Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- I -
Khối Đất Sét Kinh Hoàng

❊ ❊ ❊

TÔI TIN ĐIỀU NHÂN TỪ NHẤT TRẦN ĐỜI LÀ VIỆC TÂM trí con người vô phương xâu chuỗi nổi tất cả những gì thế giới chứa đựng lại với nhau. Chúng ta sống trên một hòn đảo vô minh đầy tĩnh lặng giữa những đại dương vô tận đen ngòm, và dong buồm ra ngoài khơi xa không phải là định mệnh của ta. Khoa học cho đến nay chưa gây tổn hại gì mấy cho ta, vì mỗi ngành đều gồng mình phát triển theo hướng riêng rẽ. Nhưng một ngày nào đó, khi các tri thức rời rạc được tích hợp lại với nhau, những khung cảnh đẩy hãi hùng của thực tại cũng như vị thế sởn gai ốc của chúng ta trong thực tại ấy sẽ được hé lộ, và ta hoặc sẽ hoá điên trước phát hiện của mình, hoặc là chạy trốn khỏi cái quầng sáng chết chóc kia để chui tọt vào trong cái miền thanh bình và an toàn của một thời kì đen tối mới.

Giới thần trí học đã đưa ra các phỏng đoán về sự kì vĩ phi thường của vòng chu kì vũ trụ, và trong đó thì thể giới của chúng ta cũng như loài người chỉ là những đốm phù du. Họ ám chỉ đến những tồn tại dị thường đến độ cần phải đắp thêm cho nó một lớp mã lạc quan đầy tính xoa dịu thì máu con người ta mới không trở nên buốt lạnh.

Nhưng họ không phải là người đã giúp tôi mơ hồ ý thức được về những niên kỉ cấm đoán ấy, một ý niệm mà chỉ nghĩ về nó thôi đã làm tôi thấy ớn lạnh, và nếu lỡ mơ đến nó thì tôi sẽ phát cuồng lên mất. Giống như mọi ý niệm đáng sợ khác về sự thật, ý niệm kia vụt xuất hiện sau khi tôi tình cờ chắp nối được một số dữ kiện tách biệt với nhau – trong trường hợp này là một bài báo cũ và các ghi chép của một ông giáo sư quá cố.

Tôi hi vọng rằng sẽ không ai khác chắp nối được như tôi; chắc chắn một điều là chừng nào còn sống trên đời, tôi sẽ không bao giờ tiết lộ ra mắt xích nào trong chuỗi liên kết gớm guốc nhường ấy một cách có chủ đích cả. Tôi nghĩ rằng vị giáo sư cũng có ý định giữ im lặng về những gì mình biết, và ông đáng lẽ đã tiêu huỷ những ghi chú của mình nếu như không đột ngột qua đời.

Tôi bắt đầu biết về chuyện ấy vào mùa đông cuối năm 1926 đầu năm 1927, với cái chết của ông chú tôi – George Gammell Angell, Giáo sư danh dự về ngôn ngữ Semit tại Đại học Brown (Providence, Rhode Island). Giáo sư Angell trứ danh là một chuyên gia trong lĩnh vực văn khắc cổ, và thường xuyên được giám đốc các bảo tàng nổi tiếng tham vấn. Chính thế nên nhiều người vẫn nhớ sự kiện ông qua đời ở tuổi chín mươi hai.

Dân tình địa phương thậm chí còn quan tâm hơn đến vụ việc bởi nguyên nhân tử vong đầy bí hiểm của ông. Giáo sư quỵ xuống trong khi đang trở về từ thuyền Newport. Các nhân chứng cho biết ông đột nhiên ngã lăn ra sau khi bị thúc trúng. Người thúc là một gã da đen, trông có vẻ giống dân thuỷ thủ, bước ra từ một trong những con hẻm tối tăm kì dị trên khu sườn đồi dốc, lối tắt dẫn từ cửa biển đến nhà của người quá cố tại phố Williams.

