Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- Iv -

❊ ❊ ❊

TÔI KHÓ LÒNG MÔ TẢ NỔI TÂM TRẠNG CỦA MÌNH SAU vụ việc kinh khủng ấy – một vụ việc vừa điên rồ mà lại vừa đáng thương, vừa kì cục mà lại vừa đáng sợ. Cậu thanh niên bán tạp hoá đã giúp tôi chuẩn bị sẵn tinh thần cho nó, ấy nhưng thực tại vẫn khiến tôi hoang mang và bất an. Mặc dù câu chuyện rất tầm phào, vẻ nghiêm túc và hãi sợ điên rồ của lão Zadok đã làm cho tôi càng một thêm lo lắng, và nó hoà chung vào với nỗi ghê tởm tôi từng cảm thấy về cái thị trấn này cũng như sự tăm tối vô hình bao trùm lấy nó.

Tôi có thể sàng lọc câu chuyện và trích xuất cái lõi ngụ ngôn lịch sử của nó ra sau; bây giờ thì tôi chỉ muốn gạt bỏ nó ra khỏi đầu. Thời giờ đã trở nên muộn màng đến nguy hiểm – đồng hồ của tôi cho thấy đã 7:15, và chuyến xe buýt đi Arkham rời quảng trường thị trấn lúc tám giờ – thế nên tôi cố gắng suy nghĩ theo chiều hướng trung lập và thực tế nhất có thể, đồng thời nhanh chóng rảo bước trên những con phố vắng vẻ, đây các phần mái toang hoang và ngôi nhà nghiêng ngả, tiến về phía nhà trọ nơi tôi đã cất vali và sẽ tìm thấy chiếc xe buýt của mình.

Mặc dù ánh sáng vàng của buổi chiều muộn đã mang đến cho những mái nhà cổ xưa và mớ ống khói đổ nát một vẻ đáng yêu và yên bình đầy huyền bí, tôi không khỏi thỉnh thoảng liếc ra sau vai. Tôi chắc chắn sẽ rất mừng khi được thoát khỏi Innsmouth hôi hám và đầy rẫy kinh hoàng, thầm ước giá mà có một phương tiện nào khác ngoài chiếc xe buýt do tay Sargent trông nham hiểm đó lái. Tuy nhiên, tôi không đi quá hộc tốc, vì mọi góc đường im ắng đều có những chi tiết kiến trúc đáng quan sát; và tôi tính mình có thể dễ dàng đi hết khoảng cách cần thiết trong nửa giờ.

Sau khi nghiên cứu tấm bản đồ của cậu bán tạp hoá và tìm một tuyến đường mình chưa từng đi qua trước đây, tôi chọn phố Marsh thay vì phố State để đến quảng trường. Gần góc phố Fall, tôi bắt đầu thấy lác đác vài nhóm người lấm lét thì thầm, và khi cuối cùng cũng đến được quảng trường, tôi thấy rằng hầu như tất cả những người vô công rồi nghề đều tụ tập quanh cửa Nhà trọ Gilman. Cảm giác cứ như thể nhiều đôi mắt lồi, ươn ướt, không bao giờ chớp cứ nhìn vào tôi theo một kiểu rất lạ lùng trong khi tôi nhận lại vali của mình trong sảnh, và tôi hi vọng rằng không ai trong số những kẻ khó ưa này sẽ cùng ngồi với mình trên chiếc xe khách.

Chiếc xe buýt đến khá sớm, xành xạch nổ máy tiến vào với ba hành khách trước tám giờ, và một tay trông đầy vẻ xấu xa trên vỉa hè lẩm bẩm vài lời gì đó không thể nghe nổi với gã tài xế. Sargent ném ra một túi thư cùng cuộn báo, rồi vào nhà trọ; trong khi đám hành khách – chính những người tôi thấy đã đến Newburyport sáng hôm đó – loạng choạng lê bước xuống vỉa hè và lào khào nói mấy câu khe khẽ với một người vơ vẩn ở đấy bằng một ngôn ngữ mà tôi dám thề là không phải tiếng Anh. Tôi lên chiếc xe trống và ngồi vào chỗ mình từng ngồi lúc trước, nhưng chỉ vừa mới ổn định thì Sargent đã tái xuất và bắt đầu lẩm bẩm với cái giọng khàn khàn, ghê tởm lạ thường.

Có vẻ tôi đã rất xui xẻo. Động cơ gặp phải một vấn đề gì đó, mặc dù xe từ Newburyport đến rất sớm, và chiếc xe buýt không thể đi nốt đến Arkham. Không, nó không thể được sửa chữa vào tối hôm đó, cũng không có cách nào khác để kiếm xe ra khỏi Innsmouth, cho dù là đến Arkham hay nơi khác. Sargent xin lỗi, nhưng tôi sẽ phải nghỉ lại Gilman. Có lẽ nhân viên sẽ giảm giá cho tôi, nhưng chẳng có gì khác để làm nữa. Gần như choáng váng cả người bởi chướng ngại bất ngờ này, và khiếp hãi tột cùng viễn cảnh màn đêm buông xuống trong cái thị trấn suy tàn và nhập nhoạng này, tôi rời chiếc xe và trở lại sảnh nhà trọ. Người nhân viên trực đêm sưng sỉa, bộ dạng kì quái nói rằng tôi có thể lấy phòng 428 ở tầng áp chót – rộng rãi, nhưng không có nước máy – với giá một đô.

Bất chấp những gì đã nghe về nơi này ở Newburyport, tôi kí vào sổ đăng kí, trả tiền, để nhân viên mang vali của mình, và đi theo tên phục vụ cáu bẳn, đơn độc leo lên ba cây cầu thang kéo cà kẽo kẹt, băng qua những hành lang bụi bặm, trông có vẻ hoàn toàn vắng bóng người. Phòng của tôi là một căn phòng mạn sau ảm đạm với hai cửa sổ và đồ đạc nghèo nàn, rẻ tiền, nhìn xuống một cái sân dơ dáy bị bao quanh bởi những khối nhà gạch thấp, hoang vắng, đồng thời nhìn ra những mái nhà hư nát trải dài về phía Tây, kèm theo một vùng nông thôn lầy lội đằng xa. Ở cuối hành lang là phòng tắm – một khu di vật trông mà phát nản với chậu đá cẩm thạch cổ, bồn thiếc, đèn điện mờ, và các tấm ván ốp gỗ mốc meo phủ quanh tất cả các đường ống nước.

Vì trời vẫn còn đang sáng, tôi xuống quảng trường và nhìn ngó xung quanh để tìm một chỗ ăn tối nào đó; vừa tìm vừa để ý thấy những ánh liếc kì lạ mình nhận được từ đám vô công rồi nghề bệnh hoạn. Vì cửa hàng tạp hoá đã đóng cửa, tôi buộc phải ghé vào cái nhà hàng mình đã tránh xa lúc trước; phục vụ có một gã đàn ông gù, đầu hẹp đôi mắt nhìn chằm chằm, không bao giờ chớp, và một mụ mũi tẹt với đôi bàn tay dày, vụng về ngoài sức tưởng tượng. Đây là nhà hàng ăn tại quầy, và tôi nhẹ nhõm cả lòng khi thấy rõ ràng phần lớn đồ ăn được phục vụ đến từ đồ hộp và đồ đóng gói. Tôi chỉ cần một bát canh rau với bánh quy giòn là đủ, và sớm quay trở lại căn phòng ủ rũ của mình tại Gilman; lấy theo một tờ báo buổi tối và một tờ tạp chí lấm lem từ chỗ tay nhân viên mặt mày ác hiểm, tại quầy báo ọp ẹp bên cạnh bàn của hắn.

Khi hoàng hôn buông xuống, tôi bật lên cái bóng đèn điện yếu ớt trên chiếc giường khung sắt rẻ tiền, và hết sức cố gắng tiếp tục công việc đọc mà tôi đã bắt đầu. Tôi cảm thấy tốt nhất mình nên để cho tâm trí suy nghĩ về những điều lành mạnh, vì nghiền ngẫm về những điều bất thường của cái thị trấn cổ xưa, đây bệnh hoạn này trong khi mình vẫn còn đang ở trong biên giới của nó sẽ chẳng ích lợi gì.

Câu chuyện lảm nhảm điên rồ mà tôi đã được nghe lão bợm rượu già kể không hứa hẹn sẽ mang lại những giấc mơ dễ chịu gì cho cam, và tôi cảm thấy mình phải giữ hình ảnh đôi mắt ngấn nước, hoang dại của lão càng xa trí tưởng tượng của mình càng tốt.

Tôi cũng không được suy nghĩ nhiều về những gì mà viên thanh tra nhà máy đã kể với nhân viên bán vé tại Newburyport về Nhà trọ Gilman cũng như cái giọng của những người ở trọ đêm – cả nơi này lẫn cái khuôn mặt bên dưới chiếc vương miện trong khung cửa nhà thờ đen ngòm; cái khuôn mặt đã khơi gợi lên một nỗi kinh hoàng mà tâm trí tỉnh táo của tôi không tài nào giải thích được. Có lẽ nếu căn phòng không bẩn thỉu đến vậy, tôi đã có thể dễ dàng không nghĩ về những chủ đề khó chịu. Lúc bấy giờ, cái mùi mốc meo chết người hoà quyện đầy gớm ghiếc vào với mùi tanh dai dẳng của thị trấn khiến cho đầu óc con người ta chỉ có thể nghĩ về cái chết và sự suy tàn.

