Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
– Ii –

❊ ❊ ❊

MƯỜI GIỜ KÉM SÁNG HÔM SAU, TÔI ĐỨNG VỚI CHIẾC vali nhỏ trước hiệu thuốc Hammond ở quảng trường trung tâm cổ, đợi chiếc xe buýt của Innsmouth. Khi giờ cập bến đến gần, tôi để ý thấy một đám vô công rồi nghề thơ thẩn dời sang nơi khác ở mạn trên phố, hoặc đến quán Ideal Lunch phía bên kia quảng trường. Rõ ràng là nhân viên bán vé đã không hề phóng đại sự chán ghét của người dân địa phương với Innsmouth và những công dân của nó.

Chỉ chốc sau, một chiếc xe khách nhỏ hư nát vô cùng, mang màu xám bẩn thỉu lạch cạch lăn bánh dọc phố State, rẽ sang bên, và đỗ lại lề đường cạnh tôi. Tôi ngay lập tức cảm thấy rằng đây chính là cái xe mình chờ; và phỏng đoán ấy đã được tấm bảng hiệu gần như vô phương đọc nổi trên kính chắn gió xác minh: Arkham - Innsmouth – Newb'port.

Chỉ có ba hành khách – mấy gã da đen, luộm thuộm với mặt mày sưng sỉa và diện mạo có phần trẻ trung – khi chiếc xe dừng lại, họ lóng ngóng bước ra và bắt đầu đi dọc phố State với vẻ lầm lì, gần như lấm lét. Tài xế cũng xuống xe, và tôi nhìn hắn bước vào trong cửa hàng thuốc để mua gì đó. Tôi thầm nghĩ rằng đây hẳn phải là cái tay Joe Sargent mà anh nhân viên bán vé đã nhắc đến; và khi thậm chí còn chưa nhìn ra bất kì đặc điểm cụ thể nào, tôi đã đột ngột bị một làn sóng ác cảm bao trùm lên mình, không thể kiềm chế hay lí giải. Tôi chợt cảm thấy việc người dân địa phương không muốn đi chiếc xe buýt do tay này sở hữu và điều khiển, hoặc hạn chế đến thăm nơi hắn cũng như đồng đẳng của hắn sống hết mức có thể, là một điều rất tự nhiên.

Khi người lái xe ra khỏi cửa hàng, tôi quan sát hắn cẩn thận hơn và cố gắng xác định ngọn nguồn cái ấn tượng tà ác của mình. Hắn là một người đàn ông gầy gò, vai gù, với chiều cao không dưới một mét tám, mặc quần áo thường dân màu xanh tồi tàn và đội chiếc mũ đánh golf sờn rách. Tuổi của hắn có lẽ là ba mươi lăm, nhưng những nếp nhăn kì lạ, sâu thẳm ở hai bên cổ khiến hắn trông già hơn nếu ta không nhìn vào khuôn mặt lù đù, vô cảm của hắn.

Hắn có một cái đầu hẹp, đôi mắt lồi, ướt át màu xanh nhìn như thể không bao giờ chớp, mũi tẹt, trán và cằm ngắn ngủn, và cặp tai thui chột lạ thường. Đôi môi dài và dày, má xám ngoét, đây những lỗ chân lông thô của hắn trông gần như không có chút râu ria nào ngoại trừ vài sợi lông màu vàng thưa thớt, mọc lộn xộn và quăn queo theo những mảng không đồng đều; và có mấy chỗ bề mặt xem chừng không được láng mịn, như thể bị một chứng bệnh da liễu nào đấy làm cho bong tróc.

Đôi bàn tay hắn to và có rất nhiều gân, mang một sắc xanh xám rất khác thường. Các ngón tay ngắn đáng kinh ngạc so với phần còn lại của cơ thể, và dường như có xu hướng cuộn chặt vào trong lòng bàn tay khổng lồ. Khi hắn đi về phía chiếc xe, tôi quan sát cái dáng đi lóng ngóng khác thường của hắn và thấy rằng đôi chân hắn to lớn khủng khiếp. Càng nhìn ngắm chúng lâu, tôi càng không hiểu làm thế nào mà hắn có thể mua được giày vừa chân.

Hắn có phần nhớp nháp, khiến cho tôi lại càng cảm thấy khó ưa tợn. Hắn rõ ràng hay làm việc hoặc lang thang quanh các cảng đánh bắt cá, và mang theo mình phần nhiều cái mùi đặc trưng của nơi ấy. Tôi thậm chí còn không thể đoán nổi hắn mang dòng máu ngoại lai nào trong huyết quản. Sự kì quặc của hắn chắc chắn trông không giống dân châu Á, Polynesia, Cận Đông, hay dân da đen, ấy nhưng tôi có thể hiểu tại sao mọi người lại thấy hắn quái lạ. Bản thân tôi thì sẽ nghĩ đây là do thoái hoá sinh học chứ không phải là lai máu lạ.

Tôi lấy làm tiếc nuối khi thấy sẽ không có hành khách nào khác trên chiếc xe. Chẳng hiểu sao, tôi không thích ý tưởng đi xe một mình với gã tài xế này. Nhưng bởi vì rõ ràng là đã gần đến lúc rời đi, tôi chế ngự mọi nỗi day dứt của mình và đi theo tên kia lên xe, chìa cho hắn một tờ đô la và lẩm bẩm đúng một từ “Innsmouth”. Hắn nhìn tôi với một ánh mắt khác thường trong giây lát trong khi trả lại bốn mươi xu mà chẳng nói chẳng rằng. Tôi ngồi phía đăng sau hắn, nhưng ở cùng một bên ghế, bởi vì tôi muốn nhìn ngắm bờ biển trong lúc thực hiện chuyến hành trình.

Một lúc sau, chiếc xe ọp ẹp khởi động với một cú giật, và ồn ã chạy qua những toà nhà gạch cũ của phố State giữa một đám mây hơi bốc ra từ ống xả. Lạ lùng thay, khi liếc nhìn những người trên vỉa hè, tôi có cảm tưởng hình như họ muốn tránh nhìn vào chiếc xe buýt – hay ít nhất là muốn tránh bị trông như thể đang nhìn vào nó.