Các bác sĩ không thể phát hiện ra bất cứ chứng bệnh cụ thể nào, và sau một hồi ngẩn ngơ tranh luận, họ kết luận rằng nguyên nhân cái chết là một thương tật hiếm gặp nào đó về tim mạch, phát tác bởi ông cụ đã có tuổi mà lại leo đồi dốc quá nhanh. Lúc bấy giờ, tôi chẳng thấy có lí do gì để bất đồng với kết luận này, nhưng dạo gần đây tôi lại hay hồ nghi – và còn hơn cả hồ nghi nữa.

Bởi lẽ ông chú tôi goá vợ và không có con cái, nên tôi trở thành người thừa kế kiêm người thi hành di chúc của ông ấy. Tôi có nghĩa vụ xem xét kĩ các giấy tờ của ông; và để phục vụ mục đích ấy, tôi đã chuyển toàn bộ giấy tờ và thùng hộp của ông đến nhà riêng của mình ở Boston.

Phần lớn chỗ tài liệu mà tôi nhắc đến sau này sẽ được Hiệp hội Khảo cổ Hoa Kỳ (A. A. S.) xuất bản, nhưng có một cái hộp mà tôi thấy khó hiểu vô cùng, và tôi cảm thấy rất không muốn trưng ra cho người khác xem. Cái hộp ấy bị khoá, và tôi chẳng mò thấy chìa khoá đâu cho đến khi nảy ra ý tưởng kiểm tra chiếc nhẫn mà giáo sư luôn mang theo trong túi.

Sau đó thì đúng là tôi đã mở được cái hộp, nhưng xem chừng lúc làm được vậy, tôi lại phải đối mặt với một rào cản thậm chí còn lớn hơn và bị khoá kĩ càng hơn. Ý nghĩa của bức phù điêu đất sét quái đản và những mẫu ghi chú, các đoạn lảm nhảm dông dài, cùng mấy bài báo rời rạc được cắt ra mà tôi tìm thấy này đây có thể là gì được cơ chứ?

Phải chăng trong những năm cuối đời, ông chú tôi đã cả tin tới mức bị cho vào tròng với ngay cả những trò lừa gạt giản đơn nhất? Tôi quyết tâm tìm bằng ra nhà điêu khắc lập dị xem chừng đã khiến một ông già không còn thanh thản được nữa.

Bức phù điêu là một hình chữ nhật thô, dày chưa đến ba phân và diện tích khoảng mười hai nhân mười lăm phân; rõ ràng có nguồn gốc hiện đại. Tuy nhiên, nếu xét về mặt ấn tượng mang lại cũng như những gì bức phù điêu khơi gợi lên, thiết kế của nó không hề hiện đại chút nào.

Vì mặc dù trường phái lập thể và vị lai không thiếu gì những ý tưởng quái chiêu, chúng chẳng mấy khi tạo ra được cái nét quy củ đầy bí hiểm vốn hay lẩn khuất trong các văn kiện tiền sử. Và chắc chắn một điều là thiết kế của bức phù điêu xem chừng cấu thành chủ yếu từ một loại chữ viết nào đấy; dẫu tôi không tài nào nhận diện nổi kiểu chữ này, hay thậm chí là nhớ được láng máng nó liên quan đến hệ chữ nào, bất chấp việc tôi biết rất rõ các tư liệu cũng như bộ sưu tập của ông chú mình.

Trên những kí tự hiển nhiên là chữ tượng hình này có một hình hài gì đấy, trông rõ ràng là tranh miêu tả, chỉ có điều lại bị khắc theo trường phái ấn tượng, khiến ta khó lòng xác định được rõ bản chất của nó. Đây dường như là một thứ quái vật, hoặc biểu tượng đại diện cho một con quái vật, với hình dạng mà chỉ một khối óc bệnh hoạn mới có thể hình dung ra nổi.

Kể cả nếu nói rằng trí tưởng tượng phần nào phong phú của tôi đã đồng thời khơi lên hình ảnh về một con bạch tuộc, một con rồng, và một phiên bản biếm hoạ của con người, tôi cũng sẽ vẫn mô tả khá chuẩn bản chất của cái hình hài kia. Đặt trên tấm thân dị hợm, phủ đầy vảy với cặp cánh giản đơn là một cái đầu đầy thịt mềm, thòi lòi xúc tu; nhưng chính cái nét diện mạo chung của cả khối tổng thể mới là thứ khiến cho nó trở nên đáng sợ đến sững sờ. Đằng sau cái hình hài ấy là một phông nền hơi mang phong cách kiến trúc đá hộc.

