Buổi chiều, nắng không quá gay gắt, đảo Băng Hỏa nằm ở vĩ độ cao nên nhiệt độ không cao, lúc này rất thích hợp để dạo bộ trên đảo.
Sự phục hồi kinh tế của đảo Cáo Biệt dù chưa gây ảnh hưởng lớn ở những nơi khác, nhưng đối với đảo Băng Hỏa và thị trấn Kapila thì tác động lại vô cùng to lớn.
Pari đã nghiên cứu kỹ lưỡng sự chuyển mình của thị trấn Cáo Biệt và hiểu rõ vai trò của Tần Thời Âu trong đó. Những khoản đầu tư liên tục mà anh đổ vào ngư trường chính là phương thức hữu hiệu để củng cố niềm tin cho người dân trong thị trấn.
Có thể người dân thị trấn không nhận được lợi nhuận trực tiếp từ ngư trường Đại Tần, nhưng ngư trường này đã trở thành lá chắn dũng khí cho họ. Có người sẵn sàng đầu tư quy mô lớn vào ngư trường, chứng tỏ các ngư trường xung quanh vẫn đầy tiềm năng và giá trị, vì vậy họ không cần thiết phải từ bỏ hòn đảo này.
Hơn nữa, điều đáng quý hơn là Tần Thời Âu đã đứng ra dẫn dắt các đoàn du lịch từ trong nước tới, góp phần giúp quảng bá thành công tuyến du lịch này.
Tất nhiên, Pari không hề biết đây là nhờ công của Mao Vĩ Long. Thực ra, cậu ấm nhà nhị đẳng đầu Cẩm Y Vệ thủ đô đã tận dụng các mối quan hệ xã hội để tìm các đoàn du lịch này cho thị trấn. Tất nhiên, Tần Thời Âu cũng đã lập được nhiều công lao.
Tóm lại, anh xem Tần Thời Âu như cọng cỏ cứu mạng của thị trấn.
"Thực ra, bạn hiền à, mười năm trước hòn đảo này đã bắt đầu xuống dốc rồi. Lúc đó từng có người đề nghị phân tán ngư dân đi nơi khác, chính phủ sẽ chi tiền giúp họ thuê xe chuyển nhà đi." Pari vừa đi vừa nói, "Nhưng chỉ cần còn hy vọng, ai lại muốn rời xa quê hương của mình chứ, cậu bảo đúng không?"
Tần Thời Âu đứng trên một ngọn đồi nhỏ nhìn về phía thị trấn. Ánh nắng rực rỡ, trời quang mây tạnh, phóng tầm mắt ra xa, gần như toàn bộ hòn đảo đều thu vào tầm mắt.
Những ngôi nhà nhỏ màu trắng nằm rải rác trên mặt đất, cây cối xanh tươi mọc um tùm, thỉnh thoảng lại có vài con chó Labrador hay Newfoundland lười biếng đi dạo trên phố. Mọi thứ hiện lên vẻ thoải mái và thư thái.
Nhưng đó chỉ là dành cho du khách, còn cuộc sống của người dân thị trấn lại nghèo nàn xơ xác. Cái giá phải trả để sinh tồn trên hòn đảo này quá lớn.
Cái giá này đã được bộc lộ ngay trong tối hôm đó. Khi Tần Thời Âu thu dọn đồ đạc thì phát hiện nước súc miệng đã hết, liền hỏi Pari xem trong thị trấn chỗ nào bán.
Pari cười khổ bảo anh rằng, siêu thị trong thị trấn chỉ cung cấp các loại nhu yếu phẩm đơn giản như củi, gạo, dầu, muối. Còn mấy thứ như nước súc miệng, cần phải thuê tàu vượt eo biển sang thành phố bên kia mới mua được.
