lòng bàn tay tôi.
Hỏi bà Charlotte xem người đàn bà mặc áo bông là ai ư, điều này giờ đây tôi thấy dứt khoát không thể làm được nữa. Một chướng ngại tuyệt đối chợt dựng lên giữa bà ngoại và tôi, cái thân thể phụ nữ mơ ước, thèm muốn, ngàn lần chiếm hữu trong ý nghĩ.
Buổi tối, trong lúc rót trà cho tôi, bà Charlotte nói giọng lơ đãng:
- Lạ thật, tàu Koukouchka vẫn chưa đi qua…
Vượt khỏi cơn mơ mộng, tôi ngừng nhìn bà. Bốn mắt gặp nhau… Hai bà cháu không nói gì nữa cho đến khi xong bữa ăn…
Ba người phụ nữ đã làm thay đổi nhân quan của tôi, cuộc đời tôi.
Tôi tình cờ khám phá ra họ ở mặt sau một mẩu báo vùi trong chiếc va ly Xi béri. Tôi đang đọc lại lần nữa bài báo về cuộc đua ô tô đầu tiên Bắc Kinh – Paris xuyên qua Mátxcơva, như để chứng minh với mình là chẳng còn gì để tìm hiểu thêm nữa, là nước Pháp của bà Charlotte đã được khai thác đến cạn kiệt rồi. Lơ đãng tôi để rơi trang báo lên thảm, nhìn ra qua cái cửa lớn dẫn ra ban công. Hôm ấy là một ngày đặc biệt, cuối tháng tám, trời mát và đầy ánh nắng, khi ngọn gió lạnh đến từ phía dặng Oural đem đến vùng thảo nguyên chúng tôi hơi thở đầu tiên của mùa thu. Mọi cái long lanh lên trong làn ánh sáng trong trẻo ấy. Cây cối khu rừng Stalinka in nét mỏng manh lên cái màu xanh đang tươi đậm lại. Chân trời vạch mộ đường kẻ thuần khiết, rạch ròi. Với một niềm an ủi chua chát, tôi tự nhủ đã sắp hết kỳ nghỉ hè. Cũng là sắp hết một giai đoạn đời tôi, một sự kết thúc đánh dấu bằng điều khám phá đặc biệt: tất cả mọi kiến thức thu thập được không hề đảm bảo cho tôi hạnh phúc, cũng chẳng hề đảm bảo sự tiếp xúc đặc quyền với điều cốt yếu… Lại một khám phá khác nữa: suốt thời gian tôi luôn nghĩ đến thân hình phụ nữ, thân thể những người đàn bà. Tất cả mọi ý nghĩ khác đều là bổ sung, ngẫu nhiên, phụ thuộc. Đúng, tôi chấp nhận cái điều hiển nhiên: là một người đàn ông có nghĩa là luôn luôn nghĩ đến đàn bà, anh đàn ông chẳng có gì khác hơn là cái anh mơ tưởng đàn bà! Và tôi đang là thế…
Do một tình cờ hài hước, trang báo khi rơi xuống thảm đã lật lại. Tôi nhặt lên và đúng lúc ấy tôi thấy họ ở mặt sau, ba người phụ nữ đầu thế kỷ. Tôi chưa hề thấy họ bao giờ, tôi coi mặt sau mảnh báo này như không hề tồn tại. Cuộc gặp gỡ bất ngờ này khiến tôi đâm tò mò. Tôi ghé bức ảnh ra ánh sáng phía ban công.
Và ngay tức thì tôi phải lòng họ. Phải lòng tấm thân và cặp mắt dịu dàng chăm chú của họ, khiến hình dung ngay được là có anh thợ ảnh đang cong lưng dưới tấm vải đen, sau chiếc giá ba chân.
Nữ tính ở mấy cô này là cái dạng nữ tính nhất thiết phải làm xúc động trái tim chàng thanh niên đơn độc kém dạn dĩ là tôi. Một dạng nữ tính có thể gọi là chuẩn mực. Cả ba mặc váy áo dài màu đen làm nổi bật nét căng tròn bộ ngực, bó sát cặp hông và nhất là, trước khi ôm hai đùi rồi đổ xuống thành những nếp duyên dáng quanh bàn chân, mặt vải in phác nét công kín đáo làm bụng. Vẻ nhục cảm thầm kín của cái hình tam giác hơi vồng lên khiến tôi mê hồn.