Ngoài một chồng các bài báo được cắt ra, đi kèm với cái vật kì quặc này còn là những văn bản được viết bằng nét chữ gần đây nhất của Giáo sư Angell; và không lấy làm văn vẻ cho lắm. Thứ xem chừng là tài liệu chính có nhan đề “GIÁO PHÁI CTHULHU”, được tỉ mỉ ghi bằng chữ in hoa để khỏi đọc sai một từ lạ lẫm đến như vậy. Bản thảo này được chia thành hai phần, phần đầu tiên có nhan đề “1925 – Mơ và các tạo tác trong mơ của H. A. Wilcox, số 7 phố Thomas, Providence, RI.”, phần thứ hai là “Câu chuyện của Thanh tra John R. Legrasse, số 121 phố Bienville, New Orleans, La. (1), tại buổi họp mặt A. A. S. năm 1908 – Ghi chú về cùng đề tài ấy, & câu chuyện của GS Webb”.

Các tài liệu, bản thảo khác đều là những ghi chú ngắn, một số thuật lại các giấc mơ kì quặc của những người khác nhau, một số trích dẫn từ các sách và tạp chí thần học (trong đấy đáng chú ý nhất là cuốn Atlantis và lục địa Lemuria thất lạc của W. Scott-Elliot), và còn lại là bình luận về những hiệp hội bí mật cùng giáo phái ngầm đã tồn tại lâu đời, đồng thời nhắc đến các đoạn trích trong những cuốn sách căn bản về thần thoại và nhân học như Cành vàng của Frazer (2) và Phù thuỷ giáo ở Tây Âu của cô Murray (3). Những bài báo được cắt ra chủ yếu nhắc đến các ca bệnh tâm thần bất thường và những vụ bùng phát cơn điên hoặc cuồng loạn tập thể vào mùa xuân năm 1925.

(1) Tên viết tắt của bang Louisiana thuộc Mỹ.

(2) James George Frazer (1854 - 1941): Nhà nhân học xã hội và nghiên cứu dân gian người Scotland. Ông có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn đầu của các nghiên cứu hiện đại về thần thoại và tôn giáo so sánh. Tác phẩm của ông được nhắc đến trong truyện có tên gốc là The Golden Bough.

(3) Margaret Murray (1863-1963): Nhà nhân chủng học, sử học và văn học dân gian người Anh-Ấn. Bà là người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm giảng viên khảo cổ học tại Vương quốc Anh. Tác phẩm của bà được nhắc đến trong truyện có tên gốc là The Witch-Cult in Western Europe.

Nửa đầu của bản thảo chính thuật lại một câu chuyện rất kì dị. Vào hôm mùng 1 tháng Ba, 1925, một thanh niên gầy gò, da ngăm, trong tâm trạng loạn thần và kích động đã ghé thăm Giáo sư Angell, mang theo bức phù điêu bằng đất sét lạ thường kia, lúc bấy giờ hãy còn rất ẩm và mới. Danh thiếp của anh ta đề tên Henry Anthony Wilcox, và ông chú tôi đã nhận ra anh ta là con trai út của một gia đình danh giá mà mình từng nghe qua, dạo gần đây anh ta theo học điêu khắc tại Trường Thiết kế Rhode Island và sống một mình tại toà nhà Fleur-de-Lys gần trường.

Wilcox từ sớm đã trứ danh là một thanh niên thiên tài nhưng hết sức lập dị, và ngay khi còn nhỏ đã thu hút sự chú ý của dư luận với những câu chuyện kì lạ và các giấc mơ khác thường mà anh ta hay kể lại. Wilcox tự xưng là “nhạy về tâm linh”, nhưng những cư dân tỉnh táo của thành phố buôn bán sầm uất cổ kính ấy chỉ đơn thuần coi anh ta là người “kì dị”.