Thế rồi chúng tôi rẽ sang trái vào phố High, nơi đường đi bằng phẳng hơn; băng qua các biệt thự cổ kính của nước cộng hoà thuở còn sơ khai và những trang trại thuộc địa thậm chí còn lâu đời hơn, đi qua khu Lower Green và sông Parker, rồi cuối cùng là vào trong một dải đất ven biển trống trải dài, đơn điệu. Tiết trời bấy giờ ấm áp và có nắng, nhưng chúng tôi càng đi xa, khung cảnh toàn cát, cỏ cói, và cây bụi còi cọc ngày càng trở nên hoang vu hơn. Bên ngoài cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy làn nước trong xanh và đường bờ biển đây cát của đảo Plum, và chẳng bao lâu sau chúng tôi đã rẽ ra rất gần bãi biển, lúc con đường hẹp của chúng tôi tách ra khỏi từ đường cao tốc chính rồi dẫn vào Rowley và Ipswich.

Không thấy bóng dáng nhà cửa nào hết, và căn cứ vào tình trạng của con đường, tôi có thể xác định được rằng quanh đây rất ít người qua lại. Các cột điện thoại nhỏ bị nắng mưa tàn phá chỉ có hai đường dây kết nối. Thỉnh thoảng chúng tôi lại băng qua những cây cầu gỗ thô sơ bắc ngang những con lạch thuỷ triều dẫn sâu vào trong đất liền, càng khiến cho khu vực này thêm phần biệt lập.

Thỉnh thoảng tôi để ý thấy những gốc cây chết và các bức tường móng đổ nát trên lớp cát trôi ngang, và nhớ đến cái tích xưa, được trích dẫn trong một cuốn sách lịch sử mình từng đọc, rằng nơi đây từng là một vùng quê màu mỡ và đông người sinh sống. Theo lời đồn thì sự thay đổi xuất hiện cùng lúc với đại dịch Innsmouth năm 1846, và đám dân đầu óc giản đơn cho rằng nó có mối liên hệ đen tối với những thế lực xấu xa bí ẩn. Trên thực tế, nguyên nhân là do rừng gần bờ bị chặt phá bừa bãi, khiến đất đã mất đi lớp bảo vệ tốt nhất và mở đường cho những đợt sóng cát do gió thổi càn quét.

Cuối cùng, đảo Plum cũng đã khuất tầm mắt của chúng tôi và Đại Tây Dương mênh mông mở ra ở bên trái. Con đường hẹp bắt đầu dốc hơn, và tôi cảm thấy bất an dị thường khi nhìn vào cái đỉnh dốc lẻ loi phía trước, nơi con đường hằn vệt bánh xe giao với bầu trời. Cứ như thể chiếc xe buýt sẽ tiếp tục lao lên, rời hẳn khỏi Trái Đất lành mạnh và hoà vào với cái miền bí hiểm của làn không khí trên cao và nền trời khó hiểu. Mùi hương của biển bắt đầu mang những ý nghĩa u ám, và gã tài xế thầm lặng chúi tới trước, cái lưng cứng ngắc và cái đầu hẹp ngày càng trở nên đáng ghét. Khi nhìn hắn, tôi thấy rằng phía sau đầu hắn cũng gần như trơ trụi giống bản mặt, chỉ có vài sợi tóc vàng lơ thơ trên một bề mặt sần sùi màu xám.

Thế rồi chúng tôi lên đến đỉnh dốc và nhìn thấy thung lũng rộng lớn phía bên kia, nơi sông Manuxet nối với biển ngay mạn Bắc của một dải vách đá dài, đầu chót là Chỏm Kingsport và rẽ lệch về phía Mũi Ann. Trên đường chân trời mù sương xa xa, tôi có thể lờ mờ nhìn thấy mặt ngang cao chót vót của Chỏm Kingsport, trên đỉnh là ngôi nhà cổ kì quái với nhiều truyền thuyết được thêu dệt xung quanh. Nhưng lúc bấy giờ, toàn bộ tâm trí tôi bị thu hút bởi bức tranh toàn cảnh nằm gần đấy hơn, ngay bên dưới mình. Tôi nhận ra mình đã mặt đối mặt Innsmouth hắc ám trong lời đồn.

Đấy là một thị trấn với diện tích rộng và nhà cửa san sát, ấy nhưng lại thiếu vắng sự sống đến kì lạ. Hầu như không có một làn khói nào bốc lên từ mở ống khói lộn xộn, ba tháp chuông cao đứng lù lù, hằn in trơ trụi và không chút màu sơn trên chân trời hướng ra phía biển. Một trong số chúng đã nứt vỡ ở trên đỉnh, nó cùng một tháp chuông khác chỉ có những cái lỗ toang hoác màu đen nơi đáng lẽ phải là mặt đồng hồ.

Cái triền bất tận những mái nhà hai mảng lụp xụp và các đầu hồi đỉnh nhọn chui rúc vào với nhau truyền tải một cách rõ nét đến phát tởm sự sâu mọt mục ruỗng, và trong lúc chúng tôi lại gần nó trên con đường nay đã dốc xuống, tôi có thể thấy rằng nhiều mái nhà đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cũng có cả một số ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Georgia hình vuông lớn nữa, với mái hình tháp, đỉnh vòm, và ban công mái có lan can. Những ngôi nhà này chủ yếu cách xa mép nước, và một hoặc hai nhà xem chừng vẫn còn trong tình trạng khá tử tế.

Tôi nhìn thấy trải dài vào trong đất liền từ giữa chúng là những đoạn đường gỉ sét, cỏ dại mọc đây của tuyến đường sắt bị bỏ hoang, cùng với các cột điện báo nghiêng nay đã không còn dây điện, và những con đường xe ngựa dẫn đến Rowley và Ipswich cũ, bị che khuất một nửa.

Gần biển là chỗ bị suy tàn nặng nhất, mặc dù ở ngay giữa khu này, tôi có thể trông thấy tháp chuông trắng của một công trình gạch được bảo quản khá tốt, nhìn giống như một nhà máy nhỏ. Bến cảng đã bị cát bít lại từ lâu được một đê chắn đá cổ bao quanh; và trên đó tôi bắt đầu có thể nhận ra hình dạng tí hon của vài ngư dân đang ngồi, ở phía cuối đê là thứ trông giống như nền móng của một ngọn hải đăng cũ. Một lưỡi cát đã liếm vào bên trong hàng rào này, trên đó tôi thấy một vài cabin tồi tàn, thuyền đánh cá neo đậu, và những chậu tôm hùm rải rác. Vùng nước sâu duy nhất dường như là nơi dòng sông tuôn ra quá chỗ toà nhà có tháp chuông và quay về hướng Nam để hoà vào với đại dương ở cuối đê chắn sóng.