Một điều nữa làm tôi thấy bất an là cửa phòng tôi không có chốt. Các vết tích cho thấy rõ ràng từng có một cái được gắn ở đấy, nhưng có dấu hiệu mới bị loại bỏ gần đây. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó đã bị hỏng, giống như rất nhiều thứ khác trong toà nhà đổ nát này. Tôi lo lắng nhìn xung quanh và phát hiện ra một cái chốt trên tủ đựng quần áo, căn cứ vào các dấu tích thì dường như có cùng kích cỡ với cái chốt trên cửa.

Để giải toả căng thẳng, tôi bận rộn chuyển món đó vào vị trí bị trống với món dụng cụ ba-trong-một tiện lợi tôi gài trên móc chìa khoá, trong đó có một cái tuốc nơ vít. Cái chốt được lắp vừa như in, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng mình có thể cài chắc nó lại khi đi ngủ. Không phải vì tôi thực sự lo sẽ cần đến nó, nhưng bất kì biểu tượng của sự an ninh nào cũng sẽ được chào đón trong một môi trường như thế này. Có hai chốt đủ dùng ở hai cánh cửa kết nối các phòng bên hông, và tôi chốt chặt chúng lại.

Tôi không cởi quần áo mà quyết định đọc cho đến khi thấy buồn ngủ, và sau đó nằm xuống, chỉ cởi bỏ áo khoác, cổ áo và giày. Tôi lấy đèn pin bỏ túi ra khỏi vali, đặt nó vào trong quần, để tôi có thể xem đồng hồ nếu sau mình có thức dậy trong bóng tối. Tuy nhiên, cơn buồn ngủ không đến; và khi tôi dừng lại để phân tích suy nghĩ của bản thân, tôi lo lắng phát hiện ra rằng mình kì thực đang vô thức lắng nghe một thứ gì đó – lắng nghe tiếng một thứ mình sợ nhưng không thể chỉ được đích danh. Câu chuyện của viên thanh tra đó hẳn đã tác động đến trí tưởng tượng của tôi sâu sắc hơn tôi tưởng. Một lần nữa, tôi cố gắng đọc, nhưng nhận thấy rằng mình không tiến triển được gì cả.

Sau một thời gian, tôi như nghe thấy cầu thang và hành lang kêu kẽo kẹt theo từng khoảng như thể có tiếng bước chân, và tự hỏi có phải các phòng khác bắt đầu có người vào không. Tuy nhiên, không có giọng nói nào, và tôi nhận thấy rằng tiếng cót két kia có nét gì đó hơi lấm lét. Tôi không thích thế, và tự hỏi liệu có nên ngủ hay không. Thị trấn này có những người dân kì quái, và chắc chắn đã có một vài vụ mất tích.

Đây có phải là một trong những nhà trọ nơi khách du lịch bị giết để cướp của không? Tôi chắc chắn trông không lấy gì làm giàu sang cả. Hay là những người dân thị trấn thực sự rất ghét các du khách tọc mạch? Phải chăng hành động ngắm cảnh lồ lộ của tôi, cùng với việc thường xuyên nhìn bản đồ, đã khiến tôi thu hút sự chú ý theo một hướng bất lợi? Tôi nhận ra rằng mình hẳn phải đang ở trong một trạng thái cực kì bồn chồn thì mới đi đoán già đoán non theo kiểu như thế chỉ vì một vài tiếng kêu cọt kẹt ngẫu nhiên – nhưng tôi cũng vẫn hối hận là mình không có vũ trang.

Quãng thời gian sau, khi cảm thấy một sự mệt mỏi không dính dáng gì đến cơn buồn ngủ, tôi cài chốt cánh cửa dẫn vào hành lang mới được sang sửa, tắt đèn, và quăng mình xuống chiếc giường cứng, không bằng phẳng ăn vận đầy đủ áo choàng, cổ áo, giày, và tất cả mọi thứ. Trong bóng tối, mọi âm thanh khẽ khàng của màn đêm đều như được khuếch đại, và một cơn lũ những suy tư khó chịu gấp đôi xâm chiếm lấy tôi. Tôi lấy làm hối hận vì đã tắt đèn, nhưng lại đã quá mệt mỏi để ngồi dậy và bật lại.

Thế rồi, sau một hồi lâu lắc, thê lương, với khúc dạo đầu là một tiếng kẽo kẹt mới ngoài cầu thang và hành lang, một âm thanh nhẹ nhàng, không thể lẫn vào đâu được vang lên, chẳng khác nào sự hiện thực hoá đây thâm hiếm của tất cả những mối e ngại của tôi. Không còn chút nghi ngờ gì nữa, khoá cửa hành lang của tôi đang bị thử mở – đầy thận trọng, lén lút, ngập ngừng – với một chiếc chìa khoá.

Nhờ có những nỗi sợ mơ hồ trước đây, tôi không đến nỗi cảm thấy quá rối bời khi nhận ra dấu hiệu đang có một mối nguy thực sự. Tôi đã đề cao cảnh giác theo bản năng, mặc dù không có lí do nào cụ thể cả – và nó đã trở thành lợi thế của tôi trong cơn nguy biến mới và đầy chân thực này, bất kể nó có là gì. Tuy nhiên, việc mối đe doạ biến đổi từ một linh cảm mơ hồ sang hiện thực sát sườn vẫn cứ là một cú sốc lớn, và giáng xuống đầu tôi như một cú thụi ra trò. Tôi không bao giờ nghĩ đến khả năng cái hành động dò dẫm ấy có thể chỉ là một sự nhầm lẫn đơn thuần. Mục đích xấu là tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra, và tôi nằm im như chết, chờ đợi động thái tiếp theo của kẻ đột nhập.

Được một lúc, tiếng lạch cạch thận trọng ngưng lại, và tôi nghe thấy căn phòng ở phía Bắc được mở bằng khoá chính và bước vào trong. Thế rồi khoá cửa phòng thông với phòng tôi được nhẹ tay thử mở. Tất nhiên, cái chốt vẫn trụ được, và tôi nghe thấy tiếng sàn nhà kêu cọt kẹt khi kẻ rình rập rời khỏi phòng. Thoáng sau, lại có thêm tiếng lạch cạch khe khẽ khác, và tôi biết đang có người vào căn phòng ở phía Nam của mình. Lại một lần nữa, có người lấm lét thử mở cánh cửa thông bị chốt chặt, và một lần nữa tiếng kẽo kẹt rút lui lại vang lên. Lần này, tiếng ọp ẹp đi dọc theo hành lang và xuống cầu thang, thế nên tôi biết rằng kẻ rình rập đã nhận ra cửa nẻo phòng tôi bị chốt hết và từ bỏ nỗ lực của mình, lâu hay mau thì phải tương lai mới biết.

Tôi lập ra một kế hoạch hành động nhanh chóng tới mức hẳn là tiềm thức tôi đã thầm e sợ mối đe doạ nào đó và cân nhắc các lối thoát tiềm tàng suốt nhiều giờ liền. Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy rằng cái kẻ mò mẫm vô hình kia là một mối nguy hiểm mình không thể đương đầu hay giải quyết nổi, mà chỉ còn nước bỏ trốn càng nhanh càng tốt. Điều cần làm là toàn mạng ra khỏi cái nhà trọ này nhanh nhất có thể, qua một con đường nào đó không phải là cầu thang trước và sảnh.

Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy và bật đèn pin lên, tôi tìm cách bật bóng đèn bên giường để chọn lọc một số đồ đạc bỏ vào túi, sẵn sàng cho chuyến đào tẩu nhanh chóng, không có vali. Tuy nhiên, không có gì xảy ra cả; và tôi nhận ra điện đã bị cắt. Rõ ràng đang có một mưu mô khó hiểu, tà ác với quy mô lớn nào đó diễn ra cụ thể là gì thì tôi không thể xác định được. Trong khi đứng suy nghĩ với tay đặt nguyên trên cái công tắc giờ đã trở thành vô dụng, tôi nghe thấy tiếng cót két nghèn nghẹt trên sàn nhà dưới tầng, và nghĩ rằng mình có thể loáng thoáng nhận ra giọng người đang trò chuyện.

Một chốc sau, tôi không còn chắc chắn những âm thanh trầm hơn là giọng nói nữa, vì cái âm thanh nghe như tiếng sủa khàn khàn và những tiếng ộp oạp trệu trạo nghe gần như chẳng giống gì với bất cứ thứ tiếng nào của con người mà tôi nhận ra được cả. Thế rồi tôi sực nghĩ đến những gì mà thanh tra nhà máy đã nghe thấy trong đêm lưu lại toà nhà đổ nát và độc hại này.

Sau khi đã nhét đây túi với sự trợ giúp của cây đèn pin, tôi đội mũ và nhón chân ra cửa sổ để xem xét liệu có leo xuống được không. Bất chấp các quy định an toàn của nhà nước, không có lối thoát hiểm ở mạn bên này của nhà trọ, và tôi thấy rằng các cửa sổ của mình chỉ dẫn ra một cú rơi ba tầng thẳng đứng xuống nền sân rải sỏi. Tuy nhiên, ở bên phải và bên trái là mấy dãy nhà thương buôn xây bằng gạch cổ tiếp giáp với nhà trọ; mái nhà nghiêng của chúng dâng lên cách tầng thứ tư chỗ tôi một khoảng vừa đủ để nhảy sang. Để nhảy ra được một trong hai dãy nhà này, tôi sẽ phải ở trong một căn phòng cách phòng mình hai lần cửa – ở phía Bắc hoặc ở phía Nam – và tâm trí tôi ngay lập tức bắt tay vào tính toán xem khả năng mình chuyển phòng được là như thế nào.

