Gia Tộc Wolfings

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
— Những Chốn Ngụ Cư Ở Trung Vùng

❊ ❊ ❊

Truyện kể rằng vào những thời xa xưa ấy, có một chốn ngụ cư của con người nằm bên cạnh một khu rừng lớn. Phía trước nơi đó là một vùng đồng bằng không lấy gì làm rộng lớn, nhưng lại tựa như một hòn đảo nổi giữa biển rừng mênh mông. Bởi lẽ ngay cả khi đứng trên mặt đất phẳng lì ấy, người ta vẫn nhìn thấy cây cối ở khắp mọi ngả chân trời, dẫu rằng đồi núi thì hầu như chẳng có lấy một ngọn; mà chỉ có những ụ đất nhô lên đây đó, giống như những làn nước cuồn cuộn đôi khi xuất hiện giữa dòng xoáy của một con sông sâu và chảy xiết.

Ở cả hai phía, bên trái lẫn bên phải, vành đai rừng vươn dài tới tận chân trời xanh thẳm, rậm rạp, khít khao và liền một dải, ngoại trừ nơi mà nó cùng vùng đồng bằng nó bao bọc bị chia cắt ở chính giữa bởi một con sông rộng cỡ khoảng sông Thames tại Sheene khi thủy triều dâng cao nhất. Thế nhưng dòng sông ấy lại chảy xiết và cuồn cuộn xoáy nước đến mức hé lộ sự hiện diện của những dãy núi dẫu bị che khuất nhưng không cách xa là bao. Hơn thế nữa, dọc theo đôi bờ dòng sông ấy là một dải đất rộng lớn ngổn ngang đá lớn đá nhỏ, và hầu hết ở những nơi trên bãi đá hoang vu này đều có những bờ đất cao chừng vài thước, đánh dấu vết tích nơi dòng nước lụt mùa đông hằng năm thường tràn đến rồi rút đi.

Phải biết rằng khoảng quang đãng lớn giữa chốn rừng già này không phải là chuyện tình cờ ngẫu nhiên, dẫu cho con sông đã tự đào một lối đi để dòng nước xiết của nó cuốn chảy qua hai bên bờ. Chính con người đã tạo ra Hòn Đảo giữa chốn rừng thâm u ấy.

Trải qua nhiều thế hệ, dòng giống ngụ cư nơi đây đã học được nghề đúc sắt, nhờ đó họ không hề thiếu thốn các vật dụng bằng sắt và thép, dù là công cụ thủ công hay vũ khí để săn bắn và chiến tranh. Chính những con người của Bộ Tộc ấy, khi xuôi dòng theo mé sông, đã tạo ra khoảng quang đãng đó. Truyện không kể họ từ đâu đến, nhưng có lẽ từ những thung lũng của những dãy núi xa xôi, từ những thung lũng, núi non và đồng bằng còn xa thẳm hơn nữa.

Dẫu sao thì họ cũng xuôi dòng sông mà đến; trên mặt nước thì bằng bè, ven bờ thì bằng xe kéo, hoặc cưỡi ngựa, cưỡi bò, hay đi bộ, cho đến khi họ muốn dừng chân. Tại đó, tùy theo cơ duyên, họ ngưng cuộc hành trình, tỏa ra từ hai bên bờ sông, chiến đấu với rừng già và muông thú hoang dã để tự kiến thiết cho mình một chốn dung thân trên mặt đất này.

Thế là họ chặt phá cây cối, đốt những gốc cây đi để thảm cỏ mọc lên xanh tốt cho đàn bò, cừu và ngựa của họ; họ đắp bờ ngăn sông ở những nơi cần thiết khắp vùng đồng bằng và vươn sâu vào tận chốn rừng hoang để kìm chân những trận lụt mùa đông. Họ làm thuyền để qua sông, để xuôi dòng và chèo ngược nước; họ cũng dùng lưới và câu để đánh bắt cá ngủi trong các xoáy nước của sông; họ vớt những khúc gỗ trôi từ muôn nơi và những vật dụng khác từ dòng nước; họ đãi sỏi ở những khúc sông cạn để tìm vàng. Và dòng sông trở thành người bạn của họ, họ yêu mến nó, đặt cho nó một cái tên, gọi nó là Dusky, là Glassy, và là Mirkwood-water; bởi vì tên gọi của nó thay đổi theo các thế hệ con người.