Đúng vậy, vẻ đẹp của họ đúng là cái vẻ đẹp mà một anh chàng mơ mộng còn ngây thơ về mặt xác thịt có thể không ngớt hình dung trong các trò đạo diễn hứng dục của anh chàng. Đó là biểu tượng về một người phụ nữ “cổ điển”. Ý tưởng về nữ tính hóa thân. Hình tượng về người tình lý tưởng. Ít ra thì đó cũng là cách tôi hình dung ba cô nàng duyên dáng nọ với cặp mắt to đen rợp bóng, những chiếc mũ to kềnh đính ruy băng nhung sẫm, với cái dáng vẻ cổ xưa khiến ta có cảm tưởng, khi nhìn những bức chân dung các thế hệ trước, coi đó là dấu hiệu một tính ngây thơ nào đó, một tính hồn nhiên mà người cùng thời với chúng ta không có nữa, khiến ta xúc động và tin cậy.
Trên thực tế, tôi đặc biệt thích thú về sự trùng hợp vô cùng chính xác này, trạng thái thiếu kinh nghiệm yêu đương của tôi hướng về chính người phụ nữ nói chung, người phụ nữ chưa có những đặc điểm xác thịt mà một niềm ham muốn chín muồi đã có thể tìm ở thân hình cô ta.
Tôi ngắm nhìn họ với một niềm băn khoăn càng lúc càng tăng. Thân hình họ tôi không thể với tới được. Chà, đây không phải vấn đề là trong thực tế không thể đến gần họ. Từ lâu óc tưởng tượng hứng dục của tôi đã đọc được cách vượt qua trở ngại này. Tôi nhắm mắt và tôi thấy mấy người đẹp của tôi đang dạo bước – trần truồng. Như một nhà hóa học, nhờ một phương pháp tổng hợp tài khéo, tôi có thể bồi đắp da thịt họ từ những yếu tố tầm thường nhất: sức nặng bắp vế người đàn bà nọ một hôm ép vào người tôi trong chuyến xe buýt chặt cứng, nét cong các thân thể tắm nắng trên bãi biển, tất cả những bức tranh khỏa thân. Và cả chính thân thể của tôi nữa! Vâng, mặc dù sự cấm kỵ trong đất nước tôi đối với vấn đề trần truồng huống chi là trần truồng phụ nữ, tôi vẫn biết cách thiết lập lại tính đàn hồi cặp vú dưới ngón tay tôi và nét mềm mại bộ mông.
Không, ba cô nàng duyên dáng ấy tôi không với tới được vì lý do khác… Khi tôi muốn tái tạo cái thời gian từng bao quanh họ, trí nhớ tôi liền vâng theo tức thì. Tôi nhớ đến Blériot thời bấy giờ bay qua biển Manche với chiếc máy bay nhỏ của ông, nhớ đến Picasso vẽ Các cô gái Avignon… Mớ lộn xộn những sự kiện lịch sử cất tiếng vang rộng trong đầu. Nhưng ba người phụ nữ kia vẫn bất động, vô tri – ba bức vẽ trong phòng bảo tàng dưới cái nhãn: những cô nàng duyên dáng trong khu vườn Champs – Elsées. Tôi bèn thủ chiếm hữu họ, làm thành người tình của tôi. Bằng kiểu tổng hợp hứng dục, tôi sờ nắn thân thể họ, họ cựa quậy nhưng người cứng đờ như những người mắc chứng mê lịm mà người ta muốn chuyên chở trong tư thế đứng, ăn bận quần áo, như đang thức. Và như để tăng thêm cái ấn tượng hôn mê nọ, phương pháp tổng hợp kiểu tài tử rút từ trí nhớ của tôi ra một hình ảnh khiến tôi tởm lợm: chiếc vú bày ra thõng thẹo, vú một mụ chết vì say rượu tôi nom thấy một hôm ở nhà ga. Tôi cựa quậy đầu để bứt khỏi cái hình ảnh ghê tởm ấy.
Thôi thì đành bằng lòng vậy với cái bảo tàng chứa đầy những xác ướp, những hình nhân nặn bằng sắp mang nhãn “Ba thiếu nữ duyên dáng”, “Tổng thống Faure và cô tình nhân”, “Người chiến binh già trong một làng phương Bắc”… Tôi đậy lại chiếc va ly.