Tôi quyết định rằng mình không thể đánh liều bước ra ngoài hành lang; nơi tiếng bước chân của tôi chắc chắn sẽ bị nghe thấy, và tại đó công cuộc bước vào căn phòng mong muốn sẽ gặp phải nhiều chướng ngại không thể vượt qua. Nếu có muốn đi đâu thì tôi sẽ phải sử dụng các cửa liên thông không được kiên cố bằng trong các phòng; tôi sẽ phải thô bạo thúc tung khoá và then cài, sử dụng vai như một cây đòn phá thành trước bất cứ cánh cửa nào ngăn cản mình.

Tôi thầm nghĩ với bản chất ọp ẹp của toà nhà cũng như đồ đạc trong này, đây sẽ là một điều khả thi; nhưng tôi nhận ra mình không thể thực hiện việc đó một cách im ắng. Tôi sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ, và cơ may đến được cửa sổ trước khi phe địch phối hợp để mở cánh cửa bên phải tôi bằng chìa khoá chính. Tôi gia cố cửa ngoài của phòng mình bằng cách đẩy cái tủ com mốt vào chặn lại – từng chút một, để hạn chế tối thiểu âm thanh.

Tôi nhận thấy cơ hội của mình rất mong manh, và hoàn toàn sẵn sàng đương đầu với bất kì thảm hoạ nào có thể xảy ra. Ngay cả việc nhảy sang một mái nhà khác cũng sẽ không giải quyết được vấn đề, vì sau đó sẽ vẫn còn nhiệm vụ làm sao để xuống được đến mặt đất và trốn thoát khỏi thị trấn. May cho tôi là các toà nhà giáp ranh đều hoang vắng và đổ nát, và có hàng đống giếng trời mở toang hoác đen sì ở mỗi dãy.

Sau khi nhận thấy con đường tốt nhất ra khỏi thị trấn là về phía Nam nhờ tấm bản đồ của cậu thanh niên bán tạp hoá, tôi đầu tiên liếc nhìn cánh cửa thông nối ở phía Nam căn phòng. Nó được thiết kế để mở về hướng của tôi, thế nên tôi nhận ra rằng – sau khi rút chốt và thấy còn có một số cơ chế khoá khác nữa – nó không phải là một cánh cửa dễ thúc. Sau khi không chọn nó làm tuyến đường đào tẩu nữa, tôi thận trọng dịch giường để chắn nó lại, nhằm cản trở mọi nỗ lực tấn công nó từ phòng bên cạnh về sau này.

Cánh cửa ở phía Bắc được lắp theo kiểu mở về hướng ngược tôi, và tôi biết đây sẽ phải là tuyến đường của mình mặc dù khi kiểm tra thử thì thấy nó bị khoá hoặc chốt từ phía bên kia. Nếu tôi có thể lên được mái của các toà nhà ở phố Paine và đáp xuống mặt đất thành công, có lẽ tôi có thể phóng qua sân trong và toà nhà liền kề hoặc đối diện với Washington hoặc Bates – hoặc không thì chui ra ở Paine và đi vòng theo phía Nam để vào Washington. Dù gì thì gì, mục tiêu của tôi cũng sẽ là bằng cách nào đó vào Washington và nhanh chóng rời khỏi khu vực quảng trường. Tôi muốn tránh Paine, vì có khả năng trạm cứu hoả hoạt động cả đêm.

Vừa nghĩ về những điều này, tôi vừa nhìn ra cái đại dương dơ bẩn của những mái nhà hoang phế bên dưới mình, hiện đang được soi tỏ bởi những tia sáng của một vầng trăng chưa quá kì trăng tròn là bao. Ở bên phải, cái vết rạch đen của hẻm sông chẻ đôi toàn cảnh; các nhà máy bỏ hoang và nhà ga đường sắt bám vào hai bên của nó chẳng khác nào hàu. Phía đằng sau, tuyến đường sắt gỉ sét và đường Rowley dẫn qua một vùng địa hình đầm lây bằng phẳng, rải rác những đảo đất nhỏ phủ đầy bụi cây, cao và khô ráo hơn. Ở bên trái, vùng nông thôn với con sông chảy xuyên nằm ở gần hơn, con đường hẹp dẫn đến Ipswich lấp lánh trắng dưới ánh trăng. Từ mạn nhà trọ, tôi không thể nhìn thấy con đường phía Nam dẫn tới Arkham mà tôi đã quyết định chọn.

Đang lúc lưỡng lự suy đoán xem mình có nên tấn công cánh cửa phía Bắc không, và làm thế nào để có thể hành động được một cách yên ắng nhất có thể thì tôi để ý thấy rằng những tiếng động mơ hồ phía dưới đã nhường chỗ cho một tràng những tiếng kẽo cà kẽo kẹt mới và nặng nề hơn trên cầu thang. Một ánh sáng chập chờn chiếu qua xà ngang cửa phòng tôi, và những tấm ván trên hành lang bắt đầu rên rỉ với một tải trọng đáng kể. Những âm thanh nghèn nghẹt có thể là giọng người đến gần, và một lúc sau, tiếng gõ mạnh mẽ vang lên ở cửa ngoài của tôi.

Trong một khoảnh khắc, tôi chỉ đơn thuần nín thở và chờ đợi. Cảm giác như thể bao thiên thu trôi qua, và cái mùi tanh phát mửa trong môi trường tự nhiên nồng nặc gấp bội. Thế rồi tiếng gõ cửa được lặp lại – liên tục, và ngày càng dai dẳng. Tôi biết rằng đã đến lúc hành động, và ngay lập tức rút chốt cửa thông về phía Bắc, chuẩn bị tinh thần thúc mở nó. Tiếng gõ cửa vang lên to hơn, và tôi hi vọng rằng âm lượng của nó sẽ át đi tiếng hành động của tôi. Tôi cuối cùng cũng bắt đầu hành động, liên tục thúc vào tấm ván mỏng bằng vai trái, không buồn để tâm đến cú sốc hay đau đớn. Cánh cửa trụ vững thậm chí còn hơn mức kì vọng của tôi, nhưng tôi không đầu hàng. Và trong khi ấy, tiếng huyên náo ở cửa ngoài càng thêm ồn ã.

Cuối cùng cánh cửa thông cũng mở ra, nhưng với một tiếng rắc lớn đến độ tôi biết những kẻ bên ngoài hẳn đã nghe thấy nó. Tiếng gõ bên ngoài ngay lập tức trở thành một tràng đập dữ dội, trong khi tiếng chìa khoá rùng rợn vang lên trong ổ khóa cửa hành lang của các phòng ở cả hai bên tôi. Xộc qua lối thông mới mở, tôi xoay xở chốt được cửa hành lang phía Bắc trước khi khoá có thể bị vặn mở; nhưng ngay trong lúc làm vậy, tôi nghe thấy tiếng cửa hành lang của phòng thứ ba – căn phòng tôi từng hi vọng sẽ dùng được cửa sổ của nó để nhảy qua mái nhà bên dưới bị thử mở bởi chìa khoá chính.

Trong thoáng chốc, tôi cảm thấy tuyệt vọng tột cùng, vì tôi xem chừng đã bị nhốt hẳn trong một căn phòng không có cửa sổ thoát ra ngoài. Một cơn hãi hùng gần bất thường xâm chiếm lấy tôi, đồng thời mang lại cho dấu tay bụi bặm mà tôi liếc thấy khi được ngọn đèn pin soi tỏ một nét kì dị khủng khiếp nhưng không thể giải thích được. Dấu tay được kẻ đột nhập để lại, sau khi hắn đã thử mở cửa phòng tôi từ căn phòng này. Thế rồi, với sự tự động đờ đẫn vẫn ngoan cố tồn tại bất chấp tình cảnh vô vọng, tôi xông đến chỗ cánh cửa thông tiếp theo và mù quáng làm động tác đẩy nó nhằm lao qua và – nếu khoá của nó vẫn may mắn còn nguyên vẹn như trong căn phòng thứ hai này – khoá cánh cửa hành lang bên kia trước khi nó có thể bị vặn mở từ phía ngoài.

Hoàn toàn nhờ may mắn mà tôi mới thoát được khỏi vòng nguy hiểm – bởi vì cánh cửa thông trước mặt tôi không những không bị khoá mà còn được để mở hé. Chỉ sau một giây, tôi đã chui lọt qua, và tì đầu gối cùng vai phải của mình vào một cánh cửa hành lang rõ ràng đang được mở vào bên trong. Sức đẩy của tôi có vẻ đã khiến kẻ mở cửa bất ngờ, vì nó đóng sầm lại khi bị tôi đẩy, cho phép tôi cài cái chốt trong tình trạng hãy còn tử tế vào như mình đã làm với cánh cửa kia. Vừa lúc kiếm được chút ngơi nghỉ, tôi nghe thấy tiếng đập trên hai cánh cửa kia lắng đi, trong khi một tràng những tiếng lạch cạch hỗn độn phát ra từ cánh cửa thông đã bị tôi lấy giường chặn lại.