Vì anh ta gần như chẳng bao giờ giao du với người khác, công chúng đã dần lãng quên nhân vật ấy, và giờ thì chỉ còn một nhóm nhỏ dân nghệ sĩ từ các thành phố khác biết đến anh ta. Ngay cả Câu lạc bộ Nghệ thuật Providence cũng thấy Wilcox là một trường hợp vô vọng, mặc dù bản thân câu lạc bộ cũng rất kín tiếng.

Bản thảo của giáo sư ghi rằng trong lần ghé thăm ấy, nhà điêu khắc đã đột ngột muốn cậy nhờ vào kiến thức khảo cổ của vị gia chủ để xác định danh tính những chữ tượng hình trên bức phù điêu. Wilcox nói với một phong thái mơ màng, khoa trương, gây cảm giác con người này đang làm điệu làm bộ đây màu mè, khó có cảm tình nổi.

Và ông chú tôi trả lời với giọng điệu có phần gay gắt, vì trông bức phù điêu rõ ràng còn mới như thế thì chắc chắn nó hoàn toàn chẳng liên quan gì đến khảo cổ học hết. Anh chàng Wilcox trẻ tuổi đưa ra lời đáp khiến cho ông chú tôi ấn tượng đến mức ông đã hồi tưởng và chép lại nguyên văn câu ấy. Nó vô cùng văn vẻ, và hẳn là toàn bộ cuộc trò chuyện của anh ta đều mang phong thái như vậy, về sau tôi thấy đây là một nét rất đặc trưng của anh ta.

Wilcox nói: “Cái này đúng là mới thật, vì tôi vừa chế ra nó đêm qua sau khi mơ về những thành phố xa lạ. Và các giấc mơ thì vốn dĩ còn cổ xưa hơn cả thành phố Týros (1) trầm tư mặc tưởng, pho tượng Nhân Sư chìm trong suy ngẫm, hay Babylon với vườn tược bao quanh.”

(1) Một trong những đô thị tồn tại sớm nhất của người Phoenicia, từ khoảng 2000 năm TCN.

Sau đó, anh ta bắt đầu kể lại câu chuyện lảm nhảm từng bất chợt nảy sinh từ một kí ức mơ màng và đã hớp hồn ông chú của tôi. Có một trận động đất nhẹ vào đêm hôm trước, vụ lớn nhất người dân New England từng trải nghiệm trong vòng mấy năm qua; và nó đã tác động mạnh đến đầu óc Wilcox. Sau khi đi ngủ, anh ta đã có một giấc mơ vô tiền khoáng hậu.

Anh ta mơ thấy các thành phố xây từ đá hộc khổng lồ và các công trình đá nguyên khối cao chọc trời, tất cả đều nhỏ tong tỏng thứ dịch màu xanh lục và tiềm ẩn một nỗi kinh hoàng đằng đằng sát khí. Chữ tượng hình phủ kín trên các bức tường và cột trụ, vọng lên từ một điểm bất định nào đó bên dưới là một cái giọng nhưng đồng thời cũng không phải là giọng nói. Nó là một cảm giác rất hỗn loạn mà chỉ có óc tưởng tượng mới phiên dịch nổi thành âm thanh, nhưng vẫn được Wilcox cố gắng diễn tả lại bằng một mở từ bòng bong, gần như vô phương phát âm: Cthulhu fhtagn.

Chỗ lời rối rắm này chính là yếu tố then chốt đã khiến Giáo sư Angell trở nên đầy phấn khích và lo lắng trong bản hồi ức này. Ông hỏi han nhà điêu khắc kia hết sức tỉ mẩn, hệt như đang thực hiện một nghiên cứu khoa học. Ông cũng săm soi như phát cuồng bức phù điêu, thứ đã được chàng thanh niên kia hì hục khắc trong tình trạng toàn thân buốt lạnh và chỉ mặc độc bộ quần áo ngủ trên người, sau khi đã hoang mang bừng tỉnh.

Theo lời Wilcox sau này thuật lại, ông chú tôi nói tuổi tác đã khiến cho ông mãi mới nhận ra được cả những chữ tượng hình lẫn dạng hình kia. Ông đưa ra nhiều câu hỏi mà như người khách kia thấy thì hết sức lạc đề, đặc biệt là những câu mang hàm ý muốn nói anh ta có dây mơ rễ với các giáo phái hay tổ chức kì lạ.

