Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

3

Neuilly sur Seine gồm một tá căn nhà ghép gỗ tròn. Những isbas[1] thực sự, mái lợp những thanh mền mỏng bạc lên anh ánh vì mưa gió mùa đông, với những cửa sổ viền khung gỗ chạm trổ đẹp đẽ, những hàng rào phơi quần áo. Các phụ nữ trẻ gánh nước làm sánh vài giọt trên bụi đường cái. Đàn ông vác những bì lúa mì nặng chất lên xe ngựa. Một đàn bò chậm chạp lừ đừ trở về chuồng Chúng tôi nghe tiếng chuông đeo cổ văng vẳng, tiếng một chú gà trống gáy khàn khàn. Mùi thơm bếp củi dễ chịu mùi bữa cơm tối sắp chín phảng phất trong không gian.

Là vì bà chúng tôi có hôm đã từng nói về thành phố quê bà:

- Ái chà! Neuilly hồi ấy chỉ như một cái làng bình thường.

Bà nói bằng tiếng Pháp, nhưng chúng tôi vốn chỉ từng biết những làng Nga. Và cái làng ở Nga tất yếu phải là một chuỗi nhà gỗ - thậm chí trong tiếng Nga, chữ dévevnia (làng) gốc từ dérévo (cây, gỗ). Sự lẫn lộn bám dai dẳng trong trí chúng tôi mặc dù sau đó bà ngoại kể thâm nhiều tình tiết. Cứ nghe “Neuilly” là cái làng với những nhà gỗ, đàn bò và chú gà trống của nó lại hiện ra ngay tức khắc. Và khi, mùa hè sau, bà Charlotte lần đầu tiên nói với chúng tôi về một ông Marcel Proust[2] nào đó “nhân tiện kể, người ta thấy ông ấy chơi quần vợt ở Neuilly, trên đại lộ Bineau”, chúng tôi hình dung anh chàng công tử bột nọ, mắt to mơ màng tình tứ (bà đã chỉ cho xem bức ảnh) giữa những căn nhà ghép gỗ tròn!

Cái thực tế Nga thường hiện ra xuyên qua lớp hoen mỏng manh các từ ngữ Pháp chúng tôi. Ông tổng thống nước Cộng hòa cũng không thoát khỏi một cái gì đó hao hao như Stalin trong bức chân dung ông ta vẽ trong tưởng tượng. Neuilly đầu rẫy những nông trường viên. Và thành phố Paris đang vợi dần nước lụt mong trong nó một niềm xúc động đặc Nga cái đợt nghỉ xả hơi ngắn ngủi sau cái vui kết thúc một cuộc chiến tranh. Chúng tôi dạo lang thang dọc những đường phố còn ẩm ướt, đầy bùn và cát. Mọi người dọn đồ đạc quần áo ra trước cửa để hong như người Nga thường làm sau một mùa đông mà họ bắt đầu nghĩ nó kéo dài bất tận.

Thế rồi, khi Paris rạng rỡ trở lại trong hơi xuân mát mẻ mà chúng tôi đoán được mùi vị của nó bằng trực giác một đoàn xe lửa huyền ảo do chiếc đầu máy kết hoa kéo, từ từ dừng lại ở cửa ngõ thành phố, trước tòa lầu nhà ga Ranelagh.

Một người đàn ông trẻ bận áo vét nhà binh giản dị từ toa bước xuống đi trên thảm đỏ trải dưới chân. Cạnh ông là một phụ nữ cũng rất trẻ, áo váy trắng, cổ quàng khăn lông dài kết bằng lông vũ.

Một người đàn ông nhiều tuổi hơn, mặc lễ phục, đeo bộ ria rực rỡ, một cuống huân chương màu xanh cài trên ngực, tách khỏi cái đám đông long trọng đứng dưới tòa lầu tiến đến gặp đôi vợ chồng trẻ. Ngọn gió hây hẩy mơn trớn những đóa hoa phong lan và mồng gà điểm trang các cây cột, thổi phơ phất chiếc lông cài trên mũ nhung trắng người phụ nữ trẻ. Hai người đàn ông bắt tay nhau.

Ông chủ của Atlantide, thủ tướng Félix Paure, đón chào Sa hoàng nước Đại Nga Nicolas đệ Nhị và bà vợ.

Chính cặp vợ chồng hoàng đế, bao quanh là tinh hoa của nước Cộng hòa, đã dẫn dắt chúng tôi đi xuyên qua Paris Nhiều năm sau, chúng tôi mới biết rõ niên đại thật của cuộc viếng thăm tôn nghiêm này: Nicolas và Alexandra đến Pháp không phải vào mùa xuân năm 1910, sau trận lụt, mà là tháng mười 1896, nghĩa là rất lâu trước sự phục sinh của Atlandide Pháp chúng tôi. Nhưng cái lôgich thực ấy chẳng mấy quan hệ. Chỉ có cái niên biểu những câu chuyện mà bà chúng tôi kể miên man mới đang ghi nhớ: Một ngày, vào cái thời truyền thuyết của nó, Paris nhô khỏi mặt nước, mặt trời sáng chói và đồng thời chúng tôi nghe tiếng còi tàu phía xa chờ nhà vua. Cái trật tự sự kiện này chúng tôi cho cũng chính đáng chẳng khác sự xuất hiện của Proust giữa đám nông dân Neuilly.