Rõ ràng là phần lớn những kẻ tấn công của tôi đã vào trong căn phòng phía Nam và đang tập trung lại, chuẩn bị thực hiện một cuộc tấn công từ cửa bên. Nhưng cùng lúc đó, tiếng chiếc chìa khoá chính vang lên ở cánh cửa phòng bên phía mạn Bắc, và tôi biết rằng mối nguy hiểm cận kề hơn đang sắp đến. Cánh cửa thông phía Bắc đang mở toang hoang, nhưng không có thời gian để suy nghĩ về việc kiểm tra cái ổ khoá bấy giờ đang xoay trong hành lang nữa. Tất cả những gì tôi có thể làm là đóng và chốt cánh cửa thông đang để mở, cũng như cánh cửa ở phía đối diện của nó – đẩy giường chặn một cửa lại và tủ chặn cửa kia, đồng thời đẩy cái bồn rửa ra trước cửa hành lang.

Tôi nhận thấy mình buộc phải tin tưởng rằng những rào cản tạm thời ấy sẽ có thể bảo vệ mình cho đến khi tôi trèo ra được khỏi cửa sổ và leo lên trên nóc dãy nhà phố Paine. Nhưng ngay cả trong thời khắc cấp bách này, điều khiến tôi cảm thấy sợ hãi nhất lại không phải là sự yếu kém trước mắt của hàng phòng ngự mình lập ra. Tôi run lẩy bẩy bởi vì không ai trong số những kẻ đuổi theo mình phát ra một thanh giọng nghe không nghèn nghẹt hoặc có thể hiểu được, bất chấp thinh thoảng lại có những tiếng thở phì phò, gám ghè và quát tháo khẽ đáy gớm guốc vang lên.

Trong khi di chuyển đồ đạc và lao về phía cửa sổ, tôi nghe thấy một tiếng di chuyển đáng sợ, chạy dọc theo hành lang về phía căn phòng phía Bắc của tôi, và thấy rằng tiếng đập phía Nam đã ngưng lại. Rõ ràng là hầu hết các địch thủ của tôi sắp tập trung tấn công cánh cửa thông yếu ớt mà chúng biết chắc chắn sẽ dẫn thẳng đến chỗ tôi. Bên ngoài, mặt trăng soi sáng nóc của dãy nhà bên dưới, và tôi thấy rằng với nơi hạ cánh dốc thế kia, cú nhảy của tôi sẽ cực kì nguy hiếm.

Sau khi săm soi các điều kiện, tôi chọn cửa sổ lệch về phía Nam hơn làm lối thoát; lên kế hoạch đáp xuống chái dốc bên trong của mái nhà và phóng về phía giếng trời gần nhất. Một khi đã vào được đến bên trong toà nhà gạch hư nát, tôi sẽ phải tính đến chuyện ứng phó với việc bị theo đuổi; nhưng tôi hi vọng sẽ leo được xuống và chạy dích dắc qua những khung cửa mở toang dọc theo khoảng sân bị bóng tối bao phủ, cuối cùng là ra được phố Washington và trốn khỏi thị trấn về phía Nam.

Tiếng lạch cà lạch cạch ở cánh cửa thông phía Bắc giờ nghe thật khủng khiếp, và tôi thấy rằng tấm ván yếu đang bắt đầu vỡ vụn. Hiển nhiên những kẻ bao vây đã mang vật nặng gì đó đến để dùng làm cây đòn. Tuy nhiên, chiếc giường vẫn trụ vững; thế nên tôi ít nhất cũng có một cơ hội mong manh để trốn thoát. Khi mở cửa số ra, tôi nhận thấy rằng bao quanh hai bên cửa là những tấm màn nhung nặng, treo trên một cây cột bằng những chiếc vòng đồng, và còn có cả cái móc lớn thò ra để đóng cửa chớp ở bên ngoài.

Nhận ra đây là một phương án có thể giúp mình tránh phải thực hiện một cú nhảy nguy hiểm, tôi giật mạnh rèm treo và kéo hết chúng xuống, cả cột lẫn mọi thứ; sau đó nhanh chóng móc hai vòng tròn vào trong móc cửa và quăng tấm màn treo ra bên ngoài. Tăm màn nặng chạm hẳn đến mái nhà giáp ranh, và tôi thấy mấy chiếc vòng và cái móc nhiều khả năng sẽ chịu được trọng lượng của mình. Thế là sau khi trèo ra khỏi cửa sổ và leo dọc cái thang dây tự chế, tôi mãi mãi bỏ lại đằng sau toà nhà bệnh hoạn và đầy rẫy kinh hoàng là Nhà trọ Gilman.

Tôi an toàn đáp xuống những tấm ngói lỏng lẻo của mái nhà dốc, và xoay xở đến được cái giếng trời hếch hoác đen ngòm mà không bị trượt chân. Khi liếc lên ô cửa sổ mình vừa rời đi, tôi thấy nó vẫn tối om, mặc dù xa bên kia những ống khói đổ nát ở phía Bắc, tôi có thể thấy ánh đèn độc địa đang rực soi ở Hội trường Hội Dagon, nhà thờ Báp-tít, cùng nhà thờ Công giáo mà tôi đến rùng cả mình khi nhớ lại. Xem chừng không có ai trong khu sân bên dưới, và tôi hi vọng sẽ có cơ hội thoát đi trước khi chúng đánh động khắp nơi. Lúc chiếu ngọn đèn pin bỏ túi vào trong cái giếng trời, tôi thấy rằng không có bậc thang nào dẫn xuống hết. Tuy nhiên, khoảng cách chẳng đáng kể mấy, thế nên tôi leo qua mép và nhảy xuống, tiếp đất trên sàn nhà đầy bụi bặm rải rác vô số hộp và thùng đổ nát.

Nơi này trông thật ghê tởm, nhưng tôi không còn để tâm đến những ấn tượng như vậy nữa và ngay lập tức lao về phía cây cầu thang được ngọn đèn pin của mình soi rọi – sau khi liếc vội vào đồng hồ, bấy giờ đang chỉ hai giờ sáng. Các bậc thang kêu kẽo kẹt, nhưng có vẻ khá chắc chắn; và tôi phi qua một tầng lầu trông như chuồng trại để xuống đến tầng trệt. Mọi thứ hiu quạnh tột cùng, và đáp lại những bước chân của tôi chỉ có tiếng vọng âm. Lát sau, tôi xuống đến sảnh dưới, và thấy ở một đầu của nó là hình chữ nhật sáng lờ mờ, đánh dấu ô cửa điêu tàn dẫn ra phố Paine. Đi về hướng ngược lại, tôi thấy cửa sau cũng mở. Tôi lao ra ngoài, leo hết năm bậc đá và xuống những phiến đá cuội mọc đầy cỏ trong sân.

Ánh trăng không chiếu xuống đến đây, nhưng tôi vẫn có thể lờ mờ thấy đường về mà không cần dùng đèn pin. Một số cửa số bên hông Nhà trọ Gilman đang toả sáng mờ nhạt, và tôi nghĩ rằng mình nghe thấy những âm thanh hỗn loạn bên trong. Tôi nhẹ nhàng tiến về phía phố Washington và thấy có một vài ô cửa mở, chọn cửa gắn nhất làm đường thoát ra. Hành lang bên trong đen như hũ nút, và khi ra đến đầu bên kia, tôi thấy cửa dẫn ra phố đã bị nêm chặt. Quyết tâm thử một toà nhà khác, tôi lần mò tiến về phía sân trong, nhưng dừng lại khi đến gần ngưỡng cửa.

Nguyên nhân là bởi một đám đông đầy những dáng hình đáng ngờ hiện đang túa ra từ một cánh cửa để mở tại Nhà trọ Gilman – đèn lồng lắc lư trong bóng tối, cùng những giọng nói ồm ộp kinh khủng khẽ réo nhau bằng một thứ tiếng chắc chắn không phải là tiếng Anh. Các bóng hình di chuyển loạng choạng, và tôi nhẹ nhõm nhận ra rằng chúng không biết tôi đã đi đâu; nhưng dẫu vậy, chúng vẫn khiến cơn run lẩy bẩy vì hãi hùng truyền dọc cơ thể tôi.

Không tài nào nhìn ra nổi các nét mặt của chúng, nhưng cái dáng đi lúi húi, lóng ngóng trông kinh tởm phi thường. Và điều tệ nhất là tôi nhận thấy có một kẻ ăn mặc theo kiểu quái đản, và trông rõ là có đội chiếc vương miện cao với thiết kế quen thuộc vô cùng. Trong lúc các hình hài dàn ra khắp sân, tôi cảm thấy nỗi sợ hãi của mình tăng lên. Lỡ tôi không thể tìm nổi lối thoát ra khỏi toà nhà này và dẫn vào phố thì sao?

Cái mùi tanh tưởi thật gớm ghiếc, và tôi chẳng hiểu liệu mình có thể chịu đựng được mà không lăn đùng ra ngất hay không. Tôi lại lần nữa mò mẫm tìm đường ra phố, một cánh cửa bên hông hành lang và bước vào một căn phòng trống không với cửa sổ bị đóng kín nhưng không có khung. Lọ mọ trong ánh sáng của cây đèn pin, tôi phát hiện ra rằng mình có thể mở được cửa chớp; và chỉ một thoáng sau tôi đã leo ra bên ngoài, cần thận đóng cửa lại như cũ.