Đó đây, tàn tích của các cầu cảng nhô ra khỏi bờ biển để rồi rốt cuộc rơi vào miền suy tàn vô định, những câu xa nhất về phía Nam có vẻ là sa sút trầm trọng nhất. Và xa xa trên biển, mặc dù thuỷ triều đang lên cao, tôi vẫn thoáng thấy một đường dài màu đen, chỉ hơi trồi lên khỏi mặt nước đôi chút, nhưng lại chứa đựng một vẻ thâm hiểm âm ỉ kì lạ. Tôi biết đây hẳn phải là Rạn Quỷ. Trong lúc tôi quan sát, dường như có một cảm giác vẫy gọi ngấm ngầm, kì khôi chất chồng kèm vào với sự ghê tởm dữ tợn. Và lạ lùng thay, tôi thấy cái xúc cảm hoạ âm này thậm chí còn đáng lo ngại hơn ấn tượng chính.

Chúng tôi không gặp ai trên đường, nhưng chẳng bao lâu sau đã bắt đầu băng qua các trang trại bỏ hoang, đổ nát theo nhiều mức khác nhau. Thế rồi tôi để ý thấy vài ngôi nhà có người ở với giẻ nhét trong các khung cửa số vỡ và vỏ sò cùng xác cá chết nằm vương vãi trên bãi rác. Một hay hai lần gì đó, tôi thấy vài người trông bơ phờ làm việc trong những khu vườn căn cỗi hay đào nghêu trên bãi biển hôi tanh bên dưới, và mấy nhóm trẻ con bẩn thỉu, mặt mũi như vượn đang chơi đùa xung quanh những bậc cửa đây cỏ dại. Không hiểu sao, đám dân này trông còn đáng sợ hơn những toà nhà ảm đạm, bởi vì khuôn mặt và cách chuyển động của gần như tất cả bọn họ đều có một số điểm kì dị khiến tôi bất giác cảm thấy chán ghét, mặc dù không thể định nghĩa hoặc hiểu được. Tôi thoáng ngỡ tưởng cái vóc dáng điển hình này trông hao hao bức hình đậm chất kinh dị hoặc u sầu nào đó mà mình từng thấy, có lẽ trong một cuốn sách; nhưng cái hồi ức giả ấy tan biến rất mau chóng.

Khi xe buýt xuống đến chỗ thấp hơn, tôi bắt đầu nghe thấy cái tiếng đều đều của một thác nước giữa sự tĩnh lặng bất thường. Những ngôi nhà nghiêng ngả, không được sơn ngày càng san sát hơn ở cả hai bên đường, và mang nhiều nét đô thị hơn những gì chúng tôi đang bỏ lại phía sau. Bức tranh toàn cảnh phía trước đã co lại thành một cảnh phố xá, và ở đôi ba chỗ, tôi có thể thấy nơi trước đây từng có một vỉa hè lát đá cuội hay mấy đoạn vệ đường gạch. Tất cả các ngôi nhà xem chừng đều bị bỏ hoang, và thỉnh thoảng lại xuất hiện những khoảng trống với các ống khói và tường hầm xiêu vẹo, dấu hiệu của những toà nhà đã sụp đổ. Thẩm thấu vào trong tất cả mọi thứ là mùi tanh hôi lợm mửa nhất trần đời.

Chẳng mấy chốc, những con đường giao nhau và ngã ba bắt đầu xuất hiện; những phố ở bên trái dẫn ra miên không được trải nhựa bẩn thỉu và suy tàn gần bờ biển, trong khi các con phố bên phải trưng ra những viễn cảnh về vẻ huy hoàng một thời. Cho đến nay, tôi chưa thấy ai trong thị trấn cả, nhưng bây giờ thì vài dấu hiệu của một khu dân cư thưa thớt đã xuất hiện – đó đây là một cửa số có rèm che, và thỉnh thoảng lại có một chiếc xe méo mó đỗ bên lề đường. Vỉa hè và vệ đường ngày càng được phân định rõ ràng, và mặc dù hầu hết các ngôi nhà đều khá cũ toàn những công trình bằng gỗ và gạch xây trong giai đoạn đầu thế kỉ mười chín – chúng hiển nhiên vẫn được giữ cho phù hợp để sinh sống. Vì là một nhà khảo cổ học nghiệp dư, cảm giác phát tởm trước cái mùi cũng như nỗi hãi sợ và thù ghét của tôi suýt chút nữa thì biến mất giữa kho tàng cổ vật phong phú, nguyên bản còn sót lại từ quá khứ này.

Nhưng khi đến nơi, tôi vẫn không khỏi cảm thấy cực kì khó chịu. Chiếc xe buýt đã đi đến một mối giao thông hay tâm điểm thoáng đãng nào đó với các nhà thờ ở hai bên và tàn tích nhếch nhác của một không gian xanh tròn ở chính giữa, tôi bấy giờ đang nhìn vào một hội trường lớn với cột trụ đỡ ở ngã ba bên tay phải phía trước mặt. Toà nhà một thời được sơn trắng giờ đã xám xịt và bong tróc, cái biển hiệu vàng đen trên trán tường đã phai mờ đến độ tôi phải chật vật lắm mới nhìn ra được dòng chữ “Bí Hội Dagon”. Thế thì đây hẳn phải là hội trường cũ của Hội Tam Điểm, nay đã bị trao cho một giáo phái truỵ lạc. Trong khi đang căng mắt ra để giải mã dòng chữ này, tôi bị xao lãng bởi tiếng ông ổng của một chiếc chuông bị nứt phía bên kia đường, và tôi nhanh chóng quay người lại nhìn ra ngoài cửa sổ xe phía bên mình ngồi.