Rồi ở đó, trong khoảng quang đãng của khu rừng mà năm này qua năm khác ngày càng rộng thêm ra, họ lùa súc vật ra đồng cỏ trên những thảo nguyên mới khai phá. Nơi đây, năm qua năm, thảm cỏ ngày càng mượt mà hơn dưới ánh mặt trời chiếu rọi và nước đọng đã rút đi. Đến thời điểm mà câu chuyện này nhắc tới, nơi đây đã trở thành một vùng đồng bằng tươi đẹp, rạng rỡ, và chẳng có bộ tộc nào sở hữu được bãi chăn thả tốt hơn thế.

Nhưng từ lâu trước đó, họ đã học được nghề làm ruộng, biết chăm sóc những mảnh đất canh tác và bắt đầu trồng lúa mì, lúa mạch đen quanh những mái nhà của mình. Chiếc cuốc đã nằm trong tay họ, họ nghĩ ra lưỡi cày, rồi nghề nông lan rộng và phát triển, và bánh mì không hề thiếu thốn.

Cứ như thế, Bộ Tộc ấy đã tạo ra một hòn đảo giữa lòng Mirkwood, thiết lập một mái ấm ở đó, và gìn giữ nó bằng muôn vàn nhọc nhằn kể sao cho xiết. Và ngay từ buổi đầu, họ gọi khoảng rừng quang đãng này là Mid-mark. Bởi bạn phải biết rằng người ta có thể ngược xuôi theo dòng Mirkwood-water, và chỉ cần chừng nửa ngày đường ngựa chạy ngược lên hoặc xuôi xuống là sẽ gặp một khoảng quang đãng hay hòn đảo khác trong rừng. Đó là Upper-mark và Nether-mark; và cả ba nơi này đều do những con người cùng một giống nòi, một họ hàng cư ngụ. Họ được gọi là những người Mark-men, dẫu cho cái gốc gác ấy gồm nhiều nhánh rẽ, mang những dấu hiệu khác nhau trong chiến trận và tại hội đồng để người ta có thể nhận ra.

Giờ đây, ngay tại Mid-mark có rất nhiều Nhà của người dân; bởi từ nhiều thế hệ nay, họ dùng từ đó để chỉ những ai cùng chung sống dưới một biểu tượng huyết thống. Con sông chảy từ Nam ra Bắc, và cả ở bờ Đông lẫn bờ Tây đều có những ngôi Nhà của Bộ Tộc. Chỗ ở của họ áp sát vào mép rừng, sao cho khoảng không gian giữa họ và con sông luôn là những khoảnh đất canh tác và đồng cỏ.

Truyện kể về một Ngôi Nhà như thế, có chốn ngụ cư nằm ở bờ tây dòng nước, trên một sườn đất thoải để không một trận lụt nào cao hơn bình thường có thể với tới được. Mặt đất đổ dốc thẳng xuống sông là chủ yếu, và trên những sườn dốc thoai thoải hướng xuống ấy chính là đất canh tác — “Những Thửa Ruộng,” theo cách gọi của những con người thời bấy giờ đối với đất đai được cày cấy. Xa hơn thế nữa là đồng cỏ trải dài phẳng phượt và êm đềm, dẫu đây đó có những gò đất nổi lên, kéo dài cho đến tận mép dải đá hoang vu của dòng sông mùa lũ.

Tên của Ngôi Nhà này là người Wolfings, họ mang hình con Sói trên các lá cờ của mình, và các chiến binh của họ được xăm hình con Sói lên ngực để thiên hạ nhận ra họ là ai nếu họ ngã xuống trong trận chiến và bị lột y phục.