Chiếc ban công bé bà Charlotte bay lượn trong ngọn gió thơm nồng đồng cỏ, nơi ranh giới một thành phố ngái ngủ, bị cắt rời khỏi thế giới bằng cái vắng lặng ngàn năm của thảo nguyên. Mỗi buổi chiều giống như cái bình pha lê cổ dài huyền bí của nhà luyện kim trong đó diễn ra sự biến đổi kỳ lạ của quá khứ. Các yếu tố của trò ảo thuật kia đối với chúng tôi cũng không kém huyền bí hơn các thành phần của hòn đá tạo vàng. Bà Charlotte giở một tờ báo cũ, ghé gần cây đèn có chao mày ngọc lam và đọc cho chúng tôi nghe thực bữa tiện thết vợ chồng hoàng đế Nga lúc đến Cherbourg:

Potage

Bisque de crevettes

Truite de la Loire braisée au sauternes

Filet de Pré-Saté aux cèpes

Cailles de vigne à la Lucullus

Poulardes du Mans Cambacérès

Granités au Lunel

Punche à la romaine

Bartavelles et ortolans truffés rôtis

Pâté de foie gras de Nancy

Salade

Asperges en branches sauce mousseline

Glaces Succès

Dessert[3]

Làm sao giải mã được các câu thần chú bí hiểm kia cơ chứ? Bartavellet và ortolans! Cailles de vigne à la Lucullus! Bà chúng tôi thông cảm, tìm những từ tương đương bằng cách gợi lên các thứ thực phẩm rất sơ sài còn có thể tìm thấy ở các cửa hàng Saranza. Khoái chí, chúng tôi nếm hưởng các món ăn tưởng tượng nọ, điểm xuyết bằng vị tươi mát mù sương của đại dương (Cherbourg mà lại), nhưng rồi đã phải tất tưởi đuổi theo Sa hoàng!

Như ông, chúng tôi bước vào điện Élysée, đâm hoảng trước cảnh tượng bao nhiêu những bộ lễ phục đen đứng im bất động khi ông bước tới nghĩ xem, hơi hai trăm thượng nghị sĩ và ba trăm hạ nghị sĩ chứ ít à! (Những người làm theo niên biểu chúng tôi, mới cách đây vài hôm thôi, rất cả đi họp quốc hội bằng thuyền...) Giọng bà ngoại, luôn luôn bình thản và thoáng mơ màng, lúc này khẽ rung đượm kịch tính:

- Các cháu có hình dung được không, hai thế giới gặp nhau mặt giáp mặt.(Nhìn ảnh mà xem. Tiếc là tờ báo bị gập nếp quá lâu…) Ừ, một bên là Sa hoàng, ông vua chuyên chế và bên kia các đại biểu nhân dân Pháp! Các đại biểu của nền dân chủ…

Ý nghĩa sâu xa sự đối chiếu này chúng tôi chưa hiểu nổi. Nhưng giờ đây chúng tôi phân biệt rõ, trong số năm trăm ánh mắt nhìn thẳng vào Sa hoàng có những ánh mắt không hẳn ác ý nhưng lại khước từ không tham gia sự hứng khởi chung. Và nhất là, nhân danh cái nền “dân chủ” bí ẩn này, tự cho phép mình làm như vậy! Kiểu bừa bãi xuê xoa này khiến chúng tôi sững sờ. Chúng tôi soi nhìn kỹ vào các hàng lễ phục đen nhằm phát hiện những kẻ phá đám tiềm tàng. Lẽ ra ông Tổng thống phải nhận dạng họ, trục xuất họ bằng cách lôi tuột ra khỏi thềm điện Élysée mới đúng chứ!

Chiều hôm sau, cây đèn bà ngoại lại thắp trên ban công. Chúng tôi thấy tay bà cầm mấy trang báo bà vừa lấy từ chiếc va ly Xibêri. Bà bắt đầu nói, chiếc ban công từ từ tách khỏi tường và bay là là trong bóng tối thoáng hương thơm đồng cỏ.