Âm thanh ấy phát ra từ một nhà thờ bằng đá với tháp chuông thấp, trông rõ ràng là lâu đời hơn hầu hết các ngôi nhà, được xây dựng theo phong cách Gothic vụng về và có một tầng hầm với các cửa sổ đóng kín, cao một cách mất cân xứng. Mặc dù ở phía tôi nhìn thì không thấy các kim đồng hồ đâu, tôi biết rằng những âm thanh khàn khàn đó đang báo mười một giờ. Nhưng rồi đột nhiên mọi suy nghĩ về thời gian bị xoá nhoà khi một hình ảnh ập đến, mãnh liệt tột độ và mang theo một nỗi kinh hoàng không thể lí giải được, xâm chiếm lấy tôi trước khi tôi kịp biết nó thực sự là gì.

Cánh cửa tầng hầm nhà thờ đang để mở, để lộ một vùng đen ngòm hình chữ nhật bên trong. Và trong lúc tôi nhìn, một vật nào đó phóng ngang qua hoặc có vẻ phóng ngang qua hình chữ nhật tối kia; hằn in vào trong não tôi một ý niệm đây ác mộng ngắn ngủi, và tôi càng cảm thấy điên rồ gấp bội bởi vì nếu đem nó ra mổ xẻ phân tích, ta sẽ không thấy nó có tí gì là ác mộng cả.

Đó là một vật thể sống – sinh vật sống đầu tiên bên cạnh tay lái xe mà tôi được thấy kể từ khi tiến vào khu nhà cửa chen chúc của thị trấn – và nếu lúc bấy giờ mà mang tâm trạng ổn định hơn, tôi sẽ chẳng thấy nó có gì là đáng sợ cả. Như về sau tôi nhận ra, đó rõ ràng là linh mục; mặc một thứ trang phục kì dị nào đấy mà hẳn đã được đem ra sử dụng kể từ khi Hội Dagon sửa đổi nghi thức của các nhà thờ quanh đây. Chắc thứ tôi đã vô thức liếc thấy lúc ban đầu đồng thời mang lại cảm giác hãi hùng quái đản cho tôi chính là chiếc vương miện cao mà ông ta đội – một bản sao gần như giống hệt thứ bà Tilton cho tôi xem tối hôm trước.

Với sự trợ lực của trí tưởng tượng, điều này đã gán ghép những tố chất nham hiểm vô danh cho gương mặt mập mờ và tấm thân mặc áo choàng, lóng ngóng bên dưới nó. Tôi sớm rút ra quyết định rằng chẳng có bất kì lí do nào để mình phải bị tác động bởi cái kí ức phi thực xấu xa, nghĩ đến mà thấy rùng cả mình kia. Có gì lạ đâu khi một giáo phái bí ẩn tại địa phương tích hợp vào trong lễ phục của mình một kiểu phục trang đội đầu độc đáo vốn đã trở nên quen thuộc đối với cộng đồng thông qua một cách kì lạ nào đó – có thể là dưới dạng một kho báu?

Một nhóm rất nhỏ những người trẻ tuổi lác đác, diện mạo kinh tởm giờ đã xuất hiện trên các vỉa hè – hoặc là những cá nhân đi lẻ, hoặc là các nhóm hai hay ba trầm lặng. Các tầng dưới của những ngôi nhà đổ nát đôi khi chứa những hàng quán nhỏ trưng biển hiệu tồi tàn dơ dáy. Trên đường đi, tôi để ý thấy có một hoặc hai chiếc xe tải nằm đỗ.

Tiếng thác nước ngày càng rõ rệt hơn, và chẳng bao lâu sau tôi thấy một hẻm sông khá sâu phía trước, với cây cầu cao tốc rộng, gắn lan can sắt bắc ngang, phía bên kia là một quảng trường lớn quang đãng. Khi chúng tôi lạch cạch băng qua cây cầu, tôi nhìn ra hai bên và quan sát một số toà nhà công xưởng ở rìa con dốc cỏ hoặc hơi lấn xuống dốc. Bên dưới ngồn ngộn nước, và tôi có thể thấy hai dòng thác cuồn cuộn ở mạn thượng nguồn bên phải và ít nhất một dòng ở phía bên trái. Từ vị trí này, tiếng ồn nghe điếc cả tai. Sau đó, chúng tôi tiến vào quảng trường hình bán nguyệt lớn bên kia sông và đỗ lại ở bên phải phía trước một toà nhà cao, có mái vòm với chút sơn vàng còn sót lại và một biển hiệu bị mờ phân nửa tuyên bố đấy là Nhà trọ Gilman.

Tôi lấy làm mừng khi được ra khỏi chiếc xe buýt đó, và ngay lập tức gửi vali của mình trong cái sảnh tồi tàn của nhà trọ. Chỉ thấy bóng duy nhất một người – người đàn ông lớn tuổi không mang cái vẻ đã được tôi mệnh danh là “diện mạo Innsmouth” – và tôi quyết định không nhờ ông ta giải đáp bất kì câu gì mình đang thắc mắc; nhớ lại những điều kì lạ mình đã để ý thấy trong nhà trọ này. Thay vào đó, tôi bước ra ngoài quảng trường, nơi chiếc xe buýt bấy giờ đã rời đi, và nghiên cứu khung cảnh một cách tỉ mẩn và dò xét.

Một bên của vùng không gian mở lát đá cuội là dòng sông thẳng băng; bên kia là những toà nhà gạch mái nghiêng giai đoạn 1800, xếp theo hình bán nguyệt, với một số tuyến phố toả về phía Đông Nam, Nam, và Tây Nam từ đó. Đèn đuốc hiếm và nhỏ đến nao lòng – tất cả đều là đèn sợi đốt công suất thấp – và tôi lấy làm mừng vì theo như kế hoạch, tôi sẽ khởi hành trước khi trời tối, mặc dù tôi biết rằng mặt trăng sẽ rất sáng.

Các toà nhà đều trong tình trạng khá tử tế, và có lẽ bao gồm cả tá cửa hàng đang hoạt động; trong số đó là một tiệm tạp hoá thuộc chuỗi First National, ngoài ra thì có một nhà hàng ảm đạm, một cửa hàng thuốc, và văn phòng giao dịch bán buôn cá. Bên cạnh đó, ở mạn cực Đông của quảng trường, chỗ gần bờ sông, có văn phòng đại diện cho công ty công nghiệp duy nhất của thị trấn – Công ty Tinh luyện Marsh. Có thể nhìn thấy tầm mười người, và khoảng bốn hoặc năm chiếc ô tô và xe tải đỗ rải rác. Không cần ai bảo thì tôi cũng biết rằng đây là trung tâm hành chính của Innsmouth.

