Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- X -

❊ ❊ ❊

CUỐI CÙNG, BA NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẾN TỪ ARKHAM – Tiến sĩ Armitage già cả, râu bạc phơ, Giáo sư Rice vạm vỡ, tóc tai hoa râm như thép, và Tiến sĩ Morgan gầy gò, tương đối trẻ tuổi – phải một mình leo lên núi. Sau một hồi kiên nhẫn hướng dẫn cách căn chỉnh lăng kính và sử dụng ống nhòm, họ giao nó cho nhóm người khiếp đảm ở lại trên đường giữ; và trong quá trình leo, họ được nhóm ấy theo dõi sát sao bằng cách chuyền tay nhau ống nhòm.

Đường leo rất khó khăn, và Armitage phải hơn một lần cần được giúp đỡ. Tít bên trên nhóm người đang cực nhọc leo, vệt đất khổng lồ rung rinh khi cái thứ đáng kinh tởm từng tạo ra nó lại một lần nữa băng qua đấy, di chuyển lề mề như ốc sên. Sau đó thì có thể thấy rõ là những người đuổi theo đang dần rút ngắn khoảng cách.

Curtis Whateley – thuộc bên nhánh chưa thoái hoá của gia tộc – là người giữ ống nhòm lúc nhóm Arkham đi chệch hẳn khỏi vệt đất. Anh ta nói với cả đám rằng mấy người bọn họ có vẻ đang tìm một đỉnh thấp hơn, nhìn ra chỗ vệt đất tại một điểm nằm trước chỗ cây bụi đang oằn xuống, cách nó khá xa. Quả đúng là như vậy; và họ thấy nhóm người kia leo được lên đến cái gò nhỏ đấy ngay sau khi tạo vật báng bổ tàng hình kia vừa đi qua chỗ đó.

Thế rồi Wesley Corey, người lúc bấy giờ đã cầm lấy ống nhòm, thốt lên rằng Armitage đang điều chỉnh cái máy phun mà Rice cầm, và hẳn sắp sửa có điều gì đấy xảy ra. Đám đông rục rịch đầy bồn chồn, nhớ lại rằng theo dự kiến, thiết bị phun thuốc này sẽ khiến cho cái nỗi kinh hoàng vô hình kia lộ diện trong thoáng chốc. Hai, ba người gì đó nhắm tịt mắt vào, nhưng Curtis Whateley thì giật lại ống nhòm và căng hết mắt lên nhìn. Anh ta thấy rằng từ vị trí thuận lợi nơi cả nhóm đang đứng, nằm bên trên và đằng sau cái thứ kia, Rice nắm trong tay cơ hội tuyệt vời để phân tán một cách hết sức hiệu quả thứ bột mạnh của họ.

Những người không có ống nhòm chỉ nhìn thấy một đám mây xám – với kích thước tương đương một toà nhà tương đối lớn – thoáng xuất hiện gần đỉnh núi. Curtis, người cầm ống nhòm, hét lên lanh lảnh và thả rơi ống nhòm xuống lớp bùn sâu ngang mắt cá chân trên đường. Anh ta lảo đảo, và đáng lẽ đã ngã sụp xuống đất nếu không được hai, ba người khác túm lấy và giữ cho đứng yên. Tất cả những gì anh ta có thể làm là rên rỉ rất khó nghe,

“Ôi, ôi, lạy Chúa... cái thứ đó... cái thứ đó...”

Tất cả nháo nhào lên hỏi, và chỉ mình Henry Wheeler nghĩ đến việc nhặt cái ống nhòm bị đánh rơi lên và lau sạch bùn đi. Curtis chẳng còn nói năng được mạch lạc nữa, và anh ta thậm chí còn gần như không tài nào đưa ra nổi các câu trả lời riêng lẻ.