Tựa khuỷu tay lên bao lơn ban công, tôi dạo mắt nhìn ánh chiều vàng trong trẻo trên thảo nguyên.
“Rốt cuộc, sắc đẹp của họ để làm gì ấy nhỉ? Tôi nghĩ, đầu chợt lóe một ánh sáng đột ngột, chói chang như cái ánh nắng chiều tà này. Ừ, để làm gì cặp vú đẹp, làn hông, cái váy áo bó khuôn xinh xắn thân hình thon trẻ của họ? Đẹp là thế và bị vùi trong chiếc va ly cũ, trong một thành phố ngủ thiu thiu bụi bặm, hẻo lánh giữa một cánh đồng vô tận! Trong cái Saranza này mà sinh thời họ không có một ý niệm nào về nó hết… Tất cả cái gì còn lại về họ, là bức ảnh này, sống sót sau một chuỗi rủi may lớn nhỏ không thể tưởng tượng, được lưu giữ chỉ vì mặt sau là trang báo ghi hình ảnh cuộc đua ô tô Bắc Kinh – Pari. Cả đến bà Charlotte cũng chẳng nhớ gì về ba cái bóng dáng phụ nữ kia. Ta, chỉ có ta thôi trên trái đất này, gìn giữ sợi dây cuối cùng nối liền họ với thế giới người sống! Ký ức của ta là nơi ẩn náu cuối cùng, nơi sinh sống cuối cùng của họ trước khi rơi vào sự lãng quên vĩnh viễn và trọn vẹn. Phải chăng ta như một thứ thần linh phù trợ cho cái vũ trụ ngả nghiêng chao đảo của họ, cho cái điểm bé nhỏ Champs – Elysées nơi vẻ đẹp của họ vẫn còn tỏa rạng…”
Nhưng thần linh gì thì thần linh, tôi chỉ có thể cung cấp cho những con người ấy một cuộc sống con rối. Tôi vặn lò xo kỷ niệm, thế là ba cô gái duyên dáng bước nhanh nhanh, ông tổng thống nước Cộng hòa ôm cô Marguerite Steinheil, ông quận công Orléans ngã xuống, mình xuyên đầy những nhát dao găm tráo trở anh chiến binh già cầm ngọn giáo dài và ưỡn ngực…
“Tại làm sao, tôi kinh hoàng tự hỏi, mà tất cả mọi sự đam mê, đau khổ, tình yêu, lời nói kia để lại dấu vết ít đến vậy? Các luật lệ của thế giới này mới phi lý làm sao khi cuộc sống những người phụ nữ xinh đẹp đến vậy, gợi ham muốn đến vậy tùy thuộc vào trò nhào lộn một trang giấy: quả vậy, nếu tờ giấy này không lật lại, tôi sẽ chẳng có dịp cứu vớt họ khỏi sự quên lãng biến thành vĩnh viễn. Trò ngu đần của vũ trụ - làm biến mất một phụ nữ đẹp – mới vô nghĩa làm sao! Biến mất không trở lại. Xóa sạch hoàn toàn không còn bóng. Không còn hình. Không còn kêu kiện được với ai…”
Mặt trời tắt phía chân trời thảo nguyên. Nhưng không gian còn lưu giữ lâu độ sáng trong trẻo những chiều hè lành lạnh. Sau khu rừng vang lên tiếng còi con tàu Koukouchka, lanh lảnh hơn trong gió rét. Cây cối điểm vài ngọn lá vàng. Những lá đầu tiên. TIếng còi đoàn tàu lại vang lên. Xa hơn, văng vẳng.