"Có thể cậu không tin, nhưng đôi khi chúng tôi muốn ăn bánh mì nóng mới ra lò hay pizza, đều phải đi phà sang bên kia. Hàng tuần muốn bổ sung rau củ, thịt bò, trứng gà cũng phải đi sang bờ bên kia. Thế nên nhà nào nhà nấy đều có chiếc tủ đông lớn như vậy. Mỗi lần đi một chuyến là có thể yên ổn sống ở nhà một thời gian dài."
Khi Pari nói những lời này, biểu cảm vô cùng đắng chát.
Các chủ ngư trường khác cũng gặp phải vấn đề tương tự. Họ đã quen với việc đến một nơi nào đó rồi mua sắm bổ sung đồ đạc, nhưng những thứ họ cần thì thị trấn hoàn toàn không cung cấp nổi.
Cuối cùng, ngay cả người chịu thương chịu khó như Andrew cũng không nhịn được mà cằn nhằn: "Tôi chỉ muốn mua bao thuốc lá, này anh bạn, đến cái này cũng không có ư? Chúa ơi, người ở đây không hút thuốc à? Các anh đúng là thiên thần."
"Chúng tôi tự trồng lá thuốc đấy, cậu có muốn thử không?" Một lão ngư dân ngoài bảy mươi tuổi cười, vẫy vẫy chiếc tẩu thuốc trong tay.
Andrew nhìn đầy bất lực. May mà thị trấn có phà và tàu cá, họ có thể đi tàu sang đảo chính Newfoundland để mua đồ.
Còn về chiếc du thuyền chở họ đến ư? Xin lỗi, sau khi đến đảo Băng Hỏa, Matthew nói cần bảo dưỡng, trong vòng ba ngày sẽ không khởi hành.
Tất nhiên du thuyền không hề bảo dưỡng, các chủ ngư trường đều hiểu ý của Matthew. Ngài Bộ trưởng muốn họ cảm nhận thử cuộc sống của cư dân trong một ngư trường đang tàn lụi.
Nếu nói ấn tượng mà làng chài Hoàng Hậu để lại cho các chủ ngư trường trước đó là sự bất lực, thì đảo Băng Hỏa lại để lại cho họ sự tuyệt vọng.
Thị trấn Kapila vô cùng tàn tạ, không có chút sức sống nào. Họ đi dạo trong thị trấn, gặp toàn là trẻ con nửa mùa hoặc người già trên sáu mươi tuổi. Pari nói độ tuổi trung bình của cư dân ở đây là 62, quả thực không phải lời nói suông.
"Nếu đã vậy, tại sao không dọn đi? Thị trấn này đã không còn giá trị sản xuất nữa rồi." Donald cảm thấy bùi ngùi.
Kính lão đắc thọ, Charke có độ tuổi xấp xỉ với cư dân trong thị trấn nên càng thấu hiểu suy nghĩ của những người già.
Suốt dọc đường luôn thích đối đầu với các chủ ngư trường truyền thống, ông thở dài nói: "Cậu không nhìn ra sao, rất nhiều người già ở lại đây đều đã dành trọn cả cuộc đời ở nơi này, họ mới là cư dân đích thực của hòn đảo."
Thị trấn có lẽ mới chỉ thành lập khoảng bốn, năm mươi năm, nhưng trước đó vốn đã có làng chài tồn tại ở đây, những người này đời đời kiếp kiếp đều sống trong làng chài đó.
Pari bất lực nói với Tần Thời Âu: "Nếu không có cách nào giúp thị trấn cải tử hoàn sinh, thì có lẽ chỉ một thời gian nữa nơi này sẽ hoàn toàn hoang phế."
Tần Thời Âu hỏi tại sao, Pari giải thích rằng chính quyền tỉnh Newfoundland và Labrador vẫn luôn vận động họ di dời. Nếu người dân trên đảo Vịnh Nhỏ sẵn lòng chuyển đến nơi khác, chính quyền tỉnh có thể cấp tiền bồi thường.