“To hơn một cái chuồng... toàn bằng dây thừng oằn oại... nhìn tổng thể hao hao giống trứng gà, to chưa từng thấy, hàng chục chân như những cái thùng phuy khép hờ lại mỗi khi bước đi... chẳng có gì rắn chắc cả – tổng thể hệt như thạch, cấu thành từ hàng đống dây thừng ngoe nguẩy riêng rẽ, áp sát vào với nhau... mắt lớn tướng, lồi ra, phủ khắp người... mười hay hai mươi cái miệng hoặc vòi gì đấy thò ra dọc khắp hai bên, to như ống khói lò, tất cả đều vung vẩy và mở ra khép vào... tất cả đều xám xịt, với các vòng mang màu xanh hoặc tím gì đó... và trời đất ơi cái bản mặt phân nửa trên đỉnh ấy...”

Kí ức cuối cùng này, bất kể nó có là gì, cũng khiến cho Curtis tội nghiệp không còn có thể chịu đựng nổi nữa; và anh ta lăn ra ngất xỉu hoàn toàn trước khi kịp nói gì thêm. Fred Farr và Will Hutchins khiêng anh ta vào lề đường và đặt anh ta nằm xuống bãi cỏ ẩm ướt. Henry Wheeler run rẩy quay chiếc ống nhòm đã nhặt lên về phía ngọn núi để xem xét.

Ba hình hài tí hon có thể được thấy rõ qua các lăng kính, xem chừng đang chạy về phía đỉnh với vận tốc nhanh hết mức có thể trên cái sườn đồi dốc. Chỉ ba người đấy thôi – không có gì hơn. Thế rồi tất cả bọn họ để ý thấy một âm thanh trái mùa khác thường, vọng lại từ trong thung lũng sâu thẳm phía đằng sau, và thậm chí là từ trong những bụi rậm của cả đồi Sentinel nữa. Đó chính là cái tiếng ríu rít của vô số những con chim đớp muỗi, và dường như lẩn khuất trong bản hợp xướng chói tai của chúng là một thanh âm ngóng đợi đầy căng thẳng và xấu xa.

Giờ thì đến lượt Earl Sawyer lấy chiếc ống nhòm và thông báo rằng ba nhân vật kia bấy giờ đang đứng trên chỏm đồi cao nhất, gần như ngang bằng với bàn thờ đá, có điều ở cách nó một khoảng đáng kể. Anh ta nói có vẻ một người đang giơ hai tay lên trên đầu theo từng quãng rất nhịp nhàng; và trong lúc Sawyer mô tả lại tình huống, đám bọn họ dường như nghe thấy một âm thanh khẽ khàng, hơi giống điệu nhạc văng vẳng vọng đến từ xa, như thể một bài kinh đang được tụng để đi kèm với những động tác kia.

Hình bóng kì lạ trên đỉnh đồi xa xôi đó hẳn trông phải cực kì dị hợm và ấn tượng, nhưng không người quan sát nào có tâm trạng để đánh giá khía cạnh thẩm mĩ của nó. “Tui đoán ổng đang đọc thần chú,” Wheeler thì thầm lúc giật lại chiếc ống nhòm. Đám chim đớp muỗi hót như hoá rồ, và với một nhịp điệu thất thường đến lạ, khác hẳn cái nghi thức họ đang nhìn thấy.

Đột nhiên ánh nắng dường như yếu đi, mặc dù không thấy có bất kì đám mây nào kéo đến che. Đây là một hiện tượng rất kì dị, và tất cả đều có thể dễ dàng nhận thấy. Một tiếng ì ầm dường như phát ra từ bên dưới những ngọn đồi, pha trộn đến lạ vào với một tiếng ầm ầm hoà khớp, rõ ràng từ trên trời vọng xuống.

Những tia sét loé lên trên cao, và đám người sửng sốt nhìn ngó xung quanh xem có thấy dấu hiệu gì là trời sắp bão không, nhưng chỉ vô ích. Tiếng tụng niệm của những người đến từ Arkham giờ đã không thể lẫn đi đâu được, và qua ống nhòm, Wheeler nhìn thấy tất cả bọn họ đều đang giơ tay niệm chú rất nhịp nhàng. Tiếng chó sủa điên cuồng vọng đến từ một số trang trại ở phía đằng xa.

