Phần I
I
Hồi còn bé, tôi đã đoán rằng cái nụ cười mỉm rất đặc biệt kia, với từng người phụ nữa biểu hiện một chiến thắng nhỏ kỳ lạ. Đùng vậy, một sự phục thù chốc lát trước những hy vọng tan vỡ, thôi thô bỉ người đời, nỗi hiếm vắng những điều đẹp đẽ và chân thực trong thế giới này. Nếu như lúc bấy giờ biết các diễn đạt, tôi sẽ báo cái mỉm cười ấy là đầy “nữ tính”... Nhưng ngôn ngữ tôi hồi còn quá cụ thể. Tôi đành tự bằng lòng nhìn ngắm trong an bom các gương mặt phụ nữ và tìm thấy lại cái hồi quang đẹp đẽ kia trên một số gương mặt.
Là vì các bà này biết rõ muốn đẹp, thì vài ba giây trước khi máy ảnh chớp lên chói mắt, cần thốt mấy cái âm tiết Pháp bí ẩn này vốn không mấy ai hiểu nghĩa “pe-tite-pomme...”[1] Như có pháp thần, thay vì miệng dạch rộng trong vẻ hân hoan hớn hở hoặc co dúm trong cái nhếch mép hồi hộp, khuôn môi uốn thành một vòng tròn duyên dáng. Toàn bộ gương mặt biến đổi hẳn. Lông mày khẽ rướn cong, đôi má bầu bầu thuôn dãn. Họ nói “petite pomme”, và hình bóng một niềm hồn hậu xa xôi mơ mộng hiện lên mờ ảo trong ánh mắt, tô các nét thêm tinh thể, khiến các bức ảnh phảng phất một làn ánh sáng dìu dịu những ngày xưa cũ.
Một ngón ảo thuật nhiếp ảnh như vậy đã chiếm lĩnh niềm tin cậy của bao người phụ nữ khác nhau. Chẳng hạn cái bà người Nga bà con trên bức ảnh màu độc nhất trong anbom. Vợ một ông ngoại giao, bà nói không mở miệng và thờ dài chán chường trước khi nghe người ta cất lời. Nhưng trên ảnh, tôi nhận thấy ngay tức khắc hiệu quả của “petite pomme”.
Tôi cũng nhận thấy cái quầng sáng trên gương mặt của bà tỉnh lẻ tẻ nhạt nọ, một bài dì vô danh nào đó người ta nhắc tên là chỉ để nói về những người đàn bà góa bụa sau vụ tàn sát đàn ông hồi chiến tranh vừa rồi. Cả đến Glacha, cô gái nông thôn trong gia đình, trên vài bức ảnh chúng tôi còn giữa cũng trưng bày cái nụ cười kỳ diệu kia. Cuối cùng lại có cả một bầy những cô em họ trẻ đang phồng môi cố giữ trong mấy giây pô bất tận cái phù phép thoáng qua kiểu Pháp. Trong khi lẩm nhẩm “petite pomme” hẳn các cô vẫn còn tin cuộc sống sắp tôi sẽ được dệt toàn bằng những phút giây ân sủng nó…
Chuỗi những ánh mắt và gương mặt nối tiếp kia cứ chốc chốc bị xuyên qua bởi hình ảnh một phụ nữ nét mặt đều đặn tinh tế, màu máu xám. Lúc đầu còn trẻ trong các anbom cũ nhất, nụ cười của bà thấm đượm vẻ quyến rũ bí mật của “petite pomme”. Tiếp đó, với tuổi tác, trong các anbom càng lúc càng mới và gần với bây giờ, cái vẻ ấy mờ nhạt dần, nhuốm chút u buồn và thuần phác.
Chính người phụ nữ ấy, người đàn bà Pháp lưu lạc giữa mênh mông tuyết phủ nước nga, là người đã bày cho chung quanh cái tiếng để làm đẹp kia. Bà ngoại tôi đấy Bà sinh ở Pháp vào đầu thế kỷ, trong gia đình ông Norbert và bà Albertine Lemonnier. Cái bí mật của “petite pomme” chắc hẳn là truyền thuyết đầu tiên làm tuổi thơ chúng tôi xiết bao thích thú và cũng là một trong những lời đầu tiên của cái ngôn ngữ mà mẹ tôi gọi vui là “tiếng bà ngoại đẻ” của chúng mày.