Về phía Đông, tôi có thể thấp thoáng nhìn thấy những mảng xanh của bến cảng, và hằn in trên đấy là tàn tích đổ nát của ba tháp chuông Georgia xinh đẹp một thời. Và về phía bờ biển, đoạn trên bờ đối diện của dòng sông, tôi thấy cái tháp chuông trắng vươn trên thứ tôi đoán là nhà máy luyện vàng Marsh.

Vì lí do gì đó, tôi quyết định tiến hành hỏi han bước đầu tại chỗ tiệm tạp hoá, nơi nhân sự khó có khả năng là người Innsmouth bản địa. Tôi tìm thấy duy nhất một cậu thanh niên khoảng mười bảy tuổi phụ trách cửa hàng, và sung sướng khi thấy vẻ tươi tỉnh và hoà nhã của cậu ta, hứa hẹn sẽ cung cấp cho mình những thông tin vui vẻ. Cậu ta có vẻ hết sức sẵn lòng nói chuyện, và tôi sớm nhận thấy rằng cậu ta không thích nơi này, mùi tanh của nó, hay đám dân lấm lét ở đây.

Được nói chuyện với bất kì người ngoài nào cũng khiến cậu ta nhẹ nhõm cả người. Cậu ta xuất thân Arkham, trọ với một gia đình đến từ Ipswich, và quay trở về nhà bất cứ khi nào được nghỉ. Gia đình không thích cậu ta làm việc ở Innsmouth, nhưng công ty đã chuyển cậu ta đến đây và cậu ta không muốn từ bỏ công việc của mình. Cậu ta nói không có thư viện công cộng hay phòng thương mại nào ở Innsmouth, nhưng tôi chắc sẽ có thể tự tìm được đường. Con phố tôi vừa đi dọc là Federal. Phía Tây của nó là những con phố dân cư tử tế lâu đời – Broad, Washington, Lafayette, và Adams - còn phía Đông là những khu ổ chuột ven bờ biển.

Chính tại những khu ổ chuột này – dọc theo phố Main – tôi sẽ tìm thấy những nhà thờ Georgia cũ, nhưng tất cả đều bị bỏ hoang từ lâu. Hành xử một cách quá lộ liễu trong những khu phố như vậy sẽ chẳng khôn ngoan gì – đặc biệt là phía Bắc của dòng sông – vì đám dân ở đấy rất sưng sủa và thù địch. Một số người lạ thậm chí đã mất tích.

Nhờ mấy bài học đắt giá, cậu nhân viên biết được rằng một số nơi gần như là khu cấm. Chẳng hạn, không ai được phép la cà lâu la xung quanh nhà máy luyện vàng Marsh, hoặc quanh bất kì nhà thờ nào vẫn còn đang được sử dụng, hay chỗ hội trường đây trụ cột của Hội Dagon ở New Church Green. Những nhà thờ đó rất kì quặc – tất cả đều bị các giáo phái tương ứng của mình tại những nơi khác kiên quyết chối bỏ, và có vẻ áp dụng các kiểu nghi lễ cũng như lễ phục giáo sĩ hết sức kì quặc.

Tín điều của chúng vừa không chính thống lại vừa bí ẩn, có bóng gió ám chỉ đến một số sự biến đổi thần kì, giúp đạt được sự bất tử về thân xác tại dương thế – hay một kiểu bất tử nào đó. Linh mục của chính cậu ta bác sĩ Wallace tại Nhà thờ Giáo hội Giám lí Asbury ở Arkham – đã khẩn khoản khuyên can cậu ta chớ tham gia bất kì nhà thờ nào ở Innsmouth.

Về phần những người dân ở Innsmouth thì cậu thanh niên gần như chẳng biết phải nghĩ sao về họ. Họ lấm lét và hiếm khi lộ mặt, chẳng khác nào thú vật sống trong hang, và khó lòng mà mường tượng nổi họ có thú tiêu khiển nào khác ngoài việc câu cá lung tung. Căn cứ vào lượng rượu lậu mà đám dân cư nốc, có thể họ nằm đờ đẫn vì say xỉn gần như cả ngày. Họ xem chừng cứ sưng sỉa tụ lại với nhau với sự đoàn kết và thấu hiểu gì đó – coi thường thế giới như thể họ có thể tiếp cận miền thực thể nào khác thích hợp hơn.

Diện mạo của họ – đặc biệt là những cặp mắt nhìn chằm chằm, không chớp mà chẳng ai thấy nhắm bao giờ – thừa sức gây sững sờ; và giọng nói của họ thật kinh tởm. Thật kinh khủng khi nghe tiếng họ tụng kinh trong các nhà thờ vào ban đêm, đặc biệt là trong các lễ hội hoặc những cuộc phục hồi đức tin chính của họ, diễn ra mỗi năm hai lần vào ngày 30 tháng Tư và ngày 31 tháng Mười.

Họ rất thích nước, và bơi lội nhiều vô cùng ở cả sông lẫn bến cảng. Các cuộc đua bơi ra Rạn Quỷ thường xuyên được tổ chức, và thiên hạ ai nấy dường như đều có thể tham gia môn thể thao khó nhọc này. Nếu ngẫm kĩ, ta sẽ nhận thấy rằng nhìn chung thì chỉ người trẻ tuổi mới chường mặt ra những nơi công cộng, và trong số những người ấy, đám lớn tuổi nhất thường sẽ có vẻ ngoài nhơ nhuốc nhất. Nếu có trường hợp ngoại lệ nào thì chủ yếu cũng toàn là những người không hề có chút nét dị thường gì, giống như ông nhân viên già tại nhà trọ. Ta sẽ không khỏi tò mò về số phận của phần lớn những cư dân lớn tuổi, và liệu cái “diện mạo Innsmouth” có phải là một chứng bệnh kì lạ và quỷ quyệt, càng về già thì càng trầm kha hay không.