Tôi giờ đã ở trên phố Washington, và hiện không thấy bất kì sinh vật hay nguồn sáng nào ngoài ánh trăng. Tuy nhiên, từ một số hướng ở xa, tôi có thể nghe được những giọng nói khàn khàn, tiếng bước chân, và tiếng bành bạch lạ lùng không giống tiếng bước chân mấy. Rõ ràng là tôi không thể lãng phí thời gian được. Tôi xác định được rất rõ tứ phương tám hướng, và lấy làm mừng là toàn bộ đèn đường đều đã bị tắt, đúng như cái lệ ở các vùng nông thôn nghèo trong những đêm trăng sáng. Một số âm thanh vọng đến từ phía Nam, ấy nhưng tôi vẫn giữ nguyên ý định bỏ trốn theo hướng đó. Tôi biết sẽ có rất nhiều ô cửa hoang vắng để mình nấp vào nếu đụng trúng bất kì kẻ hay nhóm nào trông như thể đang truy đuổi mình.

Tôi rảo bước thật nhanh, khẽ khàng, và bám sát những ngôi nhà đổ nát. Mặc dù đầu trần và bơ phờ sau chuyến leo nặng nhọc, tôi trông không đến nỗi quá đáng chú ý; và khả năng cao sẽ được phớt lờ nếu buộc phải giáp mặt bất kì người đi đường thông thường nào. Tại phố Bates, tôi rút vào một tiền sảnh mở toang hoang trong khi hai hình hài liêu xiêu đi qua trước mặt, nhưng chẳng bao lâu sau tôi đã lại đi tiếp và đến gần khu đất quang nơi phố Eliot xiên ngang qua Washington ở ngã tư phố South.

Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy nơi này, tôi đã thấy đây là nơi nguy hiểm trên bản đồ của cậu thanh niên; bởi ánh trăng sẽ tha hồ chiếu rọi xuống đó. Né tránh cũng chỉ vô dụng, vì bất kì tuyến đường nào khác cũng sẽ buộc tôi phải đi lòng vòng và có thể bị lộ diện cũng như trì hoãn đẩy tai hại. Điều duy nhất tôi còn có thể làm là mạnh dạn và công khai băng qua nó; bắt chước giống nhất có thể cái dáng lóng nga lóng ngóng điển hình của đám dân Innsmouth, và tin tưởng rằng sẽ không có ai – hay ít nhất là không kẻ nào đang đuổi theo tôi – sẽ có ở đó.

Tôi không tài nào đoán nổi cuộc truy đuổi được tổ chức quy củ nhường nào – hay thậm chí mục đích của nó có thể là gì. Thị trấn xem chừng nhộn nhạo bất thường, nhưng tôi nghĩ rằng tin tức về việc tôi đã trốn khỏi Gilman vẫn chưa loan đi khắp nơi. Tất nhiên, tôi sẽ sớm phải chuyến từ Washington sang một đường phố phía Nam khác; vì đám người từ khách sạn kia chắc chắn sẽ đuổi theo tôi.

Tôi hẳn đã để lại những dấu chân bụi bặm trong toà nhà cũ cuối cùng, cho thấy tôi đã ra ngoài phố như thế nào. Đúng như tôi dự đoán, khoảng trống bị ánh trăng rọi sáng trưng; và tôi nhìn thấy ở giữa nó là tàn dư của một không gian xanh nhìn như công viên, với lan can sắt. May mắn thay, không có ai ở quanh đấy, mặc dù dường như có một tiếng vo vo hay gầm gừ lạ thường gì đó đang càng lúc càng ồn ã vọng lại từ hướng quảng trường trung tâm. Phố South rất rộng, dẫn thẳng xuống một con dốc thoải chạy ra sát biển và có cả một đoạn dài nhìn ra biển; và tôi hi vọng sẽ không ai liếc lên nhìn nó từ xa trong lúc tôi đang đi dưới ánh trăng sáng.

Hành trình của tôi không bị ngăn trở gì, và không có âm thanh mới nào vang lên để cho thấy tôi đã bị phát hiện. Tôi đánh mắt liếc nhìn xung quanh, vô tình khiến tốc độ di chuyển của mình chững lại trong giây lát để ngắm cảnh biển, lộng lẫy dưới ánh trăng nóng bỏng ở cuối con đường. Ở tít đằng sau đê chắn sóng là cái đường lằn mập mờ, tăm tối của Rạn Quỷ, và trong khi nhìn ngắm nó, tôi không thể không nghĩ về tất cả những truyền thuyết ghê tởm mình đã được nghe kể trong hai mươi tư tiếng vừa qua – những truyền thuyết miêu tả khối đá gồ ghề kia như một cửa ngõ thực sự, dẫn vào các miền kinh hoàng khôn lường và bất thường ngoài sức tưởng tượng.

Thế rồi tôi bất thình lình trông thấy những chớp sáng nhấp nháy từng hồi trên rạn san hô xa. Chúng xuất hiện vô cùng rõ ràng và không thể lẫn đi đâu được, khơi dậy trong tâm trí tôi một nỗi kinh hoàng mù quáng với tầm vóc phi lí tột cùng. Cơ bắp của tôi gồng căng lên, sẵn sàng cuống cuồng bỏ chạy. Thứ duy nhất kìm hãm điều ấy là sự thận trọng phần nào vô thức cùng với niềm ham thích như thôi miên. Và tệ hơn nữa, vụt loé lên từ đỉnh vòm cao ngất của Nhà trọ Gilman, nằm lù lù ở mạn Đông Bắc phía sau tôi, là một loạt các chớp sáng tương tự dù giãn cách theo kiểu khác, chắc chắn chỉ có thể là tín hiệu trả lời.

Sau khi kiểm soát cơ bắp của mình, đồng thời lại nhận ra bản thân đang lộ liễu đến nhường nào, tôi tiếp tục rảo chân bước theo cái kiểu lóng ngóng giả đò; mặc dù vẫn không ngừng để mắt quan sát rạn san hô ghê tởm và đáng sợ chừng nào đoạn đường quang của phố South vẫn cho phép tôi nhìn ra biển. Tôi không thể hình dung nổi ý nghĩa của toàn bộ quy trình đó là gì; trừ khi nó dính dáng đến các nghi lễ kì lạ có liên quan tới Rạn Quỷ, hoặc một nhóm nào đó đã từ thuyền đặt chân lên khối đá nham hiểm kia. Tôi giờ rẽ sang bên trái, đi vòng quanh khu màu xanh hoang tàn; vẫn nhìn về phía đại dương trong khi nó lóng lánh dưới ánh trăng hè ma mị, và theo dõi những chớp sáng khó hiểu của những ngọn đèn hiệu vô danh, bí hiểm.

Đúng lúc ấy, một ấn tượng kinh khủng chưa từng thấy giáng xuống đầu tôi. Nó phá tan chút tự chủ cuối cùng còn sót lại trong tôi và khiến tôi cắm đầu cắm cổ chạy như điên qua những khung cửa toang hoác đen ngòm và các ô cửa sổ như mắt cá dõi ra trên con phố ác mộng vắng vẻ đó. Nguyên nhân là bởi khi quan sát kĩ hơn, tôi thấy rằng làn nước dưới ánh trăng giữa rạn san hô và bờ biển chẳng hề trống không chút nào. Nó nhung nhúc một bè lũ dáng hình bơi vào trong đất liền, về phía thị trấn; và ngay cả ở khoảng cách xa xôi cũng như chỉ thoáng thấy trong khoảnh khắc, tôi vẫn có thể nhận ra những cái đầu bập bênh và các cánh tay vung vẩy mang bản chất dị hợm và lệch lạc khó lòng mô tả hay diễn đạt nổi bằng một cách có ý thức.

Màn chạy trốn điên cuồng của tôi chấm dứt trước khi tôi đi hết một dãy nhà, vì ở bên trái, tôi bắt đầu nghe thấy thứ gì đó như tiếng hò la và gào thét của một cuộc săn đuổi có tổ chức. Có tiếng bước chân và những âm thanh lào khào trong họng, và tiếng xe lạch cạch vọng đến từ phía Nam, dọc theo phố Federal. Chỉ trong tích tắc, tất cả các kế hoạch của tôi thay đổi hoàn toàn – vì nếu đường cao tốc về phía Nam trước mặt tôi bị chặn, tôi rõ ràng sẽ phải tìm một lối khác để thoát khỏi Innsmouth. Tôi dừng lại và rút vào một ô cửa mở, suy nghĩ về việc mình đã may mắn nhường nào khi rời được khỏi cái khu trống trải dưới ánh trăng trước khi những kẻ truy đuổi kia từ con phố song song đến.

Một suy nghĩ thứ hai không được khuây khoả bằng. Vì chúng truy đuổi dọc theo một con phố khác, rõ ràng là nhóm đó không bám thẳng theo tôi. Chúng không nhìn thấy tôi, mà chỉ đang đơn thuần triển khai một kế hoạch chung chung nhằm chặn đứng đường thoát của tôi. Tuy nhiên, điều này ám chỉ rằng tất cả các con đường dẫn ra khỏi Innsmouth đều đang bị tuần tra như thế; bởi không thể có chuyện đám dân ở đây biết tôi định đi đường nào. Nếu quả đúng là như vậy, tôi sẽ phải băng qua miền đông quê, tránh xa mọi con đường để đào tẩu; nhưng sao mà tôi làm vậy được khi tất cả các vùng xung quanh toàn đầm lầy và lạch nước? Não tôi thoáng quay cuồng – cả vì tuyệt vọng lẫn vì cái mùi tanh ở khắp nơi đều nhanh chóng càng lúc càng nồng nặc.