Một hôm tôi tình cờ nhìn thấy một bức ảnh lẽ ra tôi không nên nhìn… Tôi đang nghỉ hè tại nhà bà ngoại trong cái thành phố ven thảo nguyên Nga nơi bà trôi giạt đến sau chiến tranh. Bấy giờ sắp tối buổi hoàng hôn hè nóng nực ké dài tỏa khắp nhà một ánh sáng mầu tím nhạt. Cái ánh sáng hơi huyền ảo ấy dọi lên những bức ảnh tôi đang xem cạnh cửa sổ mờ. Các ảnh này cũ nhất trong anbom, Chúng vượt qua cả cái mốc xa lơ xa lắc là cuộc cách mạng năm 1917, làm sống lại thời các Sa hoàng, không những thế, còn chọc thủng bức màn sắt rất kiên cố hồi bấy giờ, lúc thì đưa tôi lên bậc thềm một nhà thờ gô tích, lúc dẫn tới những lối đi một khu vườn vuông vức ngang hàng thẳng lối không chê vào đâu được khiến tôi lạ mắt đến ngẩn ngơ. Tôi đang chìm sâu vào pho tiền sử gia đình…
Rồi đột nhiên, bức ảnh nọ!
Tôi nom thấy nó khi chỉ do tò mò, tôi mở một chiếc phong bì lớn kẹp giữa trang cuối và tấm bìa. Đó là cái mớ ảnh mà thông thường người ta cho không đáng dán lên các trang các tông ram ráp, in những phong cảnh không còn nhớ chụp ở đâu, những gương mặt chung chung không gợi lên tình cảm hoặc kỷ niệm. Mớ ảnh mà mỗi lần người ta tự nhủ ngày nào đó phải lọc bớt để quyết định số phận của những linh hồn hắt hiu cô quạnh kia.
Chính là giữa những con người xa lạ và những phong cảnh vùi vào quên lãng nọ mà tôi nom thấy bà ta. Một phụ nữ trẻ, ăn mặc tương phản kỳ quặc với vẻ thanh lịch của những nhân vật ở các bức ảnh khác. Bà ta bận chiếc áo bông dày cộm xám xịt, đội mũ lính đàn ông hai mảnh che tai buông thõng. Bà bế trên ngực một em bé bọc kín trong chăn len.
Tôi kinh ngạc tự hỏi: “Cách thế nào mà người đàn bà này lỏn được vào giữa đám các ông bận lễ phục và các bà váy áo dạ hội kia ấy nhỉ?” Rồi lại quanh bà ta trên các bức ảnh khác, là những đại lộ tráng lệ, những hàng cây cột lớn, những phong cảnh Địa Trung Hải. Sự hiện diện của bà cứ như là không hợp thời, không đúng chỗ, khó hiểu. Trong khung cảnh gia đình thời bấy giờ, bà có vẻ như khách không mời mà đến, với kiểu áo váy lố lăng hệt như ngày nay chỉ các bà thu dọn tuyết mùa đông ngoài đường mới ăn vận như vậy…
Tôi không nghe tiếng chân bà tôi đi vào. Bà đặt tay lên vai tôi. Tôi giật thột, tiếp đó chỉ vào bức ảnh, hỏi:
- Người đàn bà này là ai hả bà?
Một ánh hoàng hốt lướt qua trong mắt bà tôi vốn luôn luôn bình tĩnhBằng một giọng hầu như uể oải bà đáp lại bằng câu hỏi:
- Người đàn bà nào?
Chợt cả hai bà cháu giỏng tai lắng nghe. Có tiếng sột soạt kỳ lạ vang khắp phòng. Bà tôi quay nhìn và kêu lên giọng vui vẻ, hình như thế:
- Cái đầu lâu! Trông kìa, cái đầu lâu!
Tôi nom thấy một con bướm lớn màu nâu, thứ bướm thường xuất hiện lúc hoàng hôn, nó đập cánh cố húc vào mặt kính tưởng nhầm là khoảng trống. Tôi với tay lao tới, cảm thấy trước cặp cánh nhung của nó mơn buồn buồn trong lòng bàn tay… Đúng lúc ấy tôi nhậm ra con bướm này to dị thường. Tôi lại gần và buột kêu:
- Có hai con cơ đấy! Sinh đôi dính vào nhau!