Tất nhiên, chỉ một chứng bệnh cực kì hiếm gặp mới đủ sức khiến cho cấu trúc giải phẫu của một cá nhân bị thay đổi nghiêm trọng và triệt để đến vậy sau khi trưởng thành – với các thay đổi bao gồm những nhân tố cơ bản về xương như hình dạng của hộp sọ – nhưng nhìn tổng thể thì ngay cả những đặc điểm hữu hình khác của căn bệnh đó cũng khó hiểu và chưa từng được nghe đến chẳng kém gì khía cạnh ấy. Cậu thanh niên nói rằng sẽ khó lòng đưa ra nổi bất kì kết luận thực sự nào về chuyện này; vì không ai từng thân quen được với người bản địa, cho dù có sống ở Innsmouth lâu đến mấy.

Cậu thanh niên tin chắc rằng ở một số nơi, họ nhốt trong nhà nhiều người thậm chí còn tồi tệ hơn cả những kẻ xấu nhất xuất hiện ngoài đường. Người ta đôi khi còn nghe thấy những âm thanh kì quặc vô cùng. Theo lời đồn thì các lều lán lụp xụp bên khu ven biển mạn phía Bắc của dòng sông được kết nối bởi các đường hầm bí ẩn, và chính thế mà nó hệt như một cái động chứa đầy những sự dị thường đích thực. Không thể nào đoán định được đám người này sở hữu dòng máu ngoại tộc nào – nếu họ quả đúng là dân lai. Đôi khi họ giấu biến một số nhân vật đặc biệt gớm guốc khi các quan chức chính phủ cũng như những người từ thế giới bên ngoài đến thị trấn.

Người cung cấp thông tin của tôi bảo rằng hỏi han dân bản địa bất cứ điều gì về nơi này cũng sẽ chỉ công cốc mà thôi.

Người duy nhất chịu mở miệng là một lão già khú đế nhưng diện mạo bình thường, sống ở nhà tình thương bên rìa phía Bắc thị trấn và suốt ngày đi lang thang hay lởn vởn quanh trạm cứu hoả. Nhân vật già nua này là Zadok Allen, đã chín mươi sáu tuổi, đầu óc hơi có vấn đề, và còn là bợm nhậu có tiếng của thị trấn. Lão là một người kì lạ, lấm lét, liên tục nhìn ra sau vai như thể sợ hãi điều gì đó, và khi tỉnh táo thì dứt khoát không chịu nói chuyện với bất cứ người lạ nào. Tuy nhiên, nếu đem thứ chất độc yêu thích của lão ra nhử thì lão sẽ không tài nào cưỡng lại nổi; và một khi say rồi thì lão sẽ tiết lộ những mảng hồi ức đáng kinh ngạc tột độ.

Tuy nhiên, rốt cuộc thì ta cũng sẽ chẳng thể thu được nhiều thông tin hữu ích từ lão; bởi tất cả các câu chuyện của lão đều là những lời bóng gió điên rồ, không đầy đủ về những phép lạ bất khả thi cũng như những nỗi kinh hoàng chắc chắn chỉ có thể bắt nguồn từ các mộng tưởng rối loạn của chính lão. Không ai tin lão hết, nhưng đám dân bản địa không thích để cho lão uống rượu rồi nói chuyện với người lạ; và để người khác nhìn thấy mình hỏi chuyện lão thì không phải lúc nào cũng an toàn. Chắc những lời đồn đại và ảo tưởng hoang đường nhất thiên hạ vẫn hay rỉ tai nhau chính từ lão mà ra.

Thỉnh thoảng, có một số cư dân không phải dân bản địa bảo rằng mình trông thấy những thứ quái đản, nhưng với mấy câu chuyện của lão Zadok và các cư dân dị dạng nơi đây, việc những ảo tưởng như vậy xuất hiện nhiều không có gì là lạ cả. Chẳng người không phải dân bản địa nào ở ngoài đường vào lúc đêm hôm khuya khoắt, bởi lẽ hầu hết mọi người đều có ấn tượng rằng làm như vậy là không khôn ngoan. Mà ngoài ra, đường phố tối tăm đến ghê tởm.

Về phân công ăn việc làm – lượng cá tôm dối dào nơi đây quả thật khá kì quái, nhưng đám dân bản địa ngày càng ít tận dụng lợi thế đó. Thêm nữa, giá cả đang trên đà tụt giảm và cạnh tranh càng lúc càng gay gắt. Tất nhiên, hoạt động kinh doanh thực sự của thị trấn là nhà máy luyện vàng, với văn phòng thương vụ nằm ngay trên quảng trường, chỉ cách nơi chúng tôi đứng một vài nhà về phía Đông. Không ai từng thấy mặt Lão Khọm Marsh cả, nhưng đôi khi lão đi đến nhà máy trong một chiếc xe quây rèm kín mít.

Có đủ loại tin đồn về việc ngoại hình lão Marsh ngày nay đã trở thành như thế nào. Lão từng là một người rất bảnh bao, và thiên hạ nói lão vẫn mặc bộ áo choàng sang trọng thời Edward(1), được chỉnh sửa lạ thường cho phù hợp với một số dị tật nhất định. Con trai lão trước đây từng điều hành văn phòng tại quảng trường, nhưng dạo gần đây họ chủ yếu toàn ẩn thân và giao phó phần lớn công việc cho thế hệ trẻ. Đám con trai và chị em của họ đã trông rất kì quái, đặc biệt là những người lớn tuổi; và theo lời đồn thì sức khoẻ của họ đang trên đà đi xuống.

(1) Thời kì nước Anh nằm dưới sự trị vì của vua Edward VII (1901-1910), đôi khi lại được tính kéo dài đến khi Thế Chiến I bắt đầu (1914).

Trong số những cô con gái nhà Marsh có một mụ đàn bà với diện mạo phát tởm, hệt như bò sát, đeo hàng đống đồ trang sức kì lạ với phong cách ngoại lai thấy rõ, chẳng khác nào cái vương miện kì lạ. Người cấp tin của tôi đã nhiều lần để ý thấy điều đó, và nghe đồn rằng những món đô ấy đến từ một kho tàng bí mật nào đấy, hoặc là của cướp biển, hoặc là của quái vật. Các giáo sĩ – hay các linh mục, hoặc bất cứ tước danh gì mà ngày nay họ sử dụng cũng dùng kiểu trang sức ấy làm đồ đội đầu; nhưng người ta hiếm khi trông thấy họ. Cậu thanh niên chưa thấy món nào khác nữa cả, mặc dù theo lời đồn thổi thì có rất nhiều món như thế tồn tại quanh Innsmouth.