Chính lúc này khi nhớ trở lại về ba cô gái duyên dáng, tôi bỗng nảy ý nghĩ đơn giản này, một dư âm những suy nghĩ buồn rầu khiến nãy giờ đầu óc tôi lẩn quẩn trong đó: “Thế nhưng, đúng là trong đời họ đã có cái buổi sáng thu kia, mát mẻ thanh khiết, có lối đi kia lát đầy lá vàng, nơi mấy cô gái dừng lại chốc lát, đứng bất động trước máy ảnh. Làm bất động cái khoảnh khắc này… Phải rồi, đã từng có trong đời họ một buổi sớm thu trong trẻo…”
Lời ngắn ngủi này tạo nên phép lạ. Vì đột nhiên, bằng tất cả mọi giác quan, tôi chuyên chở mình vào cái thời khắc mà nụ cười ba cô gái đẹp đã cố định. Tôi thấy lại mình trong không khí những mùi vị mùa thu, lỗ mũi tôi phập phồng vì mùi thơm hăng hắc của lá thật thấm thía. Tôi nheo mắt dưới ánh mặt trời xuyên qua cành lá. Tôi nghe xa xa tiếng xe ngựa lăn trên đá lát đường. Và giọng réo rắt líu lo mấy câu đùa vui của ba người phụ nữ trước khi đúng im trước ông thợ ảnh…
Vâng, một cách mãnh liệt, trọn vẹn, tôi sống cái thời gian của họ!
Hiệu quả sự hiện diện của tôi trong buổi sớm thu này, bên cạnh ba cô gái mạnh mẽ đến mức tôi cố bứt ra khỏi quầng sáng của nó, hầu như kinh hãi. Đột nhiên tôi đâm sợ phải lưu lại đó mãi mãi. Mắt mù, tai điếc, tôi trở lại phòng, cầm lại trang báo…
Mắt tấm ảnh như run rẩy, như mặt một hình in đề can, màu ướt và tươi đậm. Phối cảnh dẹt của nó tự dưng thêm chiều xấu, chìm xa đi trước mắt tôi. Cũng như thế, khi còn nhỏ, tôi ngắm hai hình vẽ tương tự chúng thong thả tiến dần vào nhau trước khi chập làm một, kiểu Stéréo. Bức ảnh ba cô gái đẹp trải ra trước mắt, dần dà bao quanh tôi, đưa tôi lọt vào bầu trời của nó. Các cành cây với những lá vàng to trùm trên đầu tôi.
Những suy tư của tôi cách đây một giờ (sự quên lãng hoàn toàn, cái chết…) chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Mọi sự đều quá sáng rõ, không cần lời. THậm chí tôi cũng chẳng cần nhìn vào bức ảnh. Tôi nhắm mắt, cái khoảnh khác ấy đang ơ trong tôi. Và tôi lại còn đoán được niềm vui mà ba người phụ nữ cảm thấy được, niềm vui tìm thấy lại, sau cái oi bức uể oải ngày hè, không khí mùa thu mát mẻ, các quần áo ấm, những thú vui đời sống thành thị và thậm chí cả cái mưa gió rét buốt chẳng bao lâu nữa sẽ tăng thêm vẻ quyến rũ đời sống.
Thân thế ba người phụ nữ, khó với tới trước đây một lát, lúc này sống trong tôi, tắm trong mùi vị nồng nàn lá khô, trong làn sương mù nhẹ long lanh ánh mặt trời… vâng, tôi đoán ở họ có niềm run rẩy rất khẽ khàng khi tấm thân thể phụ nữ chào đón mùa thu mới, niềm pha trộn thú vui và lo lắng, cái u buồn thanh thản. Không còn ngăn cách gì giữa ba người phụ nữ va tôi. Sự hòa hợp này, tôi cảm thấy nó chan chứa tình yêu và nhục cảm hơn mọi sự ăn nằm vật chất.
Tôi nhô lên khỏi buổi sớm thu này, nhận thấy lại mình dưới một bàu trời hầu như đã đen sẫm. Mệt rũ như thể vừa bơi qua một con sông lớn, tôi nhìn quanh hầu như không nhận ra các đồ vậy thân thuộc. Tuy nhiên vẫn muốn quay về để nhìn thấy lại ba cô nàng đi dạo của Thời đại thanh tao.