Ánh sáng ban ngày càng bị biến chất tợn, và đám đông ngơ ngẩn nhìn về phía đường chân trời. Một bóng tối tim tím, sinh ra từ chính cái sắc xanh bị làm thẫm lại đầy ma mị của nền trời, đổ dồn xuống những ngọn đồi ì ầm. Rồi sét lại loé lên, phần nào sáng hơn so với lúc trước, và đám đông có cảm tưởng nó đã soi tỏ một màn sương mù mịt nào đấy bao quanh bàn thờ đá trên đồi cao.

Tuy nhiên, vào khoảnh khắc ấy, không có ai sử dụng chiếc ống nhòm cả. Đám chim đớp muỗi tiếp tục bài ca rộn ràng bất thường của chúng, và nhóm dân làng Dunwich căng thẳng gồng mình chuẩn bị tinh thần đón nhận một mối hiểm hoạ vô định nào đó, bấy giờ như đang tràn ngập trong bầu không khí.

Bất thình lình, những tiếng giọng trầm, đùng đoàng, lào khào vang lên. Các thanh âm đó sẽ luôn hằn in trong kí ức của đoàn người thất kinh từng nghe thấy. Chúng không bắt nguồn từ bất kì cổ họng con người nào, vì các cơ quan của loài người vô phương tạo ra những âm hưởng biến thái như vậy. Người ta đáng lẽ đã khẳng định rằng chúng đến từ chính cái hố, chỉ có điều nguồn gốc của chúng lại rõ ràng là hòn đá bàn thờ trên đỉnh.

Gọi chúng là âm thanh cũng gần như là sai lầm, bởi vì các âm sắc ghê rợn, siêu trầm của chúng chủ yếu tác động đến những vùng ý thức hãi sợ mập mờ, tinh vi gấp bội đôi tai; ấy nhưng ta buộc phải tả chúng như vậy, vì hình thái của chúng quả thật là những câu chữ được phát âm trệu trạo, mặc dù nghe rất mơ hồ. Chúng rất to – to như tiếng ì ầm và tiếng sấm sét làm nên cho mình – ấy nhưng chúng lại chẳng đến từ một sinh linh hữu hình nào hết. Và bởi vì trí tưởng tượng có thể khơi gợi ra một thứ nguồn nằm trong thế giới của những sinh vật vô hình, đám đông đang túm tụm ở dưới chân núi lại càng rúc sát vào với nhau hơn, đồng thời nhăn mặt như thể đón đợi một đòn đánh giáng xuống.

Ygnaiih... ygnaiih... thflthkh'ngha... Yog-Sothoth...” Tiếng lào khào gớm guốc từ thinh không rền vang cất lên. “Y'bthnk... hehye – n'grkdl'lh...

Đến đây, cái xung động giọng kia có vẻ ngập ngừng, cứ như thể đang có một cuộc tranh đấu tâm linh đáng sợ diễn ra. Henry Wheeler căng mắt nhìn qua chiếc ống nhòm, nhưng chỉ thấy ba hình người hằn in đầy quái đản trên đỉnh đồi, tất cả đều đang liên tục đưa tay thực hiện những cử chỉ kì lạ trong khi câu thần chú của họ dần lên đến đỉnh điểm.

Những giếng hãi sợ hay xúc cảm đầy hắc ám nào, những vực thẳm ý thức vô đáy nằm ngoài biên giới vũ trụ nào, hay dòng dõi bí ẩn, tồn tại ngấm ngầm lâu đời nào đã sản sinh ra những thanh âm sấm sét ú ớ kia vậy? Chẳng bao lâu sau, chúng lại bắt đầu mạnh mẽ cũng như mạch lạc hơn, càng lúc càng hung hăng đến trần trụi, tột cùng, cực điểm.