Chính quyền tích cực như vậy không chỉ vì cân nhắc cho cư dân trên đảo, mà còn vì để duy trì sự vận hành của thị trấn, chính phủ đã phải lập một trạm phát điện diesel, một bệnh viện nhỏ và một ngôi trường trên đảo. Mỗi năm để duy trì sự vận hành của những cơ sở này, chính phủ phải tốn hàng triệu đô la Canada.
Nếu thị trấn dời khỏi đảo, chính phủ có thể cắt đứt tất cả các dịch vụ cung cấp cho hòn đảo, từ đó tiết kiệm chi phí.
Người hơi lý trí một chút đều biết vận mệnh của thị trấn đã đến hồi kết, nhưng họ không thể rời đi. Giống như Charke đã nói, đối với những người đã hơn 60 tuổi, cậu bảo họ chuyển đi đâu được nữa?
Chính phủ Canada có một điểm rất tốt, đó là không cưỡng chế phá dỡ. Thị trấn đã có cư dân chọn bám trụ, theo quy định của Hiến pháp, chỉ cần trên mười hộ gia đình là có thể nộp đơn xây dựng thôn, trên năm mươi hộ là có thể xây dựng thị trấn. Khi đạt đến cấp bậc thị trấn, chính phủ phải cung cấp cơ sở hạ tầng để phục vụ.
Thị trấn Kapila số dân không nhiều, chỉ hơn hai trăm người. Nhưng nhiều hộ gia đình chỉ còn lại một người già, bạn đời của họ hoặc đã qua đời hoặc đã theo người thân rời khỏi nơi này. Dù vậy, thị trấn vẫn còn hơn một trăm hộ, theo quy định của Hiến pháp, vẫn có thể duy trì biên chế thị trấn.
Sở dĩ có quy định kỳ lạ như vậy là vì Canada trước kia quá rộng lớn mà thưa thớt dân cư, để thu hút nhập cư, chính phủ buộc phải cung cấp đủ loại điều kiện thuận lợi. Nếu không, một khi người dân trong nước chảy ra ngoài, quốc gia này có thể sụp đổ.
Để khuyên người dân thị trấn rời đi, một năm trước chính quyền tỉnh đã nâng mức bồi thường di dời. Tiền bồi thường di dời tối thiểu là 300.000 đô la Canada mỗi hộ. Nếu một nhà có hai người, thì tăng lên 300.000 đô la, nếu một nhà có ba người thì có thể nhận được 350.000 đô la tiền bồi thường di dời.
Đối với những người già trong thị trấn, số tiền này là một khoản kếch xù. Họ đều đã già, giờ không kiếm được bao nhiêu tiền, trước đây làm ngư dân cũng không tích lũy được nhiều.
Cho nên đối với họ, nhận được một khoản tiền di dời rồi rời khỏi hòn đảo cũng không tệ, cứ coi như là tiền dưỡng già. Nếu không thì ở lại đây, họ còn lấy gì để dưỡng già nữa?
Dưới sự kích thích của khoản tiền khổng lồ này, số lượng người dân muốn di dời tự nhiên tăng lên. Thế nhưng vẫn có những người không muốn rời khỏi hòn đảo này, con người càng già càng cố chấp.
Điều khiến những người dân muốn dọn đi cảm thấy uất ức là tiền bồi thường chính phủ đưa ra là dành cho toàn bộ thị trấn, phải dời đi toàn bộ mới đưa tiền. Còn nếu tự mình đi thì chính phủ chỉ chi trả phí chuyển nhà mà thôi.
Đây chính là điểm khiến Pari khó xử. Những người muốn dọn đi để lấy tiền thì trách anh làm việc chậm chạp, không có quyết đoán. Những người không muốn đi thì nói anh lạnh lùng vô tình, không nghĩ tới tình làng nghĩa xóm. Giờ đây, anh chính là người kẹt ở giữa khó xử nhất.