Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
– I –
Nếu Du Khách Nào Ở Mạn Trung Bắc Massachusetts Mà Rẽ Nhầm Đường Tại Ngã Ba Của Đại Lộ Aylesbury, Đoạn Ngay Quá Dean's Corners, Họ Sẽ Đặt Chân Đến Một Miền Quê Hoang Vắng Và Lạ Lùng.

❊ ❊ ❊

Nên đất dâng lên cao hơn, những bức tường đá bị thạch nam phủ quanh càng lúc càng ép sát vào rãnh mòn của con đường bụi bặm và quanh co. Mép rừng thường xuyên xuất hiện, và cây cối trong đấy cứ trông như thể to quá khổ, các chủng cỏ dại cùng bụi gai mang vẻ um tùm vốn ít khi thấy tại các khu vực có người sinh sống. Đồng thời, các cánh đồng được cày cấy cực kì hiếm thấy xuất hiện, và lại còn cằn cỗi đến lạ; trong khi những ngôi nhà phân tán rất thưa mang diện mạo cũ kĩ, dơ dáy, và lụp xụp đồng bộ đến đáng ngạc nhiên.

Chẳng rõ vì sao, ta sẽ ngần ngại không muốn hỏi đường những con người xương xẩu, đơn độc, thi thoảng vẫn dõi mắt nhìn ra từ trên những bậc cửa ọp ẹp hay đồng cỏ dốc, ngổn ngang đá. Những người đó im lìm và trông lấm la lấm lét đến mức ta không khỏi cảm thấy như thể mình đang giáp mặt với điều cấm kị nào đó, tốt nhất không nên dây dưa vào.

Ở những chỗ con đường dâng lên, khiến cho các ngọn núi phía trên khu rừng sâu lọt vào trong tầm mắt, cái cảm giác bất an kì lạ lại tăng thêm. Các đỉnh núi quá tròn và đối xứng, không gợi được cảm giác thoải mái và tự nhiên. Đôi khi hằn in hết sức rõ nét trên nền trời là các vòng tròn kì lạ cấu thành từ những cột đá cao, xuất hiện trên hầu hết các đỉnh núi.

Giao với con đường là bao hẻm cùng khe núi với độ sâu khó vượt, và cây cầu gỗ thô sơ nào trông cũng đều rất đáng ngờ về độ an toàn. Khi con đường lại dốc xuống, những vùng đầm lầy mênh mang trải ra trước mắt, làm ta bất giác thấy không ưa ngay tức thì, và thậm chí còn gần như hãi sợ lúc đêm buông, khi những con chim đớp muỗi chẳng ai thấy bóng ríu rít kháo chuyện nhau và lũ đom đóm túa ra với số lượng nhiều bất thường để nhảy theo cái giai điệu khàn khàn, dai dẳng đến sởn gai ốc của đám ễnh ương cứ nheo nhéo cất giọng. Đường nét mảnh mai, loang loáng của vùng thượng lưu sông Miskatonic trông giống mãng xà đến lạ khi nó uốn mình chảy gần chân những quả đồi hình vòm vây xung quanh.

Khi những ngọn đồi đến gần hơn, ta sẽ để ý đến các bên sườn đầy cây rừng nhiều hơn là phần đỉnh có đá dựng. Những bên sườn đó lù lù xuất hiện đầy tăm tối và cheo leo, đến nỗi ai cũng chỉ muốn tránh thật xa, nhưng không có tuyến đường nào cho phép ta trốn được khỏi chúng.

Ở đầu bên kia cây cầu có mái che, ta có thể thấy một ngôi làng nhỏ nằm giữa dòng suối và sườn dốc thẳng đứng của núi Round, lấy làm lạ trước cụm mái nhà hai mảng mục nát, cho thấy kiến trúc nơi đây bắt nguồn từ một thời kì xưa hơn khu vực lân cận. Thật chẳng mấy vững dạ khi nếu quan sát kĩ hơn, ta sẽ thấy hầu hết các ngôi nhà đều đã bị bỏ không và hoang phế, nhà thờ với tháp chuông đổ nát giờ đây là chốn ngự của một cửa hàng lôi thôi và cũng là duy nhất trong ấp.

Chẳng ai dám tin tưởng cái đường hầm tù mù của cây cầu, ấy nhưng không có cách nào để tránh nó hết. Một khi đã đi qua cầu, ta sẽ khó mà không ngửi thấy một mùi ô uế đầy tởm lợm phảng phất quanh đường làng, như thế mùi hương nấm mốc và mục ruỗng dồn tụ lại suốt bao thế kỉ. Ai cũng nhẹ cả người khi được rời khỏi nơi này, men theo con đường hẹp quanh chân các ngọn đồi và băng qua vùng đồng quê bằng phẳng đằng sau nó cho tới khi về lại đại lộ Aylesbury. Sau đó, ta đôi khi được biết rằng mình vừa mới đi qua Dunwich.