… Vua Nicolas ngồi ở bàn danh dự trang trí bằng những nhánh mêđiôla tuyệt đẹp. Ông lắng nghe lúc thì lời đối đáp duyên dáng của bà Faure ngồi cạnh phía bên phải, lúc thì giọng nam trung êm mượt của Tổng thống nói với Hoàng hậu. Những ánh pha lê long lanh và cốc chén bằng bạc ròng lấp lánh khiến các tân khách lóa mắt… Trong bữa tráng miệng, Tổng thống đứng lên nâng cốc và tuyên bố:

Sự hiện diện của Hoàng thượng giữa chúng tôi, dưới những tiếng hoan hô của tất cả một dân tốc, đã gắn bó những mối liên kết nối liền hai đất nước trong một hoạt động hài hòa và một niềm tin cậy lẫn nhau về vận mệnh chung. Mối liên kết giữa một vương quốc hùng mạnh và một nước cộng hòa cần cù… Củng cố bởi lòng trung thành đã được thử thách… Là người truyền đạt ý chí toàn thể quốc gia, tôi xin nhắc lại với Hoàng thượng… Cho sự vĩ đại của quý triều đại… Cho hạnh phúc của Hoàng hậu… Tôi nâng cốc chúc mừng Hoàng thượng Nicolas và Hoàng hậu Alexandra Fedorovna.

Ban nhạc đội cận vệ cộng hòa tấu quốc ca Nga… Và đêm hôm ấy, dạ hội tại Opréra là một cuộc đại xưng tụng tưng bừng.

Đi theo hai người cầm đuốc, cặp vợ chồng hoàng đế bước lên bậc thềm. Họ tưởng như bước tới giữa ngọn thác người: những đường cong trắng ngà bờ vai phụ nữ, những đóa hoa xòe nở gài trên áo chẽn, những mái tóc thơm óng ả, những đồ trang sức lấp lánh trên làn da trần, tất cả mọi cái đó trên nền các nhung phục và lễ phục. Tiếng hô “Hoàng đế muôn năm!” vang động nâng bổng vòm trần uy nghi, trộn lẫn chiếc vòm với bầu trời… Cuối buổi trình diễn khi dàn nhạc tấu bài La Marseillaise, Sa hoàng quay về phía Tổng thống và giơ bắt tay.

Bà tôi tắt đèn và chúng tôi ngồi ít phút trong bóng tối. Cốt để ruồi bọ đang cố lao vào lửa đèn tìm cái chết bay đi. Dần dà mắt chúng tôi quen nhìn sự vật. Các vì sao tái tạo lại vẻ lấp lánh. Giải ngân hà đượm chất lân tinh. Và trong một góc ban công, giữa những cành nhánh đậu thơm quấn quýt, cô tiên tế tửu bị giáng trần gửi tới chúng tôi cái nụ cười bằng đá.

Bà Charlotte đứng dừng nơi ngưỡng cửa khẽ thở dài:

- Các cháu biết đấy, La Marseillaise thực ra chỉ là một bài hành khúc không hơn không kém. Đại kháo như các bài hát cách mạng Nga ấy mà. Thời bấy giờ chả ai sợ máu cả.

Bà đi vào phòng và từ trong ấy chúng tôi nghe vẳng ra mấy lời bài ca bà lầm rầm đọc như một bài kinh cầu nguyện kỳ quặc của quá khứ:

- … lá cờ máu tung bay… Cầu cho các luống cày thấm đẫm dòng màu thù nhơ nhớp...

Chúng tôi đợi cho vang âm những lời ấy tan vào bóng tối, đoạn đồng thanh buột kêu lên:

- Thế còn Nicolas? Còn ông Sa hoàng? Ông ta có biết bài hát nói gì không ấy nhỉ?

Nước Pháp Atlantide tỏ ra là một thang gam đầy nhạc điệu này, đầy màu sắc, hương thơm. Theo các vị dẫn đường chúng tôi khám phá ra những vẻ khác nhau hợp thành cái tính chất Pháp bí ẩn này.

Điện Élysée hiện ra trong ánh các đèn chùm rực rỡ và các gương lớn lấp lánh. Nhà hát Opéra khiến chúng tôi lóa mắt với những cánh vai trần phụ nữ, ngất ngây vì mùi nước hoa tỏa từ các mái tóc lộng lẫy. Nhà thờ Notre Dame với chúng tôi là một cảm giác mặt đá lạnh tanh dưới bầu trời náo động. Vâng, chúng tôi hầu như sờ được vào những bức tường ram ráp, lỗ chỗ - như thế một tảng đá khổng lồ tạc bằng tài khéo xói mòn của các thế kỷ…

Các tình tiết được cảm nhận như vậy vẽ nên đường viên còn mơ hồ của vũ trụ Pháp. Cái lục địa nhô lên ấy dần dà chứa đầy sự vật và con người. Bà Hoàng hậu quỳ quốc một chiếc “ghế cầu kinh” bí ẩn nó chẳng gợi cho chúng tôi một thực tại nào đã biết. “Đó là một thứ ghế chân cắt cụt”, bà Charlotte giải thích và hình ảnh chiếc đồ vật bị tiện cụt khiến chúng tôi ngẩn ngơ. Như nhà vua Nicolas, chúng tôi cố kìm ý muốn sờ vào chiếc áo choàng màu tía Napoléon khoác hôm làm lễ đăng quang. Chúng tôi thấy cần cái đụng chạm bất kính ấy. Cái thế giới đang thai nghén vẫn còn thiếu hụt tính vật chất. Trong nhà thờ Sainte- Chapelle, là những hạt sù sì trên mặt giấy cổ bằng da nó gợi cho chúng tôi ý muốn kia Charlotte giảng cho biết các bức thư dài kia đã được viết bằng tay cách đây một nghìn năm do một hoàng hậu Pháp và một phụ nữ Nga, Anna Iaroslavna, vợ vua Henri đệ Nhất.