Ngôi nhà — tức là Mái Nhà — của người Wolfings ở Mid-mark tọa lạc trên đỉnh của sườn dốc nói trên, với phần lưng tựa vào rừng hoang và mặt hướng ra những thửa ruộng cùng dòng nước. Nhưng bạn phải biết rằng vào những ngày ấy, những con người cùng một nhánh huyết thống chung sống dưới một mái nhà, có vị trí và phẩm giá của riêng mình tại đó. Giữa họ không có nhiều bậc phân định sang hèn như đã xảy ra về sau, mà tất cả những kẻ cùng chung dòng máu đều là anh em và có phẩm giá ngang bằng. Dẫu vậy, họ vẫn có đầy tớ hoặc nô lệ, là những kẻ bị bắt trong chiến trận, những kẻ ngoại tộc. Dù sự thật là thỉnh thoảng vẫn có một vài người trong số những kẻ ấy được thu nhận vào Nhà và được tôn làm anh em cùng dòng máu.

Lại nữa (để chấm dứt ngay những vấn đề về họ hàng và thông gia này), đàn ông của một Nhà không được phép kết hôn với phụ nữ cùng Nhà đó. Đối với những nam nhân người Wolfings, tất cả phụ nữ người Wolfings đều tựa như chị em. Họ buộc phải kết hôn với người Hartings, người Elkings, người Bearings, hoặc những Ngôi Nhà khác thuộc vùng Mark không có quan hệ huyết thống quá gần gũi với dòng máu loài Sói. Đó là thứ luật lệ mà không ai dám mơ tưởng đến chuyện phá vỡ. Cứ thế, Bộ Tộc ấy sinh sống và phong tục của họ là như vậy.

Về phần Mái Nhà của người Wolfings, đó là một đại sảnh lớn lao và tốt đẹp, theo lối sống của bộ tộc họ và thời đại của họ; không được xây bằng đá và vôi, mà được dựng từ những thân cây đẹp đẽ nhất của rừng hoang, đẽo vuông bằng rìu búa, và khoảng trống giữa các khung gỗ được trám bằng đất sét bện sậy. Ngôi nhà ấy rất dài, và ở một đầu gần đầu hồi có Cửa-của-Đàn-ông, vốn không quá cao để một người có thể đứng thẳng trên ngưỡng cửa mà chóp mũ giáp không chạm tới lanh tô. Bởi đó là tập tục: một người cao lớn phải cúi mình khi bước vào đại sảnh. Tập tục ấy có lẽ là ký ức từ những ngày tháng giao tranh khi quân thù thường hay vây hãm đại sảnh. Trái lại, vào những thời đại mà câu chuyện nhắc tới, họ kéo ra cánh đồng và chiến đấu ở nơi không có tường rào bao bọc; trừ những lúc thế lực địch quá chênh lệch, khi ấy họ quây những cỗ xe lại quanh mình và được bảo vệ bởi thành lũy xe ngựa. Dù sao đi nữa, cánh cửa được làm thấp như thế hoàn toàn không phải vì keo kiệt, điều đó có thể thấy qua những đường chạm trổ tinh xảo và muôn hình vạn trạng các nút thắt cùng rồng uốn lượn được tạc phía trên lanh tô cửa trong khoảng chừng ba thước Anh. Nhưng một cánh cửa tương tự cũng nằm ở gần đầu hồi bên kia, là nơi phụ nữ bước vào, và nó được gọi là Cửa-của-Đàn-bà.