Người ngoài hạn chế ghé thăm Dunwich hết mức có thế, và sau cái lần một chuyện khủng khiếp nào đó xảy ra, tất cả các biển hiệu chỉ hướng về nơi này đều đã bị gỡ xuống. Nếu nhìn nhận dưới bất cứ tiêu chuẩn thẩm mĩ thông thường nào, phong cảnh nơi đây đẹp đến khác lạ; nhưng giới hoạ sĩ hoặc du khách dịp hè lại không ồ ạt đổ về đây.

Hai thế kỉ trước, khi các câu chuyện về máu phù thuỷ, thờ phụng quỷ Satan, và những sự hiện diện kì lạ trong rừng hãy còn không bị cười nhạo, thiên hạ có tục nêu ra lí do để tránh khu ấy. Trong thời đại có nhận thức khôn ngoan của chúng ta bởi vì vụ việc kinh hoàng tại Dunwich hồi năm 1928 đã được những người muốn tốt cho thị trấn cũng như thế giới ém nhẹm đi – ai nấy đều xa lánh nơi này mà chẳng biết chính xác tại sao.

Có lẽ một lí do tiềm tàng – mặc dù chẳng thể gán lí do ấy cho những người lạ không hay biết gì hết – là đám dân bản địa hiện suy đồi đến phát tởm, đã tiến quá xa trên con đường phát triển thụt lùi vẫn hay thấy ở nhiều vùng quê tù túng tại New England. Họ đã tự mình hình thành một chủng tộc riêng, với những đặc điểm hết sức rõ rệt của sự thoái hoá và sinh sản cận huyết, cả về thể chất lẫn tinh thần.

Mức độ thông minh trung bình của họ thấp thảm hại, trong khi lịch sử của họ đầy rẫy những câu chuyện dã man không chút úp mở cùng các vụ giết người, loạn luân, những hành động bạo tàn và suy đồi gần như không thể nêu danh chỉ được che đậy nửa vời. Giới tiểu quý tộc cổ, đại diện cho hai hoặc ba gia đình thân sĩ đã từ Salem đến đây hồi năm 1692, phần nào đỡ điêu tàn hơn đám quần chúng; mặc dù nhiều gia đình nhánh đã suy thoái, lún sâu vào trong đám dân bần tiện đến nỗi họ chỉ còn mỗi cái tên để cho thấy mình sa ngã từ đâu. Một số thành viên gia tộc Whateley và Bishop vẫn gửi con trai lớn của họ đến Harvard và Miskatonic, mặc dù những người con trai đó hiếm khi quay trở lại sống dưới những mái nhà hai mảng đổ nát, nơi họ và tổ tiên của họ được sinh ra.

Không ai, kể cả những người biết sự thật về câu chuyện kinh hoàng vừa xảy ra gần đây, có thể xác định được cụ thể vấn đề của Dunwich; dẫu cho các truyền thuyết xưa có nhắc đến những nghi lễ và các buổi mật nghị báng bổ thánh thần của đám thổ dân da đỏ, nơi chúng triệu hồi những dạng hình hắc ám đấy cấm kị từ trong những quả đồi tròn khổng lồ, và thực hiện những lời cầu nguyện trác táng đầy hoang dại, với lời đáp được nhận lại là những tiếng nứt răng rắc và ầm ầm ồn ã vọng lên từ bên dưới lòng đất.

Vào năm 1747, Đức Cha Abijah Hoadley, linh mục mới đến nhà thờ Công giáo tại làng Dunwich, đã có một bài giảng đáng nhớ về sự hiện diện cận kề của Satan và lũ quỷ của hắn:

“Cần phải công nhận một điều là ai ai cũng đã biết về những hành động báng bổ của lũ quái vật đến từ ngục giới, không thể phủ nhận được gì nữa. Giọng lưỡi bị nguyền rủa của Azazel(1) và Buzrael(2), của Beelzebub(3) và Belial(4) từ dưới mặt đất được hàng chục nhân chứng đáng tin cậy trên dương thế nghe thấy, họ nay vẫn còn sống.