Quái thật, hai chú bướm dường như cột vào nhau. Thân mình chúng rung lên dữ dội. Tôi ngạc nhiên thấy cặp bướm chẳng chú ý gì đến tôi, cũng chẳng tìm cách thoát. Trước khi chộp được nó, tôi kịp nhận ra những chấm trắng trên lưng nó, nom quả như chiếc đầu lâu.
Hai bà cháu không còn chuyện trò về người đàn bà bận áo bông nữa. tôi dõi nhìn con bướm đêm bay lên trong bầu trời nó phân thành hai và tôi hiểu, trong chừng mực một đứa trẻ mười tuổi có thể hiểu, tại sao chúng lại dính vào nhau như vậyVẻ thảng thốt của bà tôi giờ đây về như có lý do.
Chuyện hai con bướm đêm lẹp nhau đưa trí tôi về với hai kỷ niệm rất xưa cũ và bí ẩn nhất của thời thơ ấu. Kỷ niệm thứ nhất, lần lên hồi tám tuổi, thâu tóm trong vài lờn một bài hát cũ bà tôi cứ thì thầm hơn là cấy lên tiếng hát, một đôi khi ngồi trên ban công, đầu cúi xuống đồ khâu, đang mạng lại cổ hoặc thùa lại khuy. Chính mấy câu chót khiến tôi thích mê:
... Và ở đó đôi ta sẽ ngủ
Cho đến ngày tận thế
Giấc ngủ cặp tình nhân dài đến vậy vượt quá tầm hiểu biết trẻ nít của tôi. Tôi vốn biết là người chết thì ngủ vĩnh viễn (như cái bà già hàng xóm mà người ta đã giảng giải cho tôi rõ bà qua đời dạo mưa dông như thế nào). Ngủ như cặp tình nhân trong bài hát ư? Tình yêu và cái chết trộn lẫn thành một thứ hợp kim kỳ lạ trong đầu óc thôi. Và vẻ đẹp u buồn của giai điệu, chỉ càng làm tăng thêm niềm bối rối kia. Tình yêu, cái chết, vẻ đẹp... Thế rồi cái cảnh trời chiều này này, ngọn gió này, mùi vị thảo nguyên này, mà nhỡ có bài hát tôi cảm nhận rõ được mọi thứ đó cứ như thể cuộc đời tôi bắt đầu từ giây phút ấy.
Kỷ niệm thứ hai không thể nói rõ thời gian, vì quá xa xôi thậm chí cũng chẳng có cái “tôi” thật cụ thể trong đám mây mù ký ức. Chỉ là cái cảm giác mãnh liệt về ánh sáng, cái hương thơm nồng nàn cây cỏ và những dãy bạc óng ánh kia vạch ngang màu xanh đậm của không khí nhiều năm sau tôi hiểu ra là tơ nhện bay. Mờ hồ, không thể nắm bắt, cái hồi ức này tuy nhiên lại thật thân thiết với tôi, vì dường như tôi tự thuyết phục được rằng đó là điều nhớ lại khi còn trong bụng mẹ. Phải rồi, từ một âm vang do cái dòng dõi Pháp của tôi dội về. Nguyên do là vì trong một câu chuyện bà tôi kể, tôi tìm thấy lại tất cả mọi yếu tố của kỷ niệm này: ánh mặt trời mùa thu trong chuyến bà đi qua xứ Provence, mùi những cánh đồng oải hương và cả những tơ nhện bay óng ánh trong không trung thơm ngáy. Tôi sẽ chẳng bao giờ dám thổ lộ với bà về cái linh tính trẻ thơ này.
Đúng vào mùa hè năm sau, một hôm chị tôi và tôi nom thấy bà ngoại khóc... Lần đầu tiên trong đời chúng tôi.
Trong mắt chị em tôi bà như một vị thần công minh nhân từ, luôn luôn bình tĩnh và tuyệt vời thanh thảnChuyện đời bà, từ lâu đã thành huyền thoại, đặt bà vượt cao hơn những buồn lo trần thế. Đúng vậy, chúng tôi không hề nom thấy một giọt nước mắt. Quá lắm là cái cắn mọi đau đớn, cặp má khẽ giật giật, mí mắt chớp chớp...