Nhưng điều hào hứng nhất Atlantide đang được thiết lập dưới mắt chúng tôi. Vua Nicolas cầm chiếc bay thợ nề bằng vàng rải vữa lên một khối đá hoa cương lớn viên đá đầu tiên cây cầu Alexandra đệ Tam… Đoạn ông trao bay cho Félix Faure: Đến lượt Ngài, Thưa Tổng thống”. Và ngọn gió thênh thang làm gợn nước sông Seine mang đi những lời bộ trưởng bộ Thương mại cất lên vang vang mạnh mẽ cố át tiếng lá cờ đập phần phật:

Tâu Hoàng thượng! Nước Pháp muốn cung hiến một trong những công trình lớn của thủ đô để tưởng nhớ Hoàng Phụ ngài. Nhân danh chính phủ Cộng hòa, tôi mong Hoàng thượng vui lòng nhận sự bày tỏ lòng tôn kính này bằng cách cùng với ngài Tổng thống nước Cộng hòa, gắn viên gạch đầu tiên cho chiếc cầu Alexandre đệ Tam sẽ nối liền Paris với khu triển lãm 1900, và qua đó đánh dấu công cuộc văn minh và hòa bình vĩ đại được tổ chức lễ khánh thành hôm nay với sự phê chuẩn cao quý của Hoàng thượng và sự bảo trợ ân cần của Hoàng hậu.

Ông Tổng thống vừa kịp đặt hai nhát vữa tượng trưng lên khối đá hoa cương chợt xẩy một sự cố không thể tưởng tượng được. Một gã không thuộc đám tùy tùng nhà vua cũng không thuộc trong đám thân hào Pháp tiến đến trước vợ chồng nhà vua, bắt chuyện thân mật với Sa hoàng, và với một cử chỉ khéo léo vô cùng hào hoa phong nhã, hôn tay hoàng hậu! Kinh ngạc vì thái độ tự do tùy tiện nhường ấy, chúng tôi như nghẹt thở.

Dần dà cảnh tượng rõ nét thêm. Những lời lẽ của anh chàng không mời mà đến kia, vượt lên sự lùi xa của quá khứ và những lỗ hổng trong tiếng Pháp chúng tôi, trở nên rõ ràng hơn. Chúng tôi cuống quýt bắt lấy vang âm của chúng.

Thưa Hoàng Đế nổi danh, con của Alexandre đệ Tam vĩ đại!

Nước Pháp hôm nay trọng đại lễ đón mừng Ngài.

Đang chào Ngài bằng tiếng nói Thánh thần, qua giọng nói của tôi.

Bởi chỉ có nhà thơ mới được chuyện trò với quân vương bằng những lời thân mật.

“Ái dà!” Chúng tôi thốt tiếng thở dài nhẹ nhõm. Cái anh chàng lố lăng hỗn xược chẳng phải ai khác hơn là nhà thơ mà bà Charlotte mách tên: José Maria de Heredia!

Và Hoàng hậu, đứng bên Người, trong hội lớn

Chỉ riêng nàng nhan sắc tuyệt trần sao.

Hãy cho tôi được chào nơi Nữ hoàng kiều diễm

Vẻ dịu hiền kia thánh thiện biết bao!

Nhịp điệu các khổ thơ khiến chúng tôi mê say. Tính vang âm vần điệu tạo trong tai những cuộc hôn phối lạ kỳ của các từ ngữ xa xôi- dòng sông- mênh mông, rực rỡ - hớn hở Chúng tôi cảm thấy duy chỉ có những tài khéo ngôn từ nọ mới biểu hiện được vẻ xa lạ của cái Atlantide Pháp chúng tôi:

Đây Paris! Biết bao lời tung hô đẹp đẽ

Đang dâng lên từ thành phố vui tươi cờ xí rợp trời

Thành phố ấy, từ dinh thự nguy nga đến mái lều nhỏ mọn

Đang kết chặt ba mầu cờ hai nước khắp nơi nơi…

Dưới rặng câu phong vàng, dòng sông Seine với đôi bờ mỹ lệ

Chở tiếng reo hò của dân chúng hân hoan

Hỡi Thượng khác, bao trái tim theo mắt nhìn đang hướng về quý vị

Nước Pháp đang chào các Ngài bằng sức trẻ cường ngoan!

Sức mạnh sẽ hành thành những kỳ công rực sáng của Hòa bình

Và cây cầu kia đang bắc một chiếc vòm cao rộng

Từ thế kỷ đang tàn sang thế kỷ mới nhen

Chiếc cầu sinh ra cho các nhân dân và các thời đại nối liền…

Trên bãi bờ lịch sử trước khi Ngài bước xuống.