Gần ngôi nhà, ở mọi phía ngoại trừ hướng về phía rừng, có rất nhiều chòi canh và lều nhỏ vây quanh các chuồng gia súc và chuồng bò. Đây là những gian hàng để cất trữ hàng hóa, để làm thủ công và rèn đúc những thứ không tiện thực hiện trong nhà. Đồng thời, chúng cũng là chốn ngụ cư của đám nô lệ. Bọn trẻ và các thanh niên thường lui tới đó nhiều ngày và được cưng chiều bởi những kẻ nô lệ yêu quý chúng, bởi thỉnh thoảng chúng lánh xa Đại Sảnh để được tự do đi lại theo ý muốn và tha hồ tung hoành. Cứ thế, sự quần tụ hình thành trên các sườn dốc và thung lũng nằm giữa những thửa ruộng của người Wolfings và khu rừng hoang dã nơi bầy sói trú ngụ.

Về cấu trúc bên trong ngôi nhà, hai hàng cột chạy dài suốt chiều dài của nó, được tạo tác từ những thân cây hùng vĩ nhất có thể tìm thấy. Mỗi cột đều được chạm trổ tinh tế với phần bệ và đầu cột, cùng những vòng hoa, nút thắt, những chiến binh đang giao tranh và loài rồng; khiến nơi đây trông giống như một ngôi nhà thờ thời hậu thế có gian giữa và các lối đi dọc hai bên. Phía trên các lối đi dọc có những ô cửa sổ, và một lối đi nằm ngay bên dưới các cửa sổ ấy trên phần mái của chúng. Ở các lối đi dọc là chỗ ngủ của dân làng, còn dọc theo gian giữa bên dưới vòm mái là ba lò sưởi để đốt lửa. Phía trên mỗi lò sưởi có một ống khói hoặc chụp khói để hút khói lên khi lửa được nhóm lên. Thật vậy, vào một buổi chiều mùa đông quang đảng, thật kỳ lạ khi nhìn ba cột khói bốc lên uốn lượn vào không gian mập mờ của mái nhà vĩ đại, và có lẽ một trong số chúng bị cắt ngang bởi những tia nắng mặt trời. Còn về phần gỗ của chính mái nhà và bộ khung của nó, thì nó vĩ đại và cao đến mức truyện kể rằng chẳng ai có thể nhìn rõ hình thù của nó từ sàn đại sảnh trừ khi người đó giơ cao một bó củi đang cháy trên một cây sào dài; bởi người dân vùng Mark chẳng bao giờ thiếu thốn gỗ lạt.

Ở cuối đại sảnh gần Cửa-của-Đàn-ông là bục cao danh dự, trên đó đặt một chiếc bàn nằm ngang theo chiều rộng của đại sảnh. Phía trước bục cao ấy là lò sưởi lớn nhất và vinh hiển nhất (nhưng trong số các lò sưởi khác thì có một cái nằm ở chính giữa, và một cái khác ở Phòng-của-Đàn-bà). Xung quanh bục cao, dọc theo bức tường đầu hồi, và treo từ cột này sang cột khác là những tấm vải dệt có thêu hình ảnh về những câu chuyện cổ tích, những chiến tích của người Wolfings, và chiến công của các vị Thần từ đó họ sinh ra. Và đây là nơi đẹp đẽ nhất trong toàn bộ ngôi nhà, là nơi được dân làng yêu quý nhất, đặc biệt là những người lớn tuổi và quyền uy nhất. Nơi đây thường diễn ra những buổi kể chuyện, ngâm thơ, nhất là những khúc ca mới sáng tác. Đồng thời, đây cũng là nơi đón tiếp các sứ giả nếu có tin tức từ phương xa đưa tới. Các bô lão cũng thường tụ họp tại đây để bàn bạc về các vấn đề liên quan đến Ngôi Nhà, Mid-mark, hay toàn thể Bộ Tộc người Mark-men.