Eh-ya-ya-ya-yahaah - eyayayayaaaa... nghaaaaa... nghaaaa... hyuh... hyuh... CỨU! CỨU!... ff - ff - ff - CHA! CHA ƠI! YOG-SOTHOTH!...”

Nhưng chỉ có vậy thôi. Nhóm người tái nhợt trên con đường, bấy giờ vẫn còn đang choáng váng trước những âm tiết rõ ràng là tiếng Anh vừa trút xuống ào ào như sấm rền từ khoảng không điên cuồng bên cạnh hòn đá bàn thờ khủng khiếp, sẽ không bao giờ còn được nghe lại những âm tiết đó nữa. Thay vào đó, họ giật nảy mình trước một âm thanh kinh khủng đến độ như xé tan cả các ngọn đồi.

Không người nghe nào có thể xác định được cái tiếng inh tai, kinh thiên động địa ấy đến từ đâu, từ trong lòng đất hay trên bầu trời. Một tia sét lẻ loi phóng từ thiên đỉnh tím xuống hòn đá bàn thờ, và từ trên ngọn đồi, một làn sóng lực tàng hình cùng mùi hôi thối không bút nào tả xiết khổng lồ tràn xuống khắp toàn bộ vùng quê.

Cây, cỏ, và bụi rậm bị quất điên cuồng; và đám đông hoảng sợ ở dưới chân núi, bấy giờ đã nhược cả người bởi cái mùi hôi thối đầy chết chóc như sắp khiến mình chết ngạt đến nơi, suýt nữa thì bị thổi bay đi. Lũ chó tru lên phía đằng xa, cỏ cây xanh rì héo úa thành một sắc vàng xám bệnh hoạn, lạ thường, và trên khắp các cánh đồng và khu rừng, xác chim đớp muỗi nằm rải rác.

Mùi xú uế nhanh chóng biến mất, nhưng thảm thực vật không bao giờ trở về bình thường được nữa. Cho đến tận ngày hôm nay, cây cỏ mọc trên và xung quanh ngọn đồi đáng sợ ấy cứ mang một nét gì đó kì quái và xấu xa. Curtis Whateley chỉ vừa mới bắt đầu hồi tỉnh khi nhóm người từ Arkham chậm rãi leo xuống núi giữa những ánh dương bấy giờ đã lại một lần nữa rực rỡ và thanh khiết.

Họ đầy vẻ nghiêm trang và lặng lẽ, dường như đã bị một phen rúng động cả tâm can trước các kí ức và suy tư thậm chí còn khủng khiếp hơn những gì từng khiến đám dân bản địa run rẩy đến rúm ró cả lại. Trước hàng bao câu hỏi được nháo nhào đưa ra, họ chỉ lắc đầu và tái khẳng định đúng một thông tin chủ chốt.

“Cái thứ đó đã biến mất mãi mãi,” Armitage nói. “Nó đã bị xẻ tan thành những thứ vốn từng cấu thành nó, và không bao giờ có thể tồn tại được nữa. Nó là một thực thể bất khả thi trong một thế giới bình thường. Chỉ có phần cực nhỏ của nó mới thực sự là vật chất theo bất kì ý nghĩa nào mà chúng ta từng biết đến.

Nó cũng giống như cha mình – và hầu hết thân thể của nó đã quay trở lại với hắn trong một cõi hoặc chiều không gian mơ hồ nào đó bên ngoài vũ trụ vật chất của chúng ta; một vực thẳm mơ hồ, và chỉ những nghi thức đáng nguyền rủa nhất của con người mới có thể triệu hồi được nó ra khỏi đấy, làm cho nó thoáng xuất hiện trên những ngọn đồi.”