Thế rồi tôi nghĩ đến tuyến đường sắt bỏ hoang dẫn ra Rowley, nơi dải đất rắn chắc được rải đá, mọc đầy cỏ dại vẫn còn trải dài từ nhà ga đổ nát nằm bên rìa của hẻm sông về phía Tây Bắc. Có khả năng đám dân thị trấn sẽ không lường đến nó; vì tình trạng bị bỏ hoang, đặc nghẹt thạch nam làm cho nó gần như không thể sử dụng được, và là tuyến đường khó có thể được một kẻ đào tẩu chọn lựa nhất. Tôi đã nhìn thấy nó rõ ràng từ cửa sổ nhà trọ, và biết nó được xây như thế nào. Hầu hết đoạn đầu lộ liễu đến ghê người nếu nhìn từ con đường dẫn đi Rowley, và từ những nơi cao trong thị trấn; nhưng vẫn có thể kín đáo bò qua các bụi cây. Dù gì thì gì, nó cũng sẽ là cơ hội giải thoát duy nhất của tôi, và chẳng còn nước nào khác ngoài làm thử.

Tôi rút sâu vào bên trong nơi trú ẩn hoang vắng của mình, một lần nữa tham khảo tấm bản đồ với sự trợ giúp của đèn pin. Vấn đề trước mắt là làm thế nào để đến được tuyến đường sắt cổ xưa đấy. Tôi thấy rằng con đường an toàn nhất sẽ là tiến thẳng đến phố Babson, sau đó đi về phía Tây đến Lafayette - đi vòng quanh một vùng không gian mở tương tự nơi tôi ban nãy đã đi chứ không đi cắt qua nó rồi sau đó quay về hướng Bắc và hướng Tây theo tuyến đường ngoằn ngoèo đâm xuyên qua các phố Lafayette, Bates, Adams, và Bank – với con phố cuối men sát hẻm sông – để đến nhà ga bỏ hoang và đổ nát tôi đã thấy từ cửa số phòng mình. Lí do tôi đi thẳng ra Babson là vì không muốn quay trở lại không gian trống trải ban nãy hay bắt đầu hành trình đi về phía Tây của mình dọc theo một con đường rộng như South.

Tôi khởi hành lần nữa, băng qua đường sang phía bên tay phải để lỉnh vòng vào Babson kín đáo nhất có thể. Tiếng ồn vẫn tiếp tục vang lên ở phố Federal, và khi liếc nhìn phía sau, tôi cứ ngỡ đã thấy một tia sáng gần toà nhà mình vừa thoát ra. Vì nôn nóng muốn rời khỏi phố Washington, tôi bắt đầu lặng lẽ chạy, mong trời run rủi không cho mình đụng phải bất kì con mắt quan sát nào. Ngay góc đường của phố Babson, tôi giật mình thấy rằng một trong những ngôi nhà vẫn còn có người ở, như tấm rèm treo cửa ở cửa số đã chứng minh; nhưng bên trong không có ánh đèn, và tôi băng qua nó mà không gặp phải thảm hoạ gì.

Ở phố Babson, nơi cắt ngang Federal và do đó có thể làm tôi bị những kẻ tìm kiếm trông thấy, tôi bám sát những toà nhà oằn lún, cập kênh hết mức có thể; hai lần dừng lại ở một ô cửa khi những tiếng ồn phía sau thoáng tăng lên. Không gian mở phía trước trông rộng thênh thang và đầy hoang vắng dưới ánh trăng, nhưng tuyến đường của mình sẽ không buộc tôi phải băng qua nó. Trong lần dừng chân thứ hai, tôi bắt đầu nghe thấy một tràng những âm thanh mơ hồ mới xuất hiện; và khi thận trọng ló mắt nhìn ra từ nơi ẩn nấp, tôi thấy một chiếc xe phóng qua không gian mở, hướng ra ngoài thị trấn dọc theo phố Eliot, nơi giao với cả Babson lẫn Lafayette.

Trong lúc quan sát – phát nghẹn vì mùi tanh đột ngột nồng hẳn lên sau khi vừa giảm đi một hồi – tôi thấy một nhóm hình hài vụng về, lui cui nhảy cóc và lê bước đưa chân theo cùng hướng ấy; và biết rằng đây hẳn phải là toán bảo vệ con đường dẫn đi Ipswich, vì tuyến đường cao tốc đó là phần nối dài của phố Eliot. Trong số những hình hài tôi trông thấy, có hai kẻ mặc áo choàng lùng nhùng, và một kẻ đội chiếc vương miện có chóp nhọn lấp lánh trắng dưới ánh trăng. Dáng đi của tên này kì lạ đến nỗi khiến một cơn ớn lạnh lan toả khắp người tôi – vì theo tôi thấy thì sinh vật này cứ như đang nhảy chồm chồm.

Khi kẻ cuối cùng trong cái đám ấy đã đi khuất mắt, tôi lại tiếp tục hành trình của mình; phóng vòng quanh góc đường để vào trong phố Lafayette, và vội vã băng qua Eliot đề phòng trường hợp có kẻ nào rơi rớt đằng sau nhóm vẫn đang tiến dọc con đường đó. Tôi nghe thấy một số tiếng ồm ộp và lạch cạch ở tít phía quảng trường, nhưng vẫn qua được con phố mà không gặp phải thảm hoạ nào.

Nỗi sợ hãi lớn nhất của tôi là lại phải băng qua phố South rộng lớn và ngập tràn ánh trăng – nơi có thể nhìn hướng ra biển – và tôi phải lên dây cót tinh thần trước khi lao đầu vào thử thách này. Rất dễ có khả năng kẻ nào đó sẽ theo dõi, và có thể đám tụt lại đằng sau trên phố Eliot kiểu gì cũng nhìn thấy tôi từ một trong hai điểm này. Vào phút chót, tôi quyết định rằng tốt nhất mình nên đi chậm lại và băng qua đường như trước, với cái dáng đi lóng nga lóng ngóng của một tay Innsmouth bản địa bình thường.

Khi khung cảnh bể nước lại một lần nữa xuất hiện lần này ở bên phải mình – tôi gần như quyết tâm sẽ không nhìn vào nó. Tuy nhiên, tôi không thể cưỡng lại nổi; và tôi đánh mắt liếc sang ngang trong khi cẩn thận bắt chước cái dáng lóng ngóng tiếng về phía những bóng tối bao bọc phía trước. Không thấy bóng dáng tàu bè gì cả, dù tôi phần nào kì vọng chúng sẽ xuất hiện. Thay vào đó, thứ đầu tiên đập vào mắt tôi là một chiếc xuồng nhỏ tiến về phía cầu tàu bỏ hoang và chở theo một vật cồng kềnh, bị phủ kín bạt.

Đám người chèo nó sở hữu diện mạo cực kì kinh tởm, mặc dù hãy còn đang ở phía xa và trông chẳng rõ mặt mũi gì hết. Vẫn còn thấy rõ được có mấy tên đang bơi; trong khi ở rạn san hô đen ngoài xa, tôi có thể thấy một quầng sáng mờ nhạt, đều đều, không như ngọn đèn hiệu nhấp nháy từng xuất hiện khi trước, và mang một sắc màu kì lạ mà tôi chẳng tài nào xác định cụ thể được. Vươn mình lù lù phía trên những mái nhà nghiêng đằng trước và bên phải là khung vòm cao của Nhà trọ Gilman, nhưng nó tối đen hoàn toàn. Cái mùi cá tanh tưởi ban nãy vừa được một làn gió nhân từ xua đi trong giây lát giờ lại ập đến, nồng nặc đến phát rồ phát dại.

Chưa kịp băng qua đường xong thì tôi nghe thấy một đám người lẩm bẩm tiến dọc Washington từ phía Bắc. Khi chúng ra đến vùng không gian rộng mở nơi tôi lần đầu đến sởn gai ốc khi nhìn thấy làn nước sáng ánh trăng, tôi có thể trông thấy chúng rất rõ, cách đó chỉ một dãy nhà – và phát khiếp trước nét dị thường như thú vật trên khuôn mặt chúng cùng cái dáng đi gù phi nhân loại, chẳng khác nào chó của chúng. Một kẻ di chuyển theo kiểu cực kì giống khỉ, với cánh tay dài thường xuyên chạm đất; trong khi một nhân vật khác – mặc áo choàng và đội vương miện – thì dường như lại có kiểu tiến lên gần như nhảy cóc. Tôi đoán đám này chính là cái đoàn tôi đã thấy trong sân của Gilman – tức là đám theo sát dấu tôi nhất.

Khi một số kẻ quay sang nhìn theo hướng của tôi, tôi như chết đứng vì sợ hãi, ấy nhưng vẫn cố giữ được cái dáng đi bình thản, lóng ngóng mình đang giả bộ. Cho đến tận ngày hôm nay, tôi cũng chẳng biết liệu chúng có nhìn thấy mình hay không. Nếu có, mưu mô của tôi hẳn đã qua mắt được chúng, bởi vì chúng băng qua vùng không gian dưới ánh trăng mà không hề thay đổi lộ trình – vừa đi vừa ộp oạp kêu và lảm nhảm thứ thổ ngữ lào khào đáng ghét nào đó mà tôi không thể xác định nổi.

