2
Ra khỏi hiệu sách, tôi đi xuyên qua thành phố và bước lên chiếc cầu bắc trên khoảng rộng chói nắng sông Garonne. Tôi tự nhủ trong các phim ngày xưa có cái mẹo hay hay để bay vượt trong vài ba giây nhiều năm của cuộc đời các nhân vật. Động tác ngừng lại và trên phông đen hiện lên dòng ghi kiểu thực thà không úp mở tôi vốn thích: “Hai năm sau” hoặc “Ba năm qua đi”. Nhưng ngày nay còn ai dám dùng cái phương pháp lỗi thời ấy nữa?
Tuy nhiên khi bước vào hiệu sách vắng vẻ kia, giữa một thành phố nhỏ bức ngốt người, và khi tìm thấy trên kệ cuốn sách vừa in của tôi, đúng là trong trí đã nẩy ấn tượng kia: “Ba năm qua đi”. Khu nghĩa địa, cái khám thờ dòng họ Belval và Castelot, và cuốn sách kia giữa mớ các bìa sách nhiều màu, dưới mục: “Sách mới tiểu thuyết Pháp”…
Sang chiều, tôi đến khu rừng xứ Landes. Tôi nghĩ từ đây tôi sẽ đi hai ngày hoặc có thể hơn nữa và tiên cảm thấy phía sau những đồi núi nhấp nhô phủ đầy thông là sự chờ đợi từ bao đời bất diệt của đại dương. Hai ngày, hai đêm… Nhờ cuốn sổ “ghi chép”, thời gian dồn lại dày đặc kỳ lạ. Sống trong dĩ vãng của bà Charlotte, vậy mà tôi dường như chưa bao giờ cảm nhận cái hiện tại mãnh liệt đến thế! Chính những phong cảnh thời trước đã tạo nên một chiều nổi thật đặc biệt cho mảng bầu trời này giữa các chùm lá kim, cho khu rừng thưa này dọi ánh chiều tà vàng rực lên như một dòng hổ phách.
Sáng sớm lúc lên đường lại (một gốc thông khía vỏ hôm qua tôi không chú ý đang nhễu từng giọt như nước mắt), vô cớ tôi nhớ lại cái gian hàng hôm qua trong góc hiệu sách: “Văn học Đông Âu”. Những cuốn sách lần đầu tiên của tôi có đó, đứng bên nhau, gây niềm bàng hoàng hoang tưởng tự đại, giữa những cuốn sách của Lermontov và Nabokov. Về phần tôi, đó là một mẹo lừa phỉnh văn chương không hơn không kém. Vì rằng các cuốn này đã được viết thẳng bằng tiếng Pháp và bị nhà xuất bản từ chối: tôi là “anh người Nga kỳ cục đi nghĩ chuyện viết văn tiếng Pháp”. Tuyệt vọng, tôi bèn bịa ra một người dịch thuật và gửi bản thảo, giới thiệt nó như dịch từ tiếng Nga. Nó đã được nhận, được xuất bản và khen ngợi về chất lượng dịch. Tôi tự nhủ, lúc đầu thì trong tâm trạng chua chát, về sau với nụ cười mỉm là cái tai họa Pháp – Nga vẫn còn đeo đẳng lấy tôi. Có điều, nếu như khi còn bé tôi bắt buộc phải giấu cái mầm ghép Pháp thì giờ đây chính lai lịch Nga của tôi lại trở thành đáng trách.
Chiều tối tôi đọc lại mấy trang cuối cuốn sổ “ghi chép”.
Trong một đoạn ghi hôm qua, tôi viết: “Một đứa bé hai tuổi đã chết trong cái nhà gỗ ghép lớn đối mặt với tòa nhà bà Charlotte ở. Tôi thấy bố đứa bé đặt lên tay vịn bậc tâm cấp một cái hòm thuôn dài phủ vải đỏ - một quan tài be bé! Cái kích thước búp bê khiến tôi kinh hãi. Tôi phải kiếm ngay tức thì dưới bầu trời này, trên mặt đấy này, một nơi có thể hình dung em bé ấy đang sống. Cái chết một sinh vật trẻ hơn tôi đặt vấn đề phải xem xét lại toàn bộ thế giới. Tôi lao đến bà Charlotte. Bà nhận ra niềm khắc khoải của tôi và nói một điều vừa kỳ lạ vừa thật đơn giản: “Cháu có nhớ hồi mùa thu có đàn chim đi trú đang bay không? – Vâng, chúng đã bay qua phía trên sân nhà ta rồi mất hút. – Đúng thế, nhưng chúng vẫn đang bay đến nơi nào đó ở các đất nước xa xôi, có điều ta kém mắt, ta không nom thấy được. Với người chết cũng vậy thôi…
Xuyên qua giấc ngủ, tôi tưởng nghe thấy tiếng cành lá xao động dữ dội hơn và dai dẳng hơn. Cứ như gió không hề ngừng thổi một giây lát nào. Sáng ra tôi nhận thấy đó là tiếng rì rào của biển khơi. Hôm qua vì quá mệt tôi dừng lại nghỉ ở chỗ giáp ranh nơi rừng núi lún sâu vào những đụn cát ngâm chân trong sóng mà không hay.
Suốt buổi sáng tôi thơ thẩn trên bờ vắng dõi theo cảnh nước dâng từ từ khó nhận ra… Khi nước biển bắt đầu rút, tôi lại lên đường. Chân trần đi trên cát ướt và dẽ, giờ đây tôi tiến về phía nam. Tôi vừa đi vừa nghĩ đến chiếc túi mà chị tôi và tôi hồi bé gọi là “cái túi Cầu mới”, nó chứa đựng những viên sỏi bọc trong mẩu giấy. Có một “Fécamp”, một “Verdun” và cũng có một “Biarritz”, mà cái tên gợi nhớ đến chất thạch anh hơn là đến một thành phố chúng tôi không hề biết,… Tôi sẽ còn đi dọc bờ biển mươi mười hai ngày nữa để tìm lại cái thành phố này mà một mẩu bé tẹo của nó đã thất lạc nơi nào đó ở chốn hang cùng ngõ hẻm thảo nguyên Nga.