Nếu trái tim hào phóng của Ngài đáp lời những trái tim Pháp hôm nay.

Trước cây cầu, xin Ngài hãy nghiêm trang trầm tư và mơ mộng

Nước Pháp dành món quà này cho Alexandra, thân phụ của Ngài.

Giống như Đức Vua Cha, xin Ngài hãy oai hùng và nhân đạo.

Cứ giữ nguyên trong vỏ lưỡi gươm thần tôi luyện trứ danh.

Và như người chiến sĩ hòa bình tì lên đốc kiếm.

Hỡi Sa hoàng, hãy nhìn trong bàn tay Ngài trái đất vần xoay.

Một cử chỉ đế vương giữ cân bằng cho trái đất

Cánh tay khỏe gấp hai không mệt mỏi chút nào

Bởi Alexandre, cùng với Đế Chế, đã để lại cho Ngài di sản

Là niềm vinh dự chinh phục được tình yêu một dân tộc tự do.

“Niềm vinh dự chinh phục được tình yêu một dân tộc tự do”, lời đáp này suýt trôi tuột trong dòng chảy các câu thơ du dương nó khiến chúng tôi chú ý. Dân tộc Pháp, một dân tộc tự do Bây giờ chúng tôi hiểu vì sao nhà thơ dám ban phát lời khuyên cho vị chúa tể một vương quốc hùng mạnh nhất thế giới và vì sao được các công dân nọ yêu mến lại là một vinh dự. Cái tự do kia, đêm ấy, trong không khí nóng nực thảo nguyên, hiện ra với chúng tôi như một luồng gió phùn phụt mát mẻ làm cuộn sóng sông Seine và chứa đầy phổi chúng tôi một niềm hứng khởi say sưa có hơi điên rồ…

Về sau chúng tôi sẽ biết đánh giá lối văn cầu kỳ hoa mỹ nặng nề này, nhưng hồi đó cái giọng khoa trương thù tạc ấy không ngăn được chúng tôi khám phá trong câu thơ một “cái gì đó rất Pháp” lúc bấy giờ chưa biết gọi là gì. Trí tuệ Pháp ư? Lịch sự Pháp ư? Chúng tôi chưa biết nói ra.

Một lúc nào đó, nhà thơ quay ra phía sông Seine và giơ tay chỉ cái nóc vòm nhà Invalides[4] bên kia bờ. Bài diễn văn vần điệu của ông ta đụng đến một điểm hết sức đau thương trong quá khứ Pháp Nga: Napoléon, Mạc tư khoa bốc cháy, Bérézina… Chúng tôi hồi hộp cắn môi, rình xem giọng nói ông ta vào cái thời khắc vô cùn nguy hiểm này thế nào. Gương mặt Sa hoàng trầm xuống. Nữ hoàng Alexandra thì khép mi. Phải chăng tốt hơn nên im lặng đừng nhắc đến, làm như không có gì xảy ra hết và từ Pierre Đại đế nhảy ngay sang cuộc liên minh thân thiện có hơn không?

Nhưng Heredia dường như lại còn cao giọng hơn nữa:

Và trên bầu trời, phía xa xa, chiếc mái vòm chói sáng

Còn lưu giữ những anh hùng của thời đại qua lâu

Mà người Pháp và người Nga, trong một trò đấu thương không thù hận.

Vì tính cuộc ngày mai, hai dòng máu trộn vào nhau.

Băn khoăn ngơ ngác, chúng tôi tự hỏi: “Vì sao chúng ta lại thù ghét người Đức đến vậy khi nhớ lại cuộc tấn công của bọn Teuton[5] cách đây bảy thế kỷ, dưới thời Alexandra Nevski, cũng như cuộc chiến tranh vừa rồi?” Tại sao chúng ta không thể quên những điều tàn bạo do bọn xâm lược Ba Lan và Thụy Điển gây ra cách đây ba thế kỷ rưỡi? Đấy là chưa kể bọn Tarta… Và tại sao kỷ niệm về thảm họa ghê gớm năm 1812[6] không hề làm hoen ố thanh danh người Pháp trong những đầu óc Nga? Phải chăng chính là nhờ cái thanh lịch ngôn ngữ về “trò đấu thương không thù hận” nọ?