Nhưng cái ma lực vừa thí nghiệm dường như lại tuột khỏi tay tôi lần nữa. Ký ức tôi vô tình tái tạo lại một phản ảnh khác hẳn về quá khứ. Tôi thấy một người đàn ông bảnh trai bận y phục đen, giữa một phòng giấy sang trọng. Cánh cửa mở ra lặng lẽ, một phụ nữ, mặt che mạng, bước vào. Và, bằng một bộ điệu rất sân khấu, ông Tổng thống ôm chầm cô nhân tình. Đúng, đó là cảnh tượng, đã chộp được hàng nghìn lần, cuộc gặp gỡ bí mật của cặp tình nhân trong điện Elysées. Được ký ức tôi triệu tập đến, hai nhân vậy vâng theo diễn lại lần nữa kiểu như một kịch vui đóng vội. Nhưng cung cách này không còn làm tôi thỏa mãn…
Sự biến hình của ba cô nàng duyên dáng khiến tôi hy vọng là cái ma lực lại xảy ra lần nữa. Tôi nhớ lại câu nói hết sức đơn giản đã khởi động nên tất cả: “Thế nhưng, trong cuộc đời ba người phụ nữ nọ có cái buổi sớm mát mẻ chan hòa ánh nắng…” Như một anh phù thủy tập sự, tôi hình dung ra cái ông có bộ râu mép đẹp trong buồng giấy, trước cửa sổ màu đen, và tôi đọc thầm câu thần chú:
- Thế nhưng, trong đời ông ta có một chiều thu lúc ông ta đúng trước cửa sổ màu đen nơi ngoài kia xao động các cành cây trụi lá trong vườn điện Elysées…
Tôi không nhận thức được vào thời khắc nào cái biên giới thời gian đã biến đi… Ông Tổng thống nhìn chăm chăm bóng cây cành lay động, mà không trông thấy. Môi ông sát gần ô kính tới mức một vòng tròn hơi nước phủ mờ mặt kính đi một giây. Ông nhận thấy điều này và lúc lắc đầu đáp lại những ý nghĩ câm lặng trong óc. Tôi đoán là ông cảm thấy bộ quần áo đang mặc bó cứng đơ kỳ lạ trên thân mình. Ông cảm thấy xa lạ với chính mình. Đúng vậy, một cuộc đời xa lạ, căng thẳng, bắt buộc phải tự kiềm chế bằng cách giữ tư thế bất động bề ngoài. Ông nghĩ, không, ông không nghĩ mà cảm nhận thấy ở nơi nào đó trong bóng tối ẩm ướt sau cửa kính sự hiện diện càng lúc càng mật thiết của người phụ nữ sắp sửa bước vào phòng: “Ông Tổng thống nước Cộng hòa”, ông thốt thật khẽ từng tiếng một. “Điện Elysées…” và đột nhiên, những từ rất thân thuộc nọ ông cảm thấy chẳng có liên quan gì với hiện trạng của mình lúc này. Ông cảm nhận mãnh liệt mình là con người lát nữa thôi sẽ lại bị xúc động vì cặp môi phụ nữ mềm mại ấm áp dưới chiếc mạng óng ánh giọt sương lạnh..
Tôi lưu trữ vài giây trên mặt cái cảm giác tương phản này.
Cái ma thuật của dĩ vãng biến hình kia khiến tôi náo nức, lại vừa làm tôi rã rời. Ngồi trên ban công, tôi thở giật từng hồi, ánh mắt mù mịt hòa tan vào bóng đêm thảo nguyên. Hẳn là tôi đang biến thành kẻ mang tật mê trò luyện đan thời gian. Vừa chớm tỉnh, tôi nhắc lại câu “thần chú”: “Thế nhưng, đã có trong cuộc đời người binh sĩ già kia cái ngày mùa đông…” Và tôi trông thấy người lính già đội chiếc mũ đi chinh phục châu Mỹ. Anh ta vừa đi vừa chống tay lên ngọn giáo dài. Gương mặt đỏ bầm vì gió khép lại trên những ý nghĩ chua chát: mình thì đã già mà cuộc chiếc này sẽ vẫn còn tiếp khi mình chẳng còn trên đời. Bỗng nhiên, trong không khí âm u ngày đông băng giá, anh ta nhận ra mùi một ngọn lửa củi. Cái mùi dễ chịu hơi khen khét ấy hòa lẫn với mùi sương giá man mát trên những cánh đồng trơ trụi. Người lính già hít thở sâu một ngụm khí trời đông buôn buốt. Một nụ cười nhuốm khuôn mặt khắc khổ. Anh ta nheo nheo mắt. Chính anh ta đấy, anh đàn ông đang ham hố hít thở ngọn gió buốt pha mùi lửa củi. Anh ta. Nơi đây. Lúc này. Dưới bầu trời này… Trận chiến anh ta sắp tham dự, và cuộc chiến tranh này, cả đến cái chết của anh nữa, anh ta thấy đều là những sự việc chẳng quan trọng. Đúng vậy, những chương hồi của một số phận lớn lao hơn gấp ngàn lần, mà anh có thể là, anh đã là một kẻ tham dự vô ý thức trong giờ phút này. Anh ta hít thở mạnh, mỉm cười, mắt lim dim. Anh ta đoán cái thời khác anh đang sống là bước đầu của cái số phận được linh cảm trước…
Bà Charlotte trở về nhà lúc trời tối. Tôi vốn biết thỉnh thoảng các buổi chiều bà đi ra khu nghĩa địa. Bà dọn cỏ bồn hoa nhỏ trước mộ ông Fiodor, tưới nước, lau tấm bia mộ trên khắc ngôi sao đỏ. Khi trời sắp tối, bà ra về. Bà đi thong thả, ngang qua cả vùng Saranza, thỉnh thoảng ngồi nghỉ trên ghế dài. Những hôm ấy, bà cháu tôi không ra ban công…
Bà bước vào. Tôi hồi hộp lắng nghe bước chân bà trong hành lang, rồi trong nhà bếp. Không kịp suy nghĩ tại sao lại làm thế, tôi vào gặp bà và yêu cầu bà kể về nước Pháp thời bà còn trẻ. Như trước đây vậy.