Tuy nhiên, chớ nên nghĩ rằng những hội đồng trang nghiêm của họ được tổ chức ở đó — những buổi họp toàn dân nơi người ta phải quyết định việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Bởi vì tùy theo việc những hội đồng ấy (mà họ gọi là Thing) là của Ngôi Nhà, của Mid-mark, hay của toàn Bộ Tộc, chúng sẽ được tổ chức tại các địa điểm hội họp Thing-steads thích hợp trong Rừng, tách biệt khỏi cả ruộng nương lẫn đồng cỏ (như tập tục của tổ tiên chúng ta kéo dài tận về sau). Tại những buổi họp Thing như thế, toàn thể nam nhân của Ngôi Nhà, của Mid-mark, hay của Bộ Tộc sẽ tề tựu đông đủ từng người một. Và ở mỗi địa điểm họp đó đều có một Vòng Xử Án — Doomring, nơi các phán quyết được đưa ra bởi những người láng giềng được tuyển chọn (mà ngày nay chúng ta gọi là Bồi thẩm đoàn) trong các tranh chấp giữa người với người. Không có phán quyết nào như thế của xóm giềng được đưa ra, và không có tiếng nói nào như thế của Bộ Tộc được tuyên bố trong bất kỳ ngôi nhà hay dưới bất kỳ mái tranh nào, thậm chí cũng chẳng bao giờ — như đã nói — trên những thửa ruộng cày hay đồng cỏ chăn thả. Đó là tập tục của tổ tiên chúng ta, có lẽ để tưởng nhớ về những ngày tháng khi mà chưa có nhà cửa, chưa có ruộng nương, chưa có đàn gia súc, mà chỉ có bề mặt Trái Đất cùng những gì mọc lên tự do trên đó.

Thế nhưng, phía trên bục cao, được treo bằng những sợi xích và ròng rọc buộc vào một thanh giằng của mái nhà tít trên cao là một ngọn đèn kỳ diệu làm bằng thủy tinh. Đó không phải là loại thủy tinh mà người dân thời bấy giờ tự tay làm ra, mà là một thứ màu xanh trong trẻo và đẹp đẽ như ngọc lục bảo, được chạm trổ tỉ mỉ với những hình thù, nút thắt bằng vàng, những con thú kỳ lạ, một chiến binh đang tiêu diệt con rồng, và mặt trời đang mọc trên mặt đất. Chẳng có câu chuyện nào kể ngọn đèn này xuất phát từ đâu, nhưng nó được tất cả người Mark-men coi là một vật thiêng liêng cổ xưa. Dòng họ người Sói được giao trọng trách duy trì ngọn lửa cháy trong đó suốt ngày đêm không dứt, và họ cử một trinh nữ thuộc dòng tộc mình đảm nhận nhiệm vụ ấy. Thiếu nữ đó bắt buộc phải chưa chồng, bởi không một phụ nữ đã có chồng nào sống dưới mái nhà ấy có thể là một người phụ nữ thuộc tộc Sói, mà chắc chắn phải xuất thân từ những ngôi Nhà nơi người Wolfings kết hôn.

Ngọn đèn cháy không nguôi này được gọi là Nhật-Sảnh — Hall-Sun, và người phụ nữ chịu trách nhiệm coi sóc nó, vốn là người đẹp nhất có thể tìm thấy, cũng được gọi theo tên ngọn đèn là Nhật-Sảnh.

Ở đầu kia của đại sảnh là Phòng-của-Đàn-bà, nơi đặt những khung cửi và các dụng cụ khác dùng để chải, kéo sợi len và dệt vải.

Đó chính là Mái Nhà nơi dòng dõi người Wolfings sinh sống; và các dòng tộc khác của Mid-mark cũng có những mái nhà tương tự. Trong số đó, những tộc lớn nhất là người Elkings, người Vallings, người Alftings, người Beamings, người Galtings và người Bearings; những người mang trên cờ hiệu của họ hình con Nai sừng tấm, Chim ưng, Thiên nga, Cây cỗi, Heo rừng và Gấu. Dù vậy, vẫn có những dòng tộc nhỏ hơn và mới hơn ngoài các tộc này. Còn về người Hartings đã nhắc đến ở trên, đó là một dòng tộc thuộc vùng Upper-mark.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.