Sau khi đã một lần nữa vào lại trong bóng tối, tôi tiếp tục rảo bước như ban nãy, đi ngang qua những ngôi nhà xiêu vẹo và đổ nát, đờ đẫn nhìn chằm chằm vào màn đêm. Một khi đã băng qua vỉa hè phía Tây, tôi vòng qua góc đường gần nhất để vào phố Bates, nép sát các toà nhà ở phía Nam mà đi. Tôi đi ngang hai ngôi nhà có dấu hiệu đang có người ở, với một nhà có ánh sáng mờ nhạt toả ra từ các phòng trên tầng, nhưng không gặp phải trở ngại nào. Lúc đi vào phố Adams, tôi cảm thấy an toàn hơn nhiều, nhưng bị sốc mạnh khi có một tay lao ra khỏi ô cửa màu đen ngay trước mặt. Tuy nhiên, hắn quá say xỉn để có khả năng gây hiểm hoạ cho tôi; thế nên tôi đến được khu tàn tích thê lương của các kho hàng trên phố Bank một cách an toàn.

Trên con phố tiêu điều bên cạnh hẻm sông ấy chẳng có lấy một bóng người, và tiếng thác chảy ầm ầm nhấn chìm hẳn tiếng bước chân tôi. Chặng đường đến nhà ga đổ nát khá dài, và không hiểu sao, những bức tường nhà kho lớn bằng gạch khắp xung quanh tôi trông còn đáng sợ hơn mặt tiền của những ngôi nhà riêng. Cuối cùng tôi cũng thấy nhà ga mái vòm cổ – hay những gì còn sót lại của nó và tiến thẳng đến chỗ những đường ray dẫn ra từ phía đầu bên kia của nó.

Các đường ray đã bị hoen gỉ nhưng chủ yếu vẫn còn nguyên vẹn, và số lượng tà vẹt đã bị mục nát lên đến không quá nửa. Đi hay chạy trên một bề mặt như vậy rất khó khăn; nhưng tôi cố hết sức, và nhìn tổng thể thì tiến độ đi không đến nỗi nào. Tuyến đường men theo mép hẻm sông một đoạn, nhưng một lúc sau, tôi ra đến chỗ cây cầu có mái che dài bắc ngang qua vực tại một độ cao chóng mặt. Tình trạng của cây cầu này sẽ quyết định bước tiếp theo của tôi. Nếu có thể, tôi sẽ sử dụng nó; bằng không, tôi sẽ phải mạo hiểm đi lang thang thêm trên phố và băng qua cây cầu đường cao tốc còn lành lặn gần nhất.

Đoạn cầu cũ dài khổng lồ, rộng ngang nhà kho, lấp lánh đầy ma quái dưới ánh trăng. Tôi thấy rằng các tà vẹt sẽ đủ an toàn để đi sâu vào trong cầu ít nhất một vài mét. Lúc bước vào, tôi bắt đầu sử dụng cây đèn pin của mình, và suýt nữa thì bị đám mây dơi bay qua chỗ mình thúc ngã. Đi được khoảng nửa đường thì có một khoảng hồng nguy hiểm giữa các tà vẹt, khiến tôi thoáng e ngại rằng sẽ gây trở ngại cho mình; nhưng cuối cùng, tôi đánh liêu thực hiện một cú nhảy tuyệt vọng và nhờ may mắn mà đã thành công.

Tôi lấy làm mừng khi lại được nhìn thấy ánh trăng lúc chui ra khỏi đường hầm rùng rợn đó. Tuyến đường sắt cũ dẫn dốc vào phố River, và ngay lập tức rẽ vào một khu vực càng lúc càng đậm chất thôn quê, với mùi tanh ghê tởm của Innsmouth ngày một loãng dân. Ở đây, những mảng cỏ dại dày đặc và mâm xôi cản trở tôi và tàn nhẫn xé toạc quần áo của tôi, nhưng tôi vẫn mừng là chúng có ở đó để giúp mình ẩn nấp trong trường hợp nguy hiểm xuất hiện. Tôi biết rằng phần lớn tuyến đường của mình chắc chắn sẽ có thể quan sát được từ đường đến Rowley.

Chẳng bao lâu sau, vùng đầm lầy bắt đầu xuất hiện, với duy nhất tuyến đường nằm trên một bờ kè thấp, đầy cỏ, nơi cỏ dại mọc phần nào thưa thớt hơn. Sau đó thì tôi đến một kiểu đảo đất cao hơn, nơi đường ray băng qua một nhánh đường nông, đặc nghẹt những bụi cây và đá cuội. Tôi rất vui sướng trước cái chốn nấp nửa vời này, vì ở vị trí hiện tại, đường đi Rowley gần đến đáng ngại theo như những gì tôi nhìn thấy. Ở đoạn cuối nhánh đường, nó sẽ băng qua đường ray và rẽ sang một khoảng cách an toàn hơn; nhưng trong khi ấy tôi sẽ phải hết sức cẩn thận. Tính đến giờ, tôi vui mừng tin chắc rằng tuyến đường sắt không bị tuần tra.

Ngay trước khi bước vào nhánh đường, tôi liếc nhìn ra sau lưng, nhưng không thấy ai đuổi theo hết. Những ngọn tháp và mái nhà cổ của Innsmouth thối nát lấp lánh đây đáng yêu và thanh khiết dưới ánh trăng vàng kì diệu; tôi nghĩ về diện mạo thời xưa chúng, trong những tháng ngày bóng tối chưa bao trùm. Thế rồi, khi ánh mắt của tôi liếc từ thị trấn vào sâu trong đất liền, một thứ kém thanh bình hơn thu hút sự chú ý của tôi và khiến tôi bất động trong tích tắc.

Thứ tôi nhìn thấy – hay nghĩ rằng mình đã nhìn thấy là một dáng chuyển động nhấp nhô nào đó ở tít phía Nam, trông rất đáng lo ngại. Nó khiến cho tôi nhận định rằng một đám đông rất lớn hẳn đang tuôn ra khỏi thị trấn, dọc theo con đường bằng phẳng dẫn về Ipswich. Khoảng cách rất xa xôi, và tôi không thể nhìn thấy được gì chi tiết cả; nhưng tôi không thích cái khung cảnh hàng người đang chuyển động kia chút nào. Nó trồi lên thụp xuống quá nhiều, và lấp lánh quá rực rỡ dưới những tia sáng của vầng trăng nay đã bắt đầu lặn về phía Tây.

Cũng có chút âm thanh vọng đến nữa, mặc dù gió đang thổi theo hướng khác – nghe như tiếng cạo kèn kẹt và gầm rống của thú vật, thậm chí còn tệ hơn cả tiếng lẩm bẩm của mấy đám người tôi đã nghe thấy gần đây. Đủ kiểu phỏng đoán không mấy dễ chịu xuất hiện trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ về những tên Innsmouth biến dạng tột cùng, theo lời đồn thì được ẩn giấu trong những hang động đổ nát, xưa cũ gần bờ biển. Tôi cũng nghĩ về những người bơi vô danh mà mình từng trông thấy. Nếu tính các đoàn tôi đã nhìn thấy cho đến nay, cũng như những kẻ có lẽ đang canh chừng các con đường khác, số lượng người đuổi theo tôi hẳn phải lớn đến kì lạ đối với một thị trấn bị bỏ hoang như Innsmouth.

Dòng người đông đúc như tôi giờ đang trông thấy này có thể đến từ đâu được nhỉ? Phải chăng những hang ổ cổ xưa, chưa được thăm dò kia nhung nhúc sinh vật sống đời lệch lạc, không được liệt kê, và không ai ngờ đến? Hay đã có một con tàu tôi không thấy cho một quân đoàn những kẻ lạ mặt nào đó đổ bộ lên đất liền từ trên cái rạn san hô địa ngục kia? Chúng là ai? Tại sao chúng lại ở đó? Và nếu có nguyên một hàng ngũ những kẻ như thế lùng sục con đường dẫn đến Ipswich, liệu các nhóm tuần tra trên những con đường khác có được củng cố theo kiểu tương tự không?

Lúc tôi đã bước vào nhánh đường đầy bụi rậm và đang trầy trật đưa chân với tốc độ chậm rề rề thì cái mùi tanh khốn kiếp lại dâng lên nồng nặc. Có phải gió đột ngột đổi sang hướng Đông, khiến nó thổi từ biển vào và lướt qua thị trấn không? Tôi kết luận rằng sự tình hẳn phải như vậy, vì bây giờ tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng thì thầm lào khào đến sững sờ vọng lại từ cái hướng vốn im lặng bấy lâu nay. Còn có cả âm thanh khác nữa – một tràng những tiếng bì bọp hay lạch bạch ồn ã, không hiểu sao lại khơi gợi lên những hình ảnh đáng ghê tởm tột cùng. Vô lí thay, nó khiến tôi nghĩ đến cái dòng người nhấp nhô ghê rợn trên con đường dẫn đến Ipswich ở phía đằng xa.

Và rồi cả mùi hôi thối lẫn các tiếng ồn ngày càng gia tăng về cường độ, khiến tôi phải ngừng lại, rùng mình, và thầm thấy biết ơn vì đã được nhánh đường bảo vệ. Tôi nhớ rằng đây chính là chỗ con đường dẫn đi Rowley men sát hẳn vào với tuyến đường sắt cũ trước khi cắt ngang qua nó về phía Tây và tẽ đi. Một thứ gì đó đang đi dọc con đường này, và tôi phải nắp kín cho tới khi nó đi qua và biến mất ở phía xa.