Wilcox không tài nào hiểu nổi việc ông cứ hứa lên hứa xuống với anh ta là mình sẽ giữ im lặng, đổi lại là xin anh ta hãy cho mình được trở thành thành viên của một tổ chức tôn giáo thần bí hay tà đạo lớn mạnh nào đó. Khi Giáo sư Angell tin rằng anh chàng nghệ sĩ điêu khắc quả thực chẳng hay biết gì về bất kì giáo phái hay bộ truyền thuyết bí hiểm nào, ông nằng nặc yêu cầu vị khách của mình nếu trong tương lai mà có mơ thấy gì thì hãy báo hết lại.

Yêu cầu này thường xuyên cho ra kết quả, vì sau cuộc trò chuyện đầu tiên kia, chàng trai trẻ ghé nhà ông hằng ngày, và bản thảo có ghi lại hết. Mỗi lần đến, anh ta đều thuật lại những hình ảnh vụn vỡ đáng giật mình từng xuất hiện giữa lúc đêm hôm, và nội dung của chúng luôn là một khung cảnh khủng khiếp, cấu thành từ đá hộc khổng lồ, với các tảng đá đen nhỏ dịch tong tỏng, một cái giọng hay thực thể có tri giác nào đó ngầm dưới lòng đất cứ đều đều hô vang những lời lẽ nện thẳng vào ý thức đầy bí hiểm, chỉ có thể được diễn tả lại bằng các câu chữ vô nghĩa. Hai âm thanh thường xuyên lặp lại nhất được thể hiện bằng mớ chữ CthulhuR'lyeh.

Bản thảo kể tiếp rằng vào ngày 23 tháng Ba, Wilcox không xuất hiện. Sau khi ông chú tôi dò hỏi tại nơi ở của anh ta thì hoá ra chàng trai ấy đã mắc phải một chứng sốt khó hiểu, và được đưa về nhà của gia đình mình ở phố Waterman. Anh ta gào lên giữa đêm, dựng dậy mấy nghệ sĩ khác trong toà nhà, và kể từ đó đến nay thì cứ hết bất tỉnh rồi lại lên cơn mê sảng.

Ông chú tôi ngay lập tức gọi điện cho gia đình anh ta, và từ đó trở đi theo dõi tình hình vụ việc rất sát sao; thường xuyên ghé qua văn phòng trên phố Thayer của bác sĩ Tobey, người chịu trách nhiệm chạy chữa cho Wilcox. Khối óc sốt hừng hực của chàng trai kia xem chừng cứ toàn nghĩ về những điều kì lạ; và cứ thỉnh thoảng thì bác sĩ lại bị một phen rùng mình khi anh ta nhắc đến chúng.

Wilcox không chỉ lặp lại những gì hồi trước mình từng mơ thấy, mà còn cuồng loạn nhắc đến một thứ không lồ “cao hàng mét”, đi lại hay lầm lũi lê chân khắp nơi. Anh ta không lần nào mô tả đầy đủ về vật này, nhưng căn cứ vào những lời lẽ hoảng loạn anh ta thốt ra mà bác sĩ Tobey đã lặp lại, giáo sư tin chắc nó chính là cái thứ quái thai vô danh mà anh ta đã cố gắng khắc hoạ thông qua bức phù điêu tả cảnh mơ của mình.

Bác sĩ nói thêm rằng bao giờ cũng vậy, sau khi nhắc đến vật kia xong là chàng thanh niên lại chìm vào hôn mê. Lạ lùng thay, nhiệt độ của anh ta không cao hơn mức bình thường là bao; nhưng xét trên mọi phương diện khác, chứng bệnh của anh ta nhìn chung giống với sốt thực sự hơn là rối loạn tâm thần.

Vào ngày mùng 2 tháng Tư, khoảng ba giờ chiều, mọi vết tích của căn bệnh Wilcox nhiễm phải đột nhiên biến mất. Anh ta ngồi thẳng trên giường, ngạc nhiên khi thấy mình đang ở nhà và hoàn toàn không hay biết gì về những chuyện đã xảy ra kể từ đêm ngày 22 tháng Ba, dù là trong mơ hay ngoài thực tại. Được bác sĩ chẩn đoán là đã khoẻ mạnh, ba ngày sau Wilcox trở lại căn hộ của mình; nhưng anh ta không còn giúp đỡ được thêm gì cho Giáo sư Angell nữa.