Nhưng “cái gì đó rất Pháp” lại biểu lộ chủ yếu dưới dáng vẻ sự hiện diện của người phụ nữ. Bà Alexandra đang đứng đấy, tập trung về phía mình một sự chú ý kín đáo, được chào đón trong mỗi lời diễn văn bằng giọng ít khoa trương hơn ông chồng, chính vì vậy càng lịch thiệp. Và thậm chí giữa các bức tường Viện Hàn lâm Pháp nơi mùi các đồ gỗ cũ và các pho sách bụi bặm khiến chúng tôi nghẹt thở, cái “cái gì đó” giúp cho bà vẫn là phụ nữ. Vâng, bà là như vậy ngay giữa đám các ông già kia mà chúng tôi đoán là hay càu nhàu, thông thái rởm lại hơi điếc lác do lông mọc trong tai. Một vị trong đám, ông giám đốc, đứng dậy, và với vẻ mặt cau có, tuyên bố khai mạc buổi họp. Rồi ông im lặng như để tập trung ý nghĩ mà chúng tôi đoán chắc chúng tất sẽ làm cho tất thảy mọi thính giả cảm thấy độ rắn các ghế gỗ đến ê ẩm cả người. Mùi bụi bặm càng nồng nặc. Đột nhiên ông giám đốc ngửng đầu một tia láu lỉnh lóe trong mắt và ông nói:

Thưa Hoàng thượng, thưa Lệnh bà! Cách đây gần hai trăm năm Pierre Đại đế một hôm bất ngờ xuất hiện nơi các viện sĩ họp và tham gia công việc của họ… Hoàng thượng hôm nay còn làm hơn thế nữa: góp thêm một vinh dự bằng cách không đến một mình (quay về phía Hoàng hậu): sự hiện diện của Lệnh bà ở đây sẽ đóng góp cho cuộc tranh luận nghiêm trang của chúng tôi một cái gì khác bất thường: Vẻ duyên dáng.

Nicolas và Alexandra trao đổi nhau một ánh mắt lẹ. Và diễn giả, như thể cảm thấy đã đến lúc gợi lên điều chủ yếu, cao giọng vang vang, rất hùng biện tự đặt câu hỏi:

Tôi có được phép nói lên điều này không? Sự biểu lộ thiện cảm này hướng tới không chỉ riêng Viện Hàn lâm, mà cả với nền quốc ngữ của chúng tôi cái ngôn ngữ vốn không hề xa lạ với các ngài, và qua đó người ta cảm thấy một ý muốn hòa nhập mật thiết hơn với thẩm mỹ và trí tuệ Pháp…

“Nền quốc ngữ chúng tôi”. Qua phía trên trang báo bà ngoại đang đọc, chị em tôi nhìn nhau, cùng bừng lóe một tia sáng trong đầu: “… vốn không phải một ngôn ngữ xa lạ với các ngài”. Đúng thế rồi, chìa khóa của Atlantide chúng tôi là đó! Ngôn ngữ, cái chất liệu huyền bí, vô hình mà hiện diện khắp nơi, bằng cái bản chất ngân vang, nó với tới mọi ngõ ngách của cái thế giới mà chúng tôi đang thăm dò. Cái ngôn ngữ nó nhàn nặn mọi con người, tạc hình các vật, lai láng chảy thành thơ, gầm thét trên các đường phố tràn ngập đám đông, khiến một nữ hoàng trẻ đến từ bên kia quả đất nở nụ cười… Nhưng nhất là, nó phập phồng đạp trong chúng tôi, như một cái mầm ghép huyền hoặc tim lúc này đã phủ đầy hoa lá, mang trong nó thành quả của một nền văn minh. Vâng, cái mầm ghép ấy, tiếng Pháp.

Và chính là nhờ cái cành nhánh vừa nẩy nở trong tim mà chúng tôi tối ấy bước vào buồng lô dành cho vợ chồng nhà vua ở Nhà hát Comédic- Francaise. Chúng tôi giở xem chương trình, Một trò đỏng đảnh của Musset, trích đoạn kịch Le Cid, màn ba vở Các bà thông thái. Chúng tôi chưa hề đọc những cái này thời bấy giờ. Chính là qua một chút đổi giọng của bà Charlotte mà chúng tôi đoán tầm quan trọng những cái tên kia đối với cư dân Atlantide.

Màn kéo lên. Toàn thể bạn diễn đứng trên sân khấu, mặc áo choàng lễ phục. Người cao niên trong đám bước tới, cúi mình và nói về một đất nước mà thoạt đầu chúng tôi chưa nhận ra ngay:

Có một đất nước xinh tươi và rộng dài như một thế gian.

Ở nơi đó, chân trời dường như không chấm hết

Một đất nước với tâm hồn giàu đẹp

Rất lớn một thời qua, cũng lớn nữa một thời sau.

Vàng màu vàng lúa mì, trắng màu trắng tuyết phơi.

Trên đất ấy, những người con, tướng hay quân, đều bước đi với bàn chân chắc mạnh.

Cầu cho số phận nhân từ chở che cho họ

Với những màu vàng trên dải đất tinh khôi!

Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn đất nước tôi từ bên ngoài, từ xa, cứ như thể tôi không thuộc về nó nữa. Được chở tới một thủ đô lớn của châu Âu, tôi quay lại để ngắm vẻ mênh mông cánh đồng lúa mì và những đồng bằng phủ tuyết dưới ánh trăng. Tôi nom thấy nước Nga bằng tiếng Pháp! Tôi đang ở nơi khác. Ở ngoài đời sống Nga của tôi. Và nỗi giằng xe này vừa sắc nhọn và đồng thời hào hứng đến nỗi tôi phải nhắm mắt lại. Tôi đâm sợ không thể trở lại với bản thân mình, sợ lưu lại mãi trong cái đêm Paris nàyNheo mắt, tôi hít thở thật sâuNgọn gió nóng đêm thảo nguyên lại tỏa đầy trong tôi.

Hôm ấy, tôi quyết định lấy cắp cái ma lực của bà. Tôi muốn đi trước bà Charlotte, lọt vào thành phố tưng bừng lễ hội trước bà, hòa mình vào đoàn tùy tùng của Sa hoàng mà không đợi cái vầng sáng mê hoặc tỏa từ chiếc chao đến màu ngọc lam.

Ngày hôm ấy vắng lặng, xám xịt một ngày hè nhợt nhạt buồn bã, một trong những ngày, lạ thay, vẫn còn lưu trong trí nhớ. Không khí đượm mùi đất ẩm thổi phồng chiếc màn voan trắng bên cửa sổ mở - tấm màn sinh động lên, phình tướng rồi rũ xuống sau khi cho một kẻ vô hình nào đó lọt vào.

Sung sướng thấy đang có một mình mình trong phòng, tôi đem thực hiện kế hoạch. Tôi lôi chiếc vali ra chỗ tấm thảm cạnh giường. Cái nắp khóa bật lên khẽ kêu lách cách như chúng tôi từng nghe mỗi đêm. Tôi lật ngửa vali, cúi nhìn các giấy tờ bề bộn như một tên cướp biển nhìn vào cái kho vàng chiếc hòm…

Trên mặt, tôi nhận ra vài ba bức ảnh, nom thấy Sa hoàng và Hoàng hậu trước điện Panthéon, rồi bên vờ sông Seine. Không, cái tôi tìm nằm sâu hơn phía dưới, trong cái máng đặc sệt đen sì chữ in. Như một nhà khảo cổ, tôi bóc dần từng lớp. Nicolas và Alexandra xuất hiện ở những địa điểm tôi không biết tên. Một lớp nữa, và tôi không còn gặp họ. Lúc này tôi nom thấy những chiếc tàu thiết giáp thon dài trên mặt biển lặng, những chiếc máy bay một lớp cánh, cánh ngắn ngủn nom buồn cười, những người lính trong hầm hào. Cố tìm lại dấu vết cặp vợ chồng nhà vua, tôi đào bới lung tung, xáo lộn các mảnh báo. Sa hoàng hiện ra một lát, cưỡi ngựa, chiếc tranh thánh trong tay, trước một hàng lính bộ binh quỳ… Mặt ông nom như già đi, tối sầm. Riêng tôi thì cứ muốn lại thấy ông trẻ trung, đi cạnh Alexandra xinh đẹp, được đám quần chúng hoan hô, được ca ngợi bằng những câu thơ đầy hứng khởi.

Chính ở tột cùng đáy va li tôi tìm thấy lại dấu tích ông. Cái đầu đề in chữ lớn không thể nhầm được: “Vinh quang cho nước Nga!” Tôi mở trang báo đặt trên đầu gối, như bà Charlotte, và khe khẽ đánh vần những câu thơ:

Ôi, lạy Chúa, tin đâu bao tốt đẹp

Nỗi vui nào run rẩy triệu con tim

Nghe sụp đổ một thành trì lũy thép

Nơi rỉ rên nô lệ kiếp đau buồn!

Nhìn ngửng đầu một nhân dân trỗi dậy.

Và dương cao bó đuốc của lợi quyền!

Bạn ta hỡi, có phải ngày hội lớn

Trên những lâu đài, hãy kéo lá cờ lên!

Đọc đến cái điệp khúc tôi mới dừng lại, đâm hồ nghi: “Vinh quang cho nước Nga?” Nhưng đất nước ấy là đâu cơ chứ, cái đất nước vàng màu vàng bông lúa, trắng màu trắng tuyết phơi? Cái đất nước có tâm hồn giàu đẹp? Và cái anh nộ lệ đang rên rỉ đau khổ nọ đến đây làm gì ấy nhỉ? Và ai là cái kẻ bạo chúa mà người ta hoan hô việc ông ta sụp đổ ấy nhỉ?

Bối rối, tôi đọc to đoạn điệp khúc:

Chào các bạn, xin chào tất cả

Hỡi nhân dân và binh lính nước Nga!

Chào các bạn, xin chào tất cả

Đã đứng lên cứu nước non nhà!

Chào vinh quang và chào danh dự

Viện Dounna giành lại chủ quyền

Nào, ngày mai, vì hạnh phúc mình

Hãy bẻ tan xích xiềng vĩnh viễn.