Chúng tôi đang ngồi trên thảm phủ đầy mẩu giấy và đang lao vào một trò chơi mê mải: nhặt các viên sỏi bé bọc trong các mẩu giấy trắng đem so với nhau lúc thì một mảnh thạch anh, lúc thì một hòn cuội trơn nhẵn. Trên giấy thấy ghi những chữ, mà vì không hiểu chúng tôi cho là những tên khoáng vật bí ẩn: Fécamp, La Rochelle, Bayonne...[2] Trong một mẩu giấy, chúng tội lại còn tìm thấy một mảnh quặng sắt ram ráp có vệt gì. Đọc cứ như tên một kim loại kỳ lạ “Verdun”[3].Nhiều mẫu của sưa tập này đã được mở xem như vậy.
Khi bà ngoại bước vào, trò chơi từ một lúc đã trở nên náo nhiệt hơn. Hai chị em tranh nhau những viên đá đẹp nhất, chúng tôi chập vào nhau xem cái nào rắn hơn, có khi đánh vỡ đôi. Những viên có vẻ xấu xí chẳng hạn như viên “Verdun” thì được vứt qua cửa sổ, lên một bồn thược dược. Nhiều mẩu giấy bị xé toạc...
Bà chúng tôi đứng sững trên cái chiến trường đầy mảnh vụn trắng. Chúng tôi ngước nhìn. Và đúng lúc ấy luồng mắt màu xám của bà dường như đẫm lệ - vừa đủ để nó nhóng nhánh lên khiến chúng tôi nhìn không chịu nổi.
Không, bà chúng tôi chẳng phải là một vị nữ thần. Vậy là bà cũng có thể bị giày vò vì một niềm bực bội, một cơn tuyệt vọng đột ngột. Bà, người mà chúng tôi cứ tưởng tiến bước ung dung trong chuỗi ngày êm ả, cà cũng đôi lúc rưng rưng nước mắt!
Chính là từ cái mùa hè ấy mà cuộc đời bà ngoại phát lộ trước mắt tôi những khía cạnh mới không ngờ. Và nhất là rất riêng tư.
Trước kia quá khứ của bà thu gồm vào vài ba bùa phép, vài di vật gia đình, chẳng hạn như chiếc quạt lụa nom giống như chiếc là phong mỏng manh, hoặc như cái “túi nhỏ Cầu Mới” đáng ghi nhớ. Truyền thuyết chúng tôi kể rằng cái túi này vốn do Charlotte Lemonnier nhặt được trên chiếc cầu nói trên, lúc đó bà mới lên bốn. Chạy lon xon trước mẹ, con bé đột nhiên đứng dừng kêu lên: “Cái túi!”. Và già nửa thế kỷ sau, giọng vang vang của bà còn vọng lại yếu ớt giữa một thành phố hẻo lánh trong cái mênh mông Nga, dưới mặt trời thảo nguyên. Chính là trong cái túi bằng da lợn này, miệng dính những mảnh men xanh, bà đã cất giữa món sưu tập những viên đá thời xưa.
Chiếc ví cũ kỹ nào đánh dấu một trong những kỷ niệm đầu tiên bà ngoại, và đối với chúng tôi, nó đánh dầu mối phát sinh cái thế giới hoang đường trong ký ức bà: Paris, Cầu Mới... Một thiên hà kỳ lạ đang thai nghén, phác những đường viền còn mơ hồ trước con mắt chúng tôi đầy mê hoặc.
Với lại, trong số những dấu tích của quá khứ kia (tôi còn nhớ niềm vô cùng thích thú khi vuốt ve mép mạ vàng mượt bóng những cuốn sách hồng: Hồi ức chú chó bông, Em gái của Gribouille...)còn có một bằng chứng xưa cũ hơn. Cái bức ảnh nọ, chụp lúc đã về sống ở Xibêri: bà Albertine, ông Norbert và phía trước hai người, bà Charlotte lúc lên hai trùm chiếc mũ viền đăng ten, mặc áo búp bê, đặt ngồi trên một vật tựa rất sơ sài kiểu đồ đạc thợ ảnh thường có, một cái bàn xoay cao nghêu. Bức ảnh dán trên tờ các tông dày, mang tên người thợ ảnh và hình các huy chương được thưởng, khiến chúng tôi rất đỗi băn khoăn: “Có gì chung kia chứ, giữa người đàn bà tuyệt đẹp, gương mặt thuần khiết thanh tú, tóc buông óng ả, và ông già nọ với bộ rây bạc bện thành hai bím nom giống cặp nanh con hải mã?”