Mọi dấu vết của giấc mơ kì lạ đều đã biến mất cùng với sự hồi phục của Wilcox, và ông chú tôi không còn ghi chép những suy nghĩ lúc đêm hôm của anh ta sau một tuần nhận được toàn những câu chuyện vô nghĩa và không liên quan, xoay quanh những giấc mơ hoàn toàn bình thường.

Phần đầu của bản thảo kết thúc ở đây, nhưng một số các ghi chép tản mát khác được nhắc đến làm tôi phải suy nghĩ rất nhiều – nhiều đến nỗi thứ duy nhất còn khiến cho tôi tiếp tục nghi ngờ anh chàng nghệ sĩ kia chỉ là bản tính hoài nghi thâm căn cố đế, vốn cấu thành triết lí sống của tôi lúc bấy giờ.

Các bản ghi chép ấy mô tả lại giấc mơ của nhiều người khác nhau trong cùng giai đoạn anh chàng Wilcox trẻ tuổi thực hiện những chuyến ghé thăm kì lạ của mình. Có vẻ là ông chú tôi đã nhanh chóng triển khai hàng loạt cuộc điều tra với quy mô rất rộng, liên hệ với gần như tất cả những người bạn ông có thể hỏi han mà không sợ là mình bất lịch sự, nhờ họ thuật lại những giấc mơ của bản thân cùng ngày tháng của bất kì hình ảnh chiêm bao đáng chú ý nào mình từng thấy.

Xem chừng không phải ai cũng sẵn sàng tiếp nhận lời thỉnh cầu của ông; nhưng ít nhất thì ông hẳn cũng đã nhận được nhiều phản hồi đến mức không có thư kí thì không kham nổi. Thư từ gốc không được lưu, nhưng ông đã để lại một bản tóm tắt kĩ lưỡng và thực sự đáng chú ý thông qua các ghi chép của mình.

Những con người bình thường cả trên bình diện địa vị xã hội lẫn công ăn việc làm – các “công dân ưu tú” truyền thống của New England – gần như hoàn toàn không thấy gì hết, mặc dù vẫn có đôi ba trường hợp cảm thấy bất an trong đêm nhưng không có gì cụ thể xuất hiện rải rác, luôn trong khoảng giữa ngày 23 tháng Ba và mùng 2 tháng Tư – giai đoạn anh chàng Wilcox lên cơn mê sảng.

Các nhà khoa học chỉ bị tác động hơn một chút, mặc dù vẫn có bốn trường hợp mô tả lại rất mơ hồ những cảnh quan kì lạ mình láng máng trông thấy, và có một trường hợp còn đề cập đến cảm giác hãi sợ một thứ bất thường nào đó.

Câu trả lời đúng chuẩn nhất đến từ các nghệ sĩ với nhà thơ, và tôi biết rằng kiểu gì hoảng loạn cũng sẽ bùng nổ nếu họ có thể trao đổi đối chiếu thông tin với nhau. Vì không nắm giữ các bức thư gốc của họ, tôi phần nào nghi ngờ người biên soạn đã đưa ra những câu hỏi hòng mang tính dẫn dắt, hoặc chỉnh sửa thư từ sao cho chúng giúp chứng thực điều ông ngầm muốn thấy.

Đó là lí do tôi tiếp tục cảm thấy rằng Wilcox đã bằng cách nào đó biết được về chỗ dữ liệu cũ mà ông chú tôi sở hữu, và đánh lừa nhà khoa học già. Những lời phúc đáp từ giới nghệ sĩ này thuật lại một câu chuyện rất đáng quan ngại. Từ ngày 28 tháng Hai đến mùng 2 tháng Tư, phần đông bọn họ đã mơ thấy những điều rất kì quái, với độ mãnh liệt của những giấc mơ bị nhân lên gấp bội trong giai đoạn nhà điêu khắc trẻ lên cơn mê sảng.