Những khoảnh khác tôi vừa với trải qua, giờ đây tôi thấy như sự thể nghiệm một cơn điên kỳ lạ, vừa đẹp đẽ vừa kinh hãi. Không thể phủ nhận được chúng, vì cả con người tôi vẫn còn lưu giữ hồi quang ngời sáng những khoảnh khắc ấy. Tôi đã thực sự sống qua! Nhưng do một thói chướng nghịch ưa làm ngược lại, một tâm trạng lẫn lộn nửa sợ hãi nửa lương tri rối loạn, tôi phải chối bỏ điều vừa khám phá, triệt tiêu cái thế giới tôi vừa mới thoáng thấy một vài mẩu nhỏ. Tôi chờ đợi ở bà Charlotte một câu chuyện trẻ con êm dịu về nước Pháp thời bà còn trẻ. Một kỷ niệm thân thuộc và nhẵn trơn như tấm ảnh, có thể giúp tôi quên đi cái cơn điên thoáng qua.
Bà không trả lời ngay. Chắc bà đã hiểu là nếu tôi dám quấy rối thói quen chung thì hẳn là có một lý do nghiêm trọng nào đấy. Chắc bà nhớ đến những cuộc trò chuyện vu vơ từ mấy tuần nay, đến truyền thống nghe bà kể chuyện vào lúc tắt mặt trời, một nghi thức trong mùa hè này đã bị phá vỡ.
Sau một phút im lặng, bà khẽ mỉm cười, thở dài:
- Bà còn biết kể cho cháu gì nữa nào? Giờ cháu đã biết tuốt tuột… À khoan, để bà đọc cho cháu một bài thơ thì hay hơn.
Thế là tôi sắp sửa được sống một buổi đầu hôm phi thường nhất đời tôi. Chả là bà Charlotte lục mãi chẳng thấy cuốn sách bà tìm. Với một cung cách thoải mái tuyệt vời như đôi khi chúng tôi thấy bà đảo lộn mọi trật tự sự vật, bà, vốn người ngăn nắp tỉ mẩn, bỗng biến đêm nay thành một buổi thức đêm dài. Từng cọc sách chồng chất trên sàn. Bà cháu trèo cả lên bàn để lục tìm ở các tầng trên tấm kệ. Chẳng tìm ra cuốn sách.
Chính vào lúc hai giờ sáng bà Charlotte đứng thững giữa một cảnh hỗn độn sách vở đồ đạc khá là ngoại mục, chợt kêu lên:
- Ối, bà mới ngốc làm sao! Cái bài thơ này, chính bà đã bắt đầu đọc nó hồi hè năm ngoái cho hai chị em, cháu còn nhớ chứ? Rồi thì… Bà quên mất rồi. Ờ, hình như mới đọc được khổ thứ nhất. Thế thì hẳn cuốn sách nằm ở chỗ này.
Bà Charlotte cúi xuống một chiếc tủ nhỏ kê gần cửa ra ban công, mở tủ và cạnh một chiếc mũ rơm, chúng tôi nom thấy cuốn sách.