Chúng tôi cũng biết ông già này, tức cụ cố chúng tôi, hơn bà Albertine hai mươi sáu tuổi. “Cứ như thế ông cụ lấy con gái mình ấy!” chị tôi bực tức bình luận. Chúng tôi coi cuộc hôn phối này có vẻ hỗn tạp, không lành mạnhSách học ở trường đầy rẫy những chuyện cưới xin giữa một cô gái không hồi môn và một ông già giàu có, keo kiệt và hám trẻ. Đến mức chúng tôi tin trong xã hội tư sản, không thể có tình huống hôn nhân nào khác. Chúng tôi cố vạch tìm trong vẻ mặt ông Norbert một nét độc địa dâm bôn nào đấy, một cái nhăn mặt mãn nguyện không thể giấu. Nhưng mặt ông vẫn điềm đạm trung thực như mặt các nhà thám hiểm can trường trong các minh hoạt truyện Jules Verne. Vả chăng ông già râu bạc hồi bấy giờ mới bốn mươi tám tuổi.
Về phần Albertine, được giả thiết như nạn nhân các thói tục tư sản, chẳng bao lâu sau bà đã đứng trên mép nhẫn một huyệt mộ nơi những xẻng đất đầu tiên bay tung lên. Theo như kể lại, bà giãy dụa rất dữ trong tay những người ngăn cản, kêu gào thảm thiết đến mức đám người Nga đưa tang trong cái nghĩa địa thành phố Xibêri xa xôi này đâm bàng hoàng sửng sốt. Những người này vốn quen với cảnh huyên náo bi thương lễ tang trên đất nước mình, với những dòng nước mắt lã chã và những lời than vãn thống thiết, họ đâm sững sờ trước vẻ đẹp khổ đau quằn quại của người phụ nữ Pháp trẻ kia. Nghe kể là bà vật vã trên huyệt mộ vừa khóc lóc trong ngôn ngữ lanh lảnh quê bà: “Ném tôi xuống! Cho tôi chết theo!”.
Tiếng khóc than thê thảm ấy còn âm vang rất lâu trong tai bọn trẻ chúng tôi.
- Có lẽ là... bà cũng yêu ông ấy...,chị tôi có lần bảo. Và đỏ mặt.
Nhưng đáng chú ý hơn cả cái cuộc hôn phối khác thường giữa ông Norbert và bà Albertine, chính Charlotte trên bức ảnh chụp hồi đầu thế kỷ, mới gợi sự tò mò trong trí tôi. Đặc biệt là những ngón chân trần cô bé, Do tình vờ hoặc vô tình làm dáng, cô bé đã quặp mấy ngón chân thật chặt. Chi tiết vặt này tạo một ý nghĩa đặc biệt cho bức ảnh vốn cũng rất bình thường. Không biết cách diễn tả ý nghĩa, tôi đành nhắc đi nhắc lại trong bụng, giọng mơ màng: “Cái cô bé đặt ngồi chẳng biết tại sao trên chiếc bàn tròn một chân kỳ cục này, vào cái ngày hè đã biến vào vĩnh viễn, ngày 22 tháng tư 1905 ấy, nơi hang cùng ngõ hẻm Xibêri. Phải, cái cô bé Pháp nhỏ xíu hôm ấy ăn mừng tròn hai tuổi, cái cô bé đang nhìn bác thợ ảnh và tự dưng vô tình quặp những ngón chân bé không tưởng tượng được và nhờ đó giúp tôi thâm nhập vào cái ngày ấy, nếm bắt khí hậu của nó, thời tiết của nóm sắc màu của nó…”
Tôi nhắm mắt, cảm thấy sự hiện diện của cô bé mới huyền diệu biết bao đến đọ làm chóng mặt.