Đột nhiên những hàng tít lớn phía trên các câu thơ đập vào mắt tôi:

Vua Nicolas đệ nhị thoái vị. Cuộc cách mạng: sự kiện 89[7] Nga. Nước Nga tìm thấy tự do, Kerensi - ông Danton[8] Nga, chiếm nhà tù PIERREET PAUL, cái Bastille[9] Nga. Chế độ chuyên chế kết thúc…

Phần lớn các chữ này chẳng nói với tôi điều gì. Nhưng tôi hiểu điều chủ yếu: Nicolas không còn là Sa hoàng nữa, và cái tin ông ta sụp đổ gây một niềm hân hoan điên cuồng ở những kẻ, mới chiều hôm qua thôi, hoan hô ông ta, chúc tụng ông trị vì bền lâu thịnh vượng. Đúng vậy, tôi nhớ rất rõ giọng của Heredia vẫn còn vang vọng trên ban công nhà tôi:

Vâng, cha của Ngài đã nối bằng sợi dây thân ái

Nước Pháp và nước Nga trong hy vọng cùng chung

Hỡi Sa hoàng, hãy lắng nghe hôm nay nước Nga và nước Pháp.

Cầu chúc cho tên Ngài cùng với tên thánh thiện của Vua cha!

Một sự trở mặt như vậy tôi cho không thể tưởng tượng nổi. Tôi không thể tin một điều tráo trở hèn hạ đến vậy. Nhất là từ phía một ông tổng thống nước Cộng hòa!

Có tiếng đập cửa. Tôi vội vàng nhặt nhạnh các giấy tờ, đóng va li lại đẩy nó xuống gầm giường.

Chiều tối vì trời mưa, bà Charlotte thắp đèn trong nhà. Chị em tôi ngồi cạnh bà như những buổi tối trên ban công. Tôi nghe bà kể: Nicolas và Alexandra trong buồng lô, vỗ tay khi xem Le Cid… Tôi ngắm nhìn gương mặt họ với một niềm buồn bã chán chường trong lòng. Tôi là kẻ đã đoán thấy trước tương lai. Điều hiểu biết này đè nặng trên trái tim tôi thơ trẻ.

“Chân lý là đâu nhỉ?” tôi tự hỏi khi lơ đãng theo dõi câu chuyện (vua và hoàng hậu đứng lên, quần chúng quay nhìn hoan hô). “Các khán giả này chẳng bao nữa sẽ nguyền rủa họ. Và chẳng còn gì nữa hết về mấy cái ngày thần tiên nọ! Chẳng còn gì hết!”.

Cái kết thúc mà chẳng may tội được biết trước, tôi cảm thấy nó phi lý quá, bất công quá, nhất là giữa cuộc lễ hội, giữa những ánh đèn Nhà hát Comédie-Francaise – đến nỗi tôi bật khóc và đẩy lùi ghế, chạy trốn vào nhà bếp. Chưa bao giờ tôi khóc nhiều đến thế. Tôi vùng vằng hất tay chị tôi khi chị cố khuyên dỗ tôi. (Tôi giận chị quá, chị vẫn biết gì sất!) Xuyên qua nước mắt tôi kêu lên tuyệt vọng:

- Mọi cái đều giả dối! Đồ phản bội, phản bội! Lão nói dối đeo râu mép… Một ông Tổng thống, đồ hèn! Đồ dối trá!

Tôi không biết bà Charlotte có đoán ra lí do vì sao tôi đau khổ tuyệt vọng không (có lẽ bà đã chú ý thấy cái bề bộn do tôi lục tìm trong chiếc va ly Xibêri, thậm chí đã tìm thấy cái trang báo định mệnh). Dù sao thì bà cũng tỏ ra xúc động về chuyện tôi bất ngờ bật khóc, bà tới ngồi trên giường tôi, lắng nghe một lát tôi thở dài nức nở, rồi trong bóng tối lần tìm bàn tay tôi, bà đặt vào đó một viên sỏi nhám. Tôi nắm chặt nó trong bàn tay. Không mở mắt, chỉ qua sờ mó, tôi nhận ra cái “Verdun”. Từ nay nó là của tôi.

❀ ❀ ❀

[1] Nhà nông thôn Nga, tường ghép bằng những súc gỗ tròn lớn

[2] Nhà văn Pháp nổi tiếng, tác giả Đi tìm thời gian đã mất

[3] Những sơn hào hải vị của nghệ thuật nấu ăn Pháp

[4] Tòa nhà Thương phế binh, nơi cất giữ thi hài nhiều tướng tá, trong đó có Napoléon.

[5] Một dân tộc thuộc nước Đức cổ

[6] Thời kỳ chiến tranh Nga Pháp. Tháng 6-1812, Napoléon đưa đại quân sang xâm lược Nga, chiếm Mạc Tư khoa nhưng người Nga đốt cháy thành phố và quân Pháp đại bại, pải rút lui với nhiều thương vong.

[7] Ví với Cách mạng Pháp 1789

[8] Danton, lãnh tụ Cách mạng Pháp

[9] Ngục Bastille, do quân Cách mạng Pháp chiếm

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.