Ngồi trên thảm, tôi lắng nghe bà đọc. Một chiếc đèn bàn đặt trên sàn rọi sáng khuôn mặt bà. Bóng hai chúng tôi in đậm trên tường chập chà chập chờn. Từng lúc một luồng gió lạnh đến từ thảo nguyên khuya đêm lùa qua cửa ra vào ban công. Giọng bà Charlotte có cái điệu bổng trầm mà hàng chục năm sau người ta vẫn còn nhớ âm vang:
Thế rồi mỗi lần nghe chuyện ấy,
Tâm hồn tôi dường trẻ lại trăm năm…
Ấy là dưới thời Louis Mười Ba và tôi tưởng thấy
Vùng đồi xanh trải rộng, nhuộm thắm ánh chiều vàng.
Rồi một lâu đài với gạch xây và trụ đá,
Những cửa kính sơn màu đỏ nhờ nhờ,
Những vườn rộng vây quanh, với một con sông nhỏ
Nước chảy dưới chân thềm và giữa những lùm hoa;
Rồi một người đàn bà trên cửa sổ cao cao,
Tóc vàng mắt đen với áo quần kiểu cổ,
Người đàn bà ấy có lẽ trong kiếp xưa nào đó
Tôi đã gặp rồi, nay nhớ lại hình dung!
Bà cháu không nói gì nữa trong cái đêm khác thường này. Trước khi ngủ thiếp đi, tôi nghĩ tới người đàn ông, ở đất nước bà tôi, cách đây một thế kỷ rưỡi, đã có can đảm thuật lại “con điên rồ” của mình, còn thực hơn bất cứ thực tại nào thuộc lương tri tỉnh táo.
Sáng hôm sau tôi thức dậy muộn. Trong phòng bên cạnh, trật tự đã trở lại… Gió đã chuyển hướng và đưa lại hơi nóng biển Caspienne. Cái ngày lạnh lẽo hôm qua dường như đã rất xa xôi. Khoảng trưa, không hề thỏa thuận trước, hai bà cháu đi vào thảo nguyên. Chúng tôi lặng lẽ bước bên nhau, men vòng quanh bụi bờ Stalinka. Tiếp đó chúng tôi vượt qua quãng đường ray hẹp phủ đầy cỏ hoang. Từ xa chiếc Koukouchka vẳng đến tiếng còi tàu. Chúng tôi thấy xuất hiện đoàn tàu nhỏ bé như đang chạy giữa những khóm hoa. Nó tới gần, vượt qua lối tắt chúng tôi đi và hòa tan vào màn nắng nóng. Bà Charlotte nhìn dõi theo rồi vừa đi tiếp vừa khẽ khàng nói:
- Bà nhớ hồi bé có lần bà đi một chuyến tàu kiểu anh em với con tàu Koukouchka này. Nó chở khách và với những chiếc toa nho nhỏ chạy quanh co hồi lâu xuyên qua xứ Provence. Bà tới ở ít ngày tại nhà một bà dì sống ở… Bà không còn nhớ tên thành phố này. Chỉ còn nhớ mặt trời rọi ánh chan hòa các ngọn đồi, tiếng ve ran rỉ khi tàu dừng ở các ga xép thiu thiu ngủ. Và ngút tầm mắt là những nương đồi trồng cây oải hương… Ừ ánh mặt trời, tiếng ve ran và cái màu xanh ngăn ngắt với lại cái hương thơm gió đưa qua cửa sổ mở…
Tôi bước cạnh bà, lặng lẽ. Tôi cảm thấy “Koukouchka” từ nay sẽ là tiếng đầu tiên trong ngôn ngữ mới của chúng tôi. Cái ngôn ngữ nói lên điều khó nói.
Hai hôm sau tôi từ biệt Saranza. Lần đầu tiên trong đời tôi cái im lặng những giây phút cuối trước khi tàu chuyển bánh không đượm vẻ ngỡ ngàng lúng túng. Từ cửa sổ tôi nhìn bà Charlotte đứng trên sân ga, giữa đám người đang khua khua tay như những kẻ câm điếc, sợ người ra đi không nghe được mình. Bà Charlotte lặng im, và bắt gặp ánh mắt tôi, bà khẽ mỉm cười. Chúng tôi không cần đến lời nói.
❀ ❀ ❀
[1] Khu giáp ranh, khu phi quân sự (Tiếng Anh)