Cô bé ấy… là bà của chúng tôi. Phải, đúng là bà, người đàn bà mà chiều nay chúng tôi thấy ngồi xổm lặng lẽ thu nhặt các mảnh đá rải rác trên thảm. Sửng sốt và ngượng ngùng, chị em tôi đứng dậy, lưng dựa vào tường, chẳng dám thốt một lời xin lỗi hoặc giúp bà nhặt nhạnh các mẩu bùa phép vương vải. Chúng tôi đoán trong đôi mắt sập xuống kia đang rơm rớm lệ…
Cái buổi chiều chơi trò phá phách bất kính ấy, chúng tôi thấy đối diện chúng tôi không phải bà tiên hiền lành thuở nào, thường kể chuyện Con yêu Râu xanh hoặc Người đẹp ngủ trong rừng gì đó mà là một người phụ nữ dễ bị thương tổn và mẫn cảm mặc dù đầy nghị lực. Với bà, đó là cái giây phút đau khô khi một người lớn đột nhiên tự phát lộ, phô bày chỗ yếu của mình, cảm thấy như ông vua trần truồng trước con mắt chăm chú đứa trẻ. Lúc bấy giờ con người ấy giống như kẻ làm xiếc trên giây vừa bước hụt, và trong mấy giây loạng choạng, cưỡng lại được là chi do ánh mắt dõi nhìn hồi hộp của chính khán giả…
Bà khép lại cái “túi Cầu Mời”, cất vào buồng, rồi gọi chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Sau một lát im lặng, bà bắt đầu nói, giọng đều đều trầm tĩnh, bằng tiếng Pháp, vừa chuyện trò vừa rót trả cho chúng tôi thói quen.
- Trong số các viên đá các cháu vứt, có một viên bà rất mong tìm lại được…
Và vẫn cứ cái giọng bình tĩnh ấy, vẫn bằng tiếng Pháp, trong các bữa ăn chúng tôi thường hay chuyện trò bằng tiếng Nga (vì có bạn bè hoặc láng giềng thường đến bất ngờ), bà kể cho chúng tôi nghe cuộc diễu binh của Đại Đoàn và câu chuyện viên đá nâu tên “Verdun”. Chúng tôi chỉ hiểu lờ mờ ý nghĩa câu chuyện chính cái giọng kể mê hoặc chúng tôi. Bà ngoại nói với chúng tôi như nói với người lớn! Chúng tôi chỉ còn hình dung thấy một viên sĩ quan đẹp để râu mép tách khỏi hàng diễu binh mừng chiến thắng, tiếng tới trước một người phụ nữ chẹt giữa cái đám đông nhiệt hứng và tặng cô tan một mảnh kim loại nâu…
Sau bữa cơm tối, tôi mang đèn pin ra xăm xoi từng ly từng tý cái bồn thược dược trước nhà nhưng vô hiệu, chẳng thấy mẩu “Verdun”. Sáng hôm sau tôi tìm thấy nó trên vỉa hè một mẩu sắt giữa mấy mẩu thuốc lá, mảnh chai, vệt cắt. Đuôi mắt tôi, nó như bứt ra khỏi cái mớ kề cận tầm thường kia, tựa hồ một thiên thạch đến từ một thiên hà xa lạ suýt nữa lẫn vào với những viên cuội lối đi…
Như thế đấy, chúng tôi đoán ra những giọt nước mắt thầm bà ngoại và lính cảm thấy sự tồn tại trong tim bà hình bóng anh chàng si tình xa xưa người Pháp đã đến với bà trước ông ngoại Fiodor. Phải, một sĩ quan đỏm dáng thuộc Đại Đoàn, một người đã đặt vào tay Charlotte mảnh sắt nhám “Verdun”. Sự phát hiện này khiến chúng tôi bối rối. Chúng tôi cảm thấy gắn bó với bà ngoại bởi một bí mật mà không một ai khác trong gia đình được biết. Phía sau bảng ghi ngày tháng, phía sau những mẩu chuyện truyền thuyết gia đình, giờ đây chúng tôi nghe ri tuôn âm ỉ sự sống trong tất cả vẻ đẹp bi thương của nó.
Buổi chiều, chúng tôi đến tìm bà ở chỗ ban công bé cạnh buồng. Trồng đầy hoa, chiếc ban công này như treo lơ lửng giữa đám sương mù nóng nực thảo nguyên. Một mặt trời rừng rực màu đồng sà xuống chân trời, dần dà chốc lát, rồi lặn nhanh chóng. Mấy ngôi sao đầu tiên run rẩy trong bầu trời. Mùi hương cây cỏ nồng nàn thấm thía hay lên tận chúng tôi theo với gió chiều hây hây.