Một khoảnh khắc im lặng bao trùm, và trong khoảng lặng đó, lí trí bị tan lạc của Curtis Whateley tội nghiệp bắt đầu hàn gắn lại với nhau, trở nên phần nào thống nhất; và anh ta đưa hai tay lên ôm đầu rên rỉ. Kí ức dường như đã ùa về, tiếp nối đoạn ban nãy bị ngắt ngang, và nỗi kinh hoàng của cảnh tượng từng đánh quy anh ta lại ập xuống đầu anh ta.

“Ô, ôi lạy Chúa, cái bản mặt chỉ có phân nửa – cái bản mặt chỉ có phân nửa trên đỉnh của nó... khuôn mặt với đôi mắt đỏ và mái tóc bạch tạng bù xù, không cằm, chẳng khác nào nhà Whateley... Nó giống như bạch tuộc, rết, nhện gì đó, nhưng mang khuôn mặt phân nửa là của con người trên cùng, trông giống như mặt của Phù thuỷ Whateley, chỉ có điều nó rộng hàng mét..."

Anh ta dừng lại vì kiệt sức, trong lúc toàn bộ đám dân bản địa tròn mắt nhìn với một vẻ hoang mang hãy còn chưa kết tinh lại thành nỗi khiếp đảm mới. Chỉ có mình lão Zebulon Whateley già, người vơ vẩn nhớ những chuyện xưa cũ nhưng tính đến nay chưa hở lời nào, là cất tiếng nói.

“Mười lăm năm trước” lão ê a nói, “tui nghe lão Whateley bảo rồi sẽ có ngày chúng ta nghe thấy một đứa con của Lavinny gọi tên cha nó trên đỉnh đồi Sentinel..."

Nhưng Joe Osborn ngắt lời lão để tiếp tục hỏi han nhóm người từ Arkham.

“Tóm lại nó là cái gì thế, và làm thế quái nào mà thằng oắt Phù thuỷ Whateley triệu tập được nó từ thinh không vậy?”

Armitage lựa chọn lời lẽ một cách rất cẩn thận.

“Nó là... chà, nó chủ yếu là một kiểu thế lực không thuộc về chiều không gian của chúng ta; một kiểu thế lực hành động, phát triển và định hình bản thân dựa trên các định luật khác với những quy luật tự nhiên của chúng ta. Chúng ta không được phép triệu những thứ đến từ ngoài thế giới của mình như vậy đến đây, và chỉ những phường cực kì tà tâm cũng như những giáo phái cực kì độc ác mới tìm cách làm điều đó.

Trong chính bản thân Wilbur Whateley cũng chứa đựng đôi chút cái thứ ấy đủ để biến nó thành một con quỷ và một thần đồng quái thai, và khiến cái chết của nó trông hết sức khủng khiếp. Tôi sẽ đốt cuốn nhật kí đáng nguyền rủa của nó, và nếu biết khôn thì mấy anh hãy liệu mà dùng thuốc nổ phá huỷ hòn đá bàn thờ trên đấy đi, kéo sập tất cả các vòng đá còn đang dựng trên những ngọn đồi khác nữa. Chính những thứ như thế đã đưa các tạo vật mà gia đình Whateley từng mến mộ đến đây – các tạo vật họ định sẽ cho vào dưới dạng hữu hình để xoá sổ loài người và kéo Trái Đất đến một chốn vô danh vì một mục đích bí hiểm nào đó.

“Nhưng về cái thứ chúng tôi vừa mới tống tiễn trở lại kia – gia đình Whateley nuôi nó nhằm cho nó đóng một vai trò khủng khiếp trong những mưu đồ sau này. Nguyên nhân nó phát triển nhanh và lớn đến nhường ấy cũng tương tự lí do Wilbur phát triển nhanh và lớn đến vậy nhưng nó lớn nhanh hơn đứa kia bởi vì nó mang trong mình nhiều máu ngoại giới hơn. Anh không cần phải hỏi làm thế nào mà Wilbur triệu tập được nó từ thinh không đâu. Wilbur không triệu tập nó. Đó là anh em sinh đôi của Wilbur, nhưng nó trông giống cha mình hơn đứa kia.”

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.