Cách đây không quá hai tuần, bản thân ta cũng đã nghe được rất rõ ràng một cuộc chuyện trò giữa những thế lực xấu xa ở ngọn đồi phía sau nhà mình. Hàng loạt những tiếng rầm rầm và lăn lộn, rên rỉ, nghiến ken két, và rít xì xì, các thanh âm mà không tạo vật nào trên cõi đời này có thể phát ra, và chúng hẳn phải bắt nguồn từ những hang động mà chỉ ma thuật hắc ám mới có thể khám phá ra, và chỉ ác quỷ mới có thể mở khoá.”

(1) Một Thiên thần sa ngã, kẻ đã cho con người biết các kiến thức cấm kị.

(2) Một thuật ngữ do H. P. Lovecraft tự sáng tạo ra để chỉ quỷ.

(3) Trong các tài liệu thần học, chủ yếu là Cơ Đốc giáo, Beelzebub đôi khi là một tên gọi khác của quỷ, tương tự như Satan. Beelzebub được biết đến trong quỷ học là một trong bảy hoàng tử của Địa ngục.

(4) Thuật ngữ chỉ ác quỷ trong các tài liệu Do Thái và Cơ Đốc giáo.

Cha Hoadley biến mất ngay sau khi đưa ra bài giảng này; nhưng vì được in ở Springfield, nội dung bài giảng vẫn còn tồn tại. Hết năm này sang năm khác, người ta luôn báo lại rằng những tiếng ồn vẫn cứ tiếp tục xuất hiện trên các ngọn đồi, và chúng vẫn là một bài toán hóc búa đối với các nhà địa chất và địa văn học.

Một số truyền thuyết khác thuật lại rằng có mùi hôi thối bốc ra gần các vòng tròn đá trên đỉnh đồi, và có thể loáng thoáng nghe thấy tiếng những thực thể hư vô lướt vù vù qua vào một số giờ nhất định, văng vẳng vọng đến từ các điểm đã định ở dưới đáy các khe núi lớn. Trong khi vài truyền thuyết khác cố gắng lí giải Devil's Hop Yard – một sườn đồi hoang vắng, tàn rụi, nơi không cây cối, bụi rậm, hay cọng cỏ nào mọc lên được.

Bên cạnh đó, dân bản địa cũng sợ chết khiếp đám chim đớp muỗi với số lượng đông vô kể, cất giọng rất ồn ã trong những đêm ấm áp. Người ta thề rằng lũ chim ấy là những kẻ hộ tống của âm thế, nằm chờ chực linh hồn của những người sắp chết, và chúng căn tiếng hót kì lạ của mình với hơi thở nặng nhọc của người hấp hối. Nếu có thể bắt được linh hồn thoát li trong lúc nó rời khỏi cơ thể, chim đớp muỗi sẽ lập tức bay đi, ríu rít cười cợt đầy ác hiểm; nhưng nếu thất bại, chúng sẽ dần dần chìm vào sự im lặng đầy thất vọng.

Tất nhiên, những câu chuyện này nay đã lỗi thời và lố bịch; bởi chúng được truyền lại từ thời rất xa xưa. Dunwich thực sự cổ xưa ngoài sức tưởng tượng – cổ hơn bất kì cộng đồng nào trong phạm vi gần năm mươi cây số quanh nó. Ở phía Nam ngôi làng, ta vẫn có thể quan sát được các bức tường hầm và ống khói của nhà gia tộc Bishop cổ, xây dựng trước năm 1700. Gần chỗ thác nước, những tàn tích của mấy nhà máy được xây dựng vào năm 1806 là công trình kiến trúc hiện đại nhất mà ta có thể nhìn thấy.

Công nghiệp không phát triển mạnh ở đây, và phong trào phát triển nhà máy xí nghiệp giai đoạn thế kỉ mười chín cũng chỉ sớm nở chóng tàn. Lâu đời nhất trong số đó là các vòng tròn lớn cấu thành từ những cột đá thô nhám trên đỉnh đồi, nhưng chúng thường được cho là do thổ dân da đỏ dựng lên chứ không phải dân đến định cư.

Những chỗ chôn hộp sọ và xương xẩu được tìm thấy trong các vòng tròn này cũng như xung quanh các tảng đá lớn giống như bàn thờ trên đồi Sentinel càng giúp củng cố điều thiên hạ thường vẫn nghĩ, rằng những chốn đó từng là nghĩa trang của bộ lạc Pocomtuc(1); mặc dù nhiều nhà dân tộc học vẫn dứt khoát tin rằng chúng là hài cốt của người da trắng, bất chấp việc giả thuyết ấy cực kì khó xảy ra.

(1) Một bộ lạc thổ dân da đỏ lớn từng sống ở các khu vực phía tây của Massachusetts ngày nay.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.