Gia đình Marsh, cùng với ba gia đình quý tộc khác của thị trấn – nhà Waite, nhà Gilman, và nhà Eliot – đều rất kín đáo. Họ sống trong những ngôi nhà cao cửa rộng trên phố Washington, và theo lời đồn, có mấy gia đình đang lén chứa chấp một số người họ hàng hiện vẫn còn sống dù đã được thông báo cũng như ghi trên giấy tờ là đã mất, với ngoại hình không thể cho thiên hạ thấy được.

Sau khi cảnh báo tôi rằng nhiều biển báo đường đã bị hỏng, cậu thanh niên vẽ cho tôi một bản đồ các đặc điểm nổi bật của thị trấn, chỉ là phác thô thôi nhưng rất đầy đủ và tỉ mỉ. Sau khi nhìn qua, tôi tin chắc nó sẽ rất hữu ích, vừa bỏ nó vào trong túi vừa cảm ơn rối rít. Vì không thích cái vẻ dơ dáy của nhà hàng duy nhất mình đã thấy, tôi mua lượng lớn bánh quy phô mai và bánh xốp gừng để lát sau ăn trưa.

Tôi quyết định rằng kế hoạch của mình sẽ là len lỏi qua các đường phố chính, nói chuyện với bất kì ai không phải dân bản địa mình gặp được, và bắt chuyến xe tám giờ đi Arkham. Tôi có thể thấy thị trấn đã trở thành một ví dụ đầy ý nghĩa và cường điệu cho hiện tượng xuống cấp của cộng đồng; nhưng vì không phải là nhà xã hội học, tôi sẽ giới hạn những nhận định nghiêm túc của mình trong lĩnh vực kiến trúc.

Thế là tôi bắt đầu thực hiện chuyến tham quan quy củ dù phần nào hoang mang qua những con đường hẹp, tối tăm của Innsmouth. Băng qua cây cầu và quay về phía tiếng gầm rú của thác hạ lưu, tôi đi qua gần nhà máy luyện vàng Marsh, xem chừng vắng bóng những âm thanh công nghiệp đến lạ. Toà nhà này nằm trên bờ sông dốc đứng, gần chỗ một cây cầu và ngã ba đường thoáng đãng mà tôi đoán là trung tâm hành chính thời đầu, bị quảng trường thị trấn hiện tại chiếm chỗ sau cuộc Cách mạng.

Sau khi lại băng qua hẻm sông trên cây cầu phố Main, tôi ra đến một vùng hoang vu tột bậc, không hiểu sao khiến cho tôi rùng cả mình. Những cụm mái nhà hai mảng đổ nát tạo thành một đường chân trời lởm chởm và huyền hoặc, với bên trên là tháp chuông ma quái, cụt đầu của một nhà thờ cổ. Một số ngôi nhà dọc phố Main có người ở, nhưng hầu hết đều bị đóng ván kín bưng. Dọc những con ngõ không trải nhựa, tôi nhìn thấy những ô cửa số đen ngòm, mở toang hoang của những căn nhà tồi tàn bỏ hoang, với nhiều nhà bị phân móng sụt lún làm cho nghiêng đi theo những góc nguy hiểm phi thường. Những cửa số đó nhìn ma mị đến nỗi phải can đảm lắm thì mới dám quay sang hướng Đông, tiến về phía bờ biển.

Chắc chắn một điều là nỗi kinh hoàng mà một ngôi nhà bỏ hoang mang lại tăng tiến theo dạng hình học chứ không phải số học khi lượng nhà dân phình ra, hợp thành một thành phố hiu quạnh tột cùng. Cảnh tượng những cung đường mắt cá bất tận, đầy sự trống rỗng và chết chóc, cùng với suy nghĩ về mạng lưới những gian phòng đen tối, u sầu không hồi kết, được nhượng lại cho mạng nhện và kí ức và sâu mọt, khơi dậy những nỗi sợ hãi và ác cảm dư tàn mà ngay cả triết lí vững chắc nhất cũng không thể xua tan.

Phố Fish cũng vắng vẻ như Main, mặc dù nó khác biệt ở chỗ có nhiều nhà kho gạch đá vẫn còn trong tình trạng tốt. Phố Water gần như là bản sao của Fish, ngoại trừ việc tại nơi từng có cầu cảng thì nay lại là những khoảng trống lớn hướng ra biển. Tôi không thấy bất kì sinh vật sống nào, trừ một số ngư dân lác đác trên đê chắn sóng ngoài xa, và tôi không nghe thấy âm thanh gì ngoài tiếng vỗ dào dạt của nước triều ngoài bến cảng và tiếng ẩm ẩm của dòng thác trong sông Manuxet. Thị trấn đang càng lúc khiến tôi căng thẳng hơn, tôi lấm lét nhìn ra phía sau mình trong khi lân mò quay trở lại qua cây câu lung lay ở phố Water. Theo tấm bản đồ phác, cây cầu phố Fish đã bị huỷ hoại rồi.

Ở mạn phía Bắc dòng sông, dấu tích của cuộc sống dơ dáy xuất hiện – những ngôi nhà đóng gói cá đang hoạt động ở phố Water, ống khói bốc khói và mái nhà được sang sửa đó đây, thỉnh thoảng lại có âm thanh phát ra từ những nơi vô định, những hình hài hiếm hoi lê bước trên các con phố thê lương và những làn đường không trải nhựa – nhưng tôi dường như lại thấy điều này thậm chí còn làm mình cảm thấy ngột hơn miên hoang vắng phía Nam.