Mọi người im lặng. Bà chúng tôi tranh thủ trời còn sáng, mang chiếc sơ mi nữ trải trên đầu gối. Rồi khi cảnh vật đã thấm đượm bóng tối mênh mang, bà ngửng đầu ngừng công việc, luồn mắt đắm trong xa xôi cánh đồng mù sương. Không dám phá ngang im lặng của bà, chốc chốc chúng tôi đưa mắt lên nhìn: bà sắp kể với chúng mình một điều tâm sự mới, thầm kín hơn chăng hoặc giả, cứ như không xảy ra chuyện gì, bà cầm cây đèn có chao màu ngọc lam ra, đọc vài trang truyện Daudet hoặc Jules Verne như bà thường làm các đem hè dài đặc? Không hề thú nhận với mình, chúng tôi rình đợi lời nói đầu tiên của bà, giọng điệu của bà. Trong trạng thái chờ đợi giống kiểu chăm chú của khán giả đối với người làm xiếc leo dây xen lẫn một sự tò mò ít nhiều khe khắt và một niềm bứt rứt mơ hồ. Chị em tôi có cảm giác giăng bẫy bà, bà thì đang đơn độc đối mặt với chúng tôi.
Trong lúc ấy bà dường như thậm chí chẳng quan tâm đến sự hiện diện căng thẳng của chị em tôi. Tay bà vẫn đặt bất động trên đầu gối, ánh mắt hòa tan vào bầu trời trong suốt. Một thoáng cười mỉm rạng trên môi…
Dần dà chúng tôi cũng buông chìm vào cái im lặng ấy. Cúi người trên bao lơn, chúng tôi giương to mắt cố nhìn được càng nhiều khoảng trời càng tốt. Chiếc ban công khẽ chòng chành, hẫng đi dưới bàn chân, bắt đầu bay lượn. Chân trời dịch gần lại cứ như thể chúng tôi lao tới nó xuyên qua làn hơi đêm.
Ngay phía trên đường chân trời chúng tôi nhận ra cái ánh lấp lánh nhợt nhạt tưởng chừng như những vẩy sóng lăn tăn trên mặt một cong sông. Không tin ở mắt mình, chúng tôi dò tìm bóng tối đang dâng đầy trên chiếc ban công bay. Đúng thế, một khoảng nước đen thẫm lung linh nơi tận cùng thảo nguyên đang dâng lên, tỏa cái mát lạnh chen vị chát của mưa rào. Cái khoảng nước ấy dường như sáng dần lên một thứ ánh sáng mờ đục mùa đông.
Bây giờ chúng tôi thấy mọc lên từ cái mặt biển kỳ ảo ấy những khối đen tòa nhà, những chóp tháp nhà thờ, những cọc đèn đương một thành phố! To lớn, hài hòa cân đối mặc dù nước ngập mọi đường phố, một thành phố ma xuất hiện trước mắt chúng tôi…
Đột nhiên chúng tôi nhận ra là ai đó nói chuyện với chúng tôi đã được một lúc rồi! Chính bà ngoại đang nói!
- Hồi ấy bà cũng trạc tuổi các cháu bây giờ. Ấy là vào mùa đông năm 1910. Sông Seine đã biến thành một cái biển thực sự. Dân Paris đi lại bằng thuyền. Đường phố giống như những dòng sông, các quảng trường biến thành hồ. Và điều làm bà ngạc nhiên nhất, là sự lặng im…
Trên ban công, chúng tôi nghe sự lặng im thiu thiu ngưng trệ của Paris ngập lụt. Vài tiếng sóng lóc bóc khi thuyền đi qua, một giọng nói âm vang đầu đường phố chìm trong nước.
Nước Pháp của bà chúng tôi, tựa hồ một Atlantide[4] mù sương đang xuất hiện trên mặt sông.
❀ ❀ ❀
[1] Phát âm Pơ – ti – pom.Nghĩa: quả táo nhỏ. Tất cả các chú thích trong sách đều của người dịch
[2] Thật ra là những địa danh trên đất Pháp
[3] Tên một quận của Pháp, nơi đã xảy ra những trận huyết chiến giữa quân Pháp - Đức trong Đại chiến thứ nhất, được mệnh danh là địa ngục “Verdun” (đọc là Vécđoong)
[4] Atlantide: Hòn đảo lớn hoang đường cỡ lục địa, theo huyền thoại có cách đây 9.000 năm, bị chìm xuống đáy biểndo thiên tai