Ơn trời là lũ này không sử dụng chó để truy lùng - mặc dù có lẽ điều đó sẽ là bất khả thi giữa cái mùi đặc trưng tràn ngập khắp nơi này. Tôi cảm thấy khá an toàn khi chui rúc trong các bụi cây của cái khe đầy cát đó, cho dù tôi biết lũ tìm kiếm mình kiểu gì cũng sẽ băng qua con đường trước mặt tôi, cách vị trí tôi đứng không quá một trăm mét. Tôi sẽ có thể nhìn thấy chúng, nhưng chúng thì không thể nhìn thấy tôi, trừ khi một phép lạ ác hiểm nào đó xảy ra.

Bất thình lình, tôi bắt đầu cảm thấy hãi sợ cảnh phải ngắm nhìn chúng khi chúng đi qua. Tôi nhìn thấy khoảnh đất sáng ánh trăng ngay gần, nơi chúng sẽ đi ngang, và trong đầu nảy ra những suy nghĩ lạ thường về sự ô uế vô phương gột rửa của vùng không gian ấy. Có thế chúng sẽ là kiểu dân Innsmouth tồi tệ nhất – cái ngữ không ai muốn nhớ.

Mùi hôi thối trở nên nồng nặc vô cùng, và những tiếng ồn ào dâng lên thành một nùi thanh âm thú vật, đây tiếng ộp oạp, rú rít, và sủa loạn, không mang chút dáng vẻ giọng người gì hết. Đây thực sự là tiếng nói của những kẻ đang đuổi theo tôi ư? Hay là rốt cuộc thì chúng có chó thật? Cho đến nay, tôi chưa thấy bất kì loại vật hạ cấp nào ở Innsmouth. Tiếng bì bọp hay bành bạch ấy thật kinh khủng – tôi không dám quan sát lũ sinh vật suy đồi phát ra nó. Tôi sẽ nhắm chặt mắt cho đến khi mớ thanh âm lùi dần về phía Tây. Giờ đây cái bầy đó đã ở rất gần – bầu không khí nhơ nhuốc cả đi với những tiếng gầm gừ ồm ồm, và mặt đất gần như rung chuyển với những bước chân đưa theo những nhịp quái đản của chúng. Tôi thiếu chút nữa thì nín thở, và dồn toàn bộ sức mạnh ý chí vào việc ghì cho mí mắt của mình nhắm lại.

Tôi thậm chí còn chưa sẵn sàng khẳng định liệu chuyện xảy ra sau đấy là một thực tại gớm guốc hay chỉ là ảo giác ác mộng. Về sau, căn cứ vào động thái của chính phủ khi tôi khẩn thiết van lơn thì có vẻ nó quả là một sự thật dị hợm; nhưng chẳng lẽ một ảo giác lại không thể được tái hiện dưới câu thần chú gần như thôi miên của cái thị trấn cổ xưa, ma quái, và chìm trong bóng tối đó ư? Những nơi như vậy sở hữu nhiều đặc tính khác lạ, và di sản mà truyền thuyết điên rồ để lại có thể đã tác động đến trí tưởng tượng của không chỉ một người giữa những con đường chết chóc, hôi thối và các mái nhà mục ruỗng cũng như các tháp chuông đổ nát.

Biết đâu thực sự có mầm mống của một sự điên rồ truyền nhiễm lẩn khuất sâu thẳm bên trong cái thứ bóng tối trùm trên Innsmouth kia? Ai có thể chắc chắn về thực tại nổi sau khi được nghe những thứ như câu chuyện của lão Zadok Allen chứ? Người của chính phủ không bao giờ tìm thấy lão Zadok tội nghiệp, và không đưa ra được phỏng đoán gì về số phận của lão. Đâu là nơi sự điên rồ chấm dứt và thực tại bắt đầu? Có khi nào ngay cả nỗi sợ hãi mới nhất của tôi là ảo tưởng thuần tuý hay không?

Nhưng tôi phải cố gắng thuật lại những gì tôi nghĩ rằng mình đã nhìn thấy dưới vầng trăng vàng đầy móc mỉa trong đêm hôm đó – thứ tôi đã nhìn thấy nhảy lên nhảy xuống trên con đường dẫn đến Rowley, lồ lộ ngay trước mặt trong lúc tôi chúi người dưới những lùm cây dại của nhánh đường sắt hoang vắng đó. Tất nhiên, quyết tâm nhắm mắt của tôi thất bại hoàn toàn. Số trời đã định sẵn là việc ấy sẽ thất bại – vì nào ai có thể mù quáng thu mình trong khi một quân đoàn những thực thể ộp oạp, rú rít không rõ từ đâu đến ồn ào lạch bạch băng qua, cách mình đâu tấm mỗi trăm mét?

Tôi cứ ngỡ rằng bản thân đã sẵn sàng tinh thần chứng kiến điều tồi tệ nhất, và thật tình mà nói, với những gì đã thấy trước đó thì tôi đáng lẽ phải sẵn sàng rồi. Những kẻ truy đuổi tôi đều dị hợm ghê tởm – thế nên hà cớ gì tôi lại có thể không sẵn sàng đối mặt với việc yếu tố quái đản sẽ tăng cường; sẵn sàng nhìn ngắm những hình hài không mang chút nét bình thường nào? Tôi không mở mắt cho đến khi tràng tiếng ồn ầm ĩ vang lên từ một điểm nằm rõ ràng ngay trước mặt. Thế rồi tôi biết rằng một phần dài của cái đoàn ấy hẳn phải đang hiện lù lù trước mắt, nơi hai bên nhánh đường bẹt ra và con đường băng qua đường ray – và tôi không còn có thể ngăn mình quan sát thử nỗi kinh hoàng mà vầng trăng vàng hiểm độc có để soi tỏ.

Hành động ấy đã khiến cho tôi không còn lưu giữ nổi sự bình an tâm trí cũng như niềm tin vào sự toàn vẹn của Thiên Nhiên và tâm trí con người trong suốt toàn bộ phần đời còn sót lại trên dương gian của mình nữa, bất kể nó có kéo dài bao lâu. Không thứ gì tôi có thể tưởng tượng ra thậm chí là không điều gì tôi có thể suy đoán nói ngay cả nếu có hiểu câu chuyện điên rồ của lão Zadok theo nghĩa đen hoàn toàn – lại đủ sức so sánh nổi với cái thực tại ma quái, báng bổ thánh thần mà tôi đã nhìn thấy – hay tin là tôi đã nhìn thấy. Tôi đã cố gắng ám chỉ về bản chất của nó nhằm trì hoãn một công việc đầy hãi hùng, ấy chính là viết hẳn nó ra. Chẳng lẽ hành tinh này thực sự sản sinh ra những thứ như vậy; chẳng lẽ mắt người đã thực sự nhìn thấy dưới dạng xác thịt cụ thể thứ cho đến nay chỉ được con người biết đến trong ảo mộng của một khối óc kích động và truyền thuyết viển vông ư?

Ấy nhưng tôi đã thấy cả một dòng bất tận những tạo vật như thế – bước bì bọp, nhảy cóc, kêu ồm ộp, be be quái thai tràn đến dưới ánh trăng ma mị trong một vũ điệu dị hợm, ác hiểm của cơn ác mộng kì quái. Và mấy kẻ trong số chúng đội những chiếc vương miện cao làm từ thứ kim loại trắng vàng vô danh kia... một số mặc đồ theo kiểu lạ lùng... tên dẫn đường mặc áo khoác đen gù lên đầy ghê rợn cùng quần sọc, chiếc mũ phớt đội trên một thứ không hình không dạng thế chỗ cái đầu...

Tôi nghĩ màu chủ đạo của chúng là xanh xám, mặc dù chúng có bụng màu trắng. Chúng chủ yếu bóng loáng và trơn nhẫy, nhưng những lằn gợn trên lưng chúng có vảy. Dáng hình của chúng hao hao giống người, trong khi đầu chúng lại là đầu cá, với đôi mắt lồi tướng không bao giờ nhắm. Hai bên cổ là những cái mang phập phồng, và bàn tay dài thì có màng. Chúng nhảy theo một kiểu thất thường, đôi khi trên hai chân và đôi khi lại bằng cả tứ chi. Chẳng hiểu sao tôi lấy làm vui mừng vì chúng có không quá bốn chi. Cái giọng ồm ộp, rít rống mà rõ ràng chúng dùng để giao tiếp mạch lạc với nhau chứa đựng mọi sắc thái biểu cảm tăm tối mà khuôn mặt nhìn chòng chọc của chúng không thể hiện được.

Nhưng bất chấp sự quái dị, chúng không xa lạ với tôi. Tôi biết quá rõ chúng là gì – vì không phải là kí ức về chiếc vương miện tà ác ở Newburyport vẫn còn tươi mới trong tôi đó sao? Chúng chính là những con cá ếch báng bổ trong cái mẫu thiết kế không tên ấy – sống nhăn và đây kinh khủng – khi tôi nhìn thấy chúng, tôi cũng biết luôn gã linh mục gù, đội vương miện trong tầng hầm đen ngòm của nhà thờ đã gợi cho mình nhớ lại điều ghê rợn gì. Số lượng của chúng không thể áng chừng nổi. Như tôi thấy thì chúng có hàng bầy bất tận – và chắc chắn cái nhìn thoáng qua của tôi chỉ có thể cho tôi thấy một phần rất nhỏ. Chỉ tích tắc sau, mọi thứ bị xoá nhoà bởi một cơn ngất xỉu đầy nhân từ; cơn ngất xỉu nhân từ đầu tiên tôi từng được trải nghiệm.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.