Nguyên nhân là bởi dân tình trông gớm ghiếc và bất thường hơn những người ở gần trung tâm thị trấn; mấy lân gợi cho tôi nhớ đến thứ tà ác hoàn toàn phi thực nào đó mà mình không thể nêu đích danh được. Không còn nghi ngờ gì nữa, đám dân Innsmouth ở đây mang nhiều máu ngoại tộc hơn với những người ở sâu trong đất liền – tất nhiên trừ khi cái “diện mạo Innsmouth” là một căn bệnh chứ không phải là huyết thống, và trong trường hợp ấy thì khu này có thể là nơi chứa những ca bệnh nặng hơn.

Một tình tiết khiến tôi cảm thấy khó chịu là cách phân bố một số âm thanh mờ nhạt mình nghe thấy. Đáng lẽ tất cả đều phải phát ra từ những ngôi nhà trông rõ là có người ở, ấy nhưng trên thực tế, chúng thường xuyên vang lên ổn á nhất từ đằng sau những mặt tiền bị bít ván kín mít nhất. Có tiếng cót két, sột soạt, cùng những tiếng động khàn khàn đáng ngờ; và tôi lo lắng nghĩ về những đường hầm bí mật mà cậu bán tạp hoá đã nhắc đến. Đột nhiên tôi cảm thấy băn khoăn muốn biết giọng nói của những người đó nghe như thế nào. Tính đến nay, tôi chưa nghe thấy ai trong khu này nói năng gì, và khó hiểu thay, tôi lại cứ muốn không phải nghe giọng ai hết.

Sau khi tạm dừng chỉ đủ lâu để nhìn ngắm hai nhà thờ cổ đẹp nhưng đổ nát ở phố Main và phố Church, tôi vội vã rời khỏi khu ổ chuột tôi tàn bên bờ biển đó. Điểm đến hợp lí tiếp theo của tôi là New Church Green, nhưng vì lí do nào đấy, tôi không dám đi qua chỗ nhà thờ nơi mình từng trông thấy hình bóng đáng sợ khó hiểu của vị mục sư hay linh mục đội mũ miện kì lạ trong tầng hầm. Với cả, cậu bán tạp hoá đã nói với tôi rằng các nhà thờ cũng như hội trường Hội Dagon không phải là khu người lạ nên bén mảng đến.

Bởi thế nên tôi đi theo hướng Bắc, dọc theo Main và vào Martin, sau đó rẽ vào sâu trong đất liền, an toàn băng qua phố Federal phía Bắc, và đi vào khu quý tộc suy tàn bao gồm các phố Broad, Washington, Lafayette, và Adams ở mạn Bắc. Mặc dù những đại lộ cổ kính này trông vẻ ngoài rất xấu xí và luộm thuộm, vẻ trang nghiêm rợp bóng cây du của chúng vẫn chưa mất đi hoàn toàn.

Hết biệt thự này đến biệt thự khác hút lấy ánh mắt của tôi, hầu hết đều đổ nát và bít ván kín bưng giữa những khu đất không được ai ngó ngàng, nhưng mỗi phố đều có một hoặc hai căn có dấu hiệu có người ở. Tại phố Washington có một hàng bốn hoặc năm nhà đã được sang sửa rất tử tế với những bãi cỏ và vườn được chăm sóc cẩn thận. Tôi đoán ngôi nhà xa hoa nhất trong số đó – với những sân đất nền cao rộng rãi, đặt đây bồn hoa, trải dài đến tận phố Lafayette – là nhà của Lão Khọm Marsh, chủ nhà máy luyện vàng mắc bệnh.

Không thấy tăm hơi bất kì sinh vật sống nào trong tất cả các con phố này, và tôi lấy làm tò mò trước sự vắng bóng của chó mèo tại Innsmouth. Một điều nữa làm tôi cảm thấy khó hiểu và bất an, ngay cả trong những biệt thự được lưu giữ tử tế nhất, là cảnh rất nhiều cửa sổ tầng ba và tầng áp mái bị đóng kín bưng. Lén lút và kín tiếng dường như là tính chất chung của cái thành phố tĩnh lặng đây ngoại lai và chết chóc này, và tôi không thể rũ bỏ cảm giác bị rình rập theo dõi từ mọi hướng bởi những cặp mắt quỷ quyệt, trợn trừng, không bao giờ nhắm lại.

Tôi rùng mình khi tiếng chuông dị hợm điểm ba giờ vang lên từ một tháp chuông bên trái. Tôi nhớ rất rõ cái nhà thờ lùn bè, nơi những âm thanh đó phát ra. Đi xuôi phố Washington về phía dòng sông, tôi giờ đã được mặt đối mặt với một khu vực mới, từng là chốn của công nghiệp và thương buôn. Nói vậy là bởi tôi trông thấy những tàn tích của một nhà máy phía trước, và thấy thêm vài nhà máy khác nữa, với các dấu tích của nhà ga cũ và cây cầu đường sắt có mái che đằng sau chúng, ở mạn trên hẻm sông bên phải mình.

Cây cầu bấp bênh bấy giờ đang nằm trước mặt tôi có cắm tấm biển cảnh báo, nhưng tôi đánh liêu và một lần nữa băng qua nó để sang phía bờ phía Nam, nơi các dấu hiệu của sự sống lại xuất hiện. Những sinh vật lấm la lấm lét, bước đi lóng ngóng nhìn chằm chằm về phía tôi đây bí hiểm, trong khi những khuôn mặt bình thường hơn nhìn tôi đây lạnh lùng và tò mò. Innsmouth đang nhanh chóng trở nên ngoài sức chịu đựng, và tôi rẽ xuống phố Paine, tiến về phía quảng trường với hi vọng sẽ tìm được một chiếc xe đưa mình đến Arkham trước thời điểm khởi hành hãy còn lâu nữa mới đến của chuyến xe buýt ám muội kia.

Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy trạm cứu hoả xiêu vẹo bên tay trái, và để ý thấy một ông già mặt đỏ găng, râu rậm, mắt ngấn nước, khoác trên mình bộ đồ rách rưới không có gì nổi bật, ngồi tại băng ghế phía trước trạm, nói chuyện với hai người lính cứu hoả luộm thuộm nhưng diện mạo không đến nỗi bất bình thường. Tất nhiên, đây hẳn phải là Zadok Allen, lão bợm nhậu nửa rồ nửa dại, nắm giữ những câu chuyện hết sức gớm guốc và khó tin về Innsmouth xưa cũ cùng sự hắc ám của nó.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.