Trong số những người báo lại rằng mình từng mơ thấy gì đó, hơn một phần tư đề cập đến các khung cảnh và những thứ na ná âm thanh tương tự những gì Wilcox từng miêu tả. Và một phần trong số những người mơ thấy thú rằng mình đã kinh qua một nỗi sợ hãi tột cùng trước một tạo vật vô danh khổng lồ, xuất hiện ở cuối giấc mơ.

Có một trường hợp rất đáng buồn đã được bản ghi chú mô tả đặc biệt kĩ lưỡng. Đối tượng của vụ việc, một kiến trúc sư hay tin vào thần học và huyền học nổi tiếng, đã loạn trí điên cuồng vào ngày anh chàng Wilcox trẻ tuổi đổ bệnh, và mấy tháng sau thì qua đời, sau khi không ngừng gào thét cầu xin được cứu rỗi khỏi một sinh vật đã đào thoát khỏi địa ngục nào đó.

Nếu ông chú tôi mà chỉ đích danh các vụ việc ấy ra thay vì chỉ sử dụng số hiệu, tôi đáng lẽ đã thử kiểm định lại và tự mình tiến hành điều tra; nhưng vì sự tình là như vậy, tôi chỉ truy ra được một vài vụ. Tuy nhiên, tất cả những vụ ấy đều góp phần chứng thực cho các ghi chú. Tôi vẫn thường băn khoăn liệu tất cả những người từng được giáo sư hỏi han có đều cảm thấy bối rối như nhóm này hay không. Cũng may là họ sẽ không nhận được lời giải thích nào.

Như tôi đã nói, các bài báo được cắt ra đề cập đến những vụ hoảng loạn, phát cuồng, và kì dị trong giai đoạn ấy. Giáo sư Angell hẳn đã thuê nguyên một đội điểm tin cắt báo, bởi lẽ số lượng tin bài được cắt ra nhiều vô kể và nguồn báo dàn trải khắp toàn cầu. Chẳng hạn có vụ tự tử trong đêm tại London, một người đang ngủ đã nhảy xuống khỏi cửa sổ sau khi rú lên một tiếng đầy sững sờ.

Tương tự là một bức thư lảm nhảm được gửi cho biên tập viên của một tờ báo tại Nam Mỹ, trong đó một gã cuồng tín đã dựa trên những ảo mộng mình trông thấy mà tiên đoán về một tương lai tàn khốc. Một công văn từ California miêu tả một cộng đồng thần học đồng loạt mặc áo choàng trắng để chuẩn bị đón “sự ứng nghiệm vẻ vang” mãi chẳng đến, trong khi các bài báo từ Ấn Độ thận trọng nhắc đến việc dân bản địa có động thái bất ổn nghiêm trọng trong giai đoạn cuối tháng Ba.

Số lượng các cuộc truy hoan tà thuật gia tăng ở Haiti, và các tiền đồn tại châu Phi báo rằng đang xuất hiện những lời rì rầm đáng ngại. Các sĩ quan Mỹ ở Philippines bị một số bộ lạc gây phiền phức trong khoảng giai đoạn này, và cảnh sát New York bị dân cận Đông quá khích vây đánh vào đêm ngày 22 – rạng sáng ngày 23 tháng Ba.

Khu miền Tây Ireland cũng rộ lên đầy những tin đồn và truyền thuyết hoang đường, một hoạ sĩ dị thường tên Ardois-Bonnot đã treo bức tranh Khung cảnh trong mơ đầy báng bổ trong triển lãm xuân tại Paris năm 1926. Và trong nhà thương điên, số lượng những vụ rắc rối xảy ra được ghi chép lại nhiều đến độ chỉ một phép màu mới có thể khiến giới y sĩ không nhận ra nổi những sự tương đồng kì lạ kia và rút ra các kết luận bí ẩn.

Nhìn chung thì đó là một mớ những bài báo kì dị; và lúc này, tôi khó lòng mà mường tượng nổi lí trí của mình từng giúp tôi gạt chúng sang bên một cách sắt đá đến nhường nào. Nhưng lúc bấy giờ, tôi cứ đinh ninh rằng anh chàng Wilcox đã biết về những vụ việc hồi trước mà giáo sư từng nhắc đến.

≿————- ❈ ————-≾

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.