CHỦ ĐỀ NỬA CÒN LẠI TRONG TẬP BẢN THẢO DÀI CỦA ông chú tôi chính là các vụ việc từng xảy ra trước đấy, thứ đã khiến cho giấc mơ cũng như bức phù điêu của anh chàng nghệ sĩ điêu khắc trở nên đáng chú ý đến vậy đối với ông.
Có vẻ Giáo sư Angell đã từng trông thấy dáng hình khủng khiếp của con quái vật vô danh, ngẩn người trước những chữ tượng hình bí ẩn, và nghe thấy những âm tiết rùng rợn mà chỉ có thể được ghi lại dưới dạng “Cthulhu”. Tất cả những điều này đều có chung một mối liên hệ mang tính khích động và kinh hoàng đến nỗi việc ông cứ liên tục hạch hỏi anh chàng Wilcox và đòi anh ta cung cấp dữ liệu chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả.
Vụ việc xảy ra vào năm 1908, mười bảy năm trước đấy, khi Hội Khảo cổ học Hoa Kỳ tổ chức cuộc họp thường niên tại St. Louis. Nhờ uy tín cũng như các thành tích của mình, Giáo sư Angell đóng vai trò quan trọng trong tất cả các cuộc thảo luận; và vì có vài người ngoài ngành đã tranh thủ lúc hội nghị đang tổ chức để nêu câu hỏi với hi vọng sẽ được giải đáp chuẩn xác cũng như đệ trình các vấn để với mong muốn nhận được giải pháp từ các chuyên gia, giáo sư đồng thời còn là một trong những người đầu tiên được họ tham vấn.
Nhân vật nổi trội nhất trong số những người ngoài ngành ấy là một người đàn ông trung niên với diện mạo bình thường, và chẳng bao lâu sau anh ta đã trở thành trọng tâm của toàn bộ cuộc họp. Người này cất công lặn lội từ New Orleans đến nhằm thu thập một số thông tin đặc biệt mà không nguồn nào tại địa phương cung cấp nổi.
Tên anh ta là John Raymond Legrasse, và nghề nghiệp là thanh tra cảnh sát. Anh ta đến đây để hỏi về bức tượng đá mình mang theo – một pho tượng dị hợm, gớm guốc, và có vẻ rất cổ xưa mà anh ta không tài nào xác định nổi nguồn gốc xuất xứ. Chớ lầm tưởng rằng Thanh tra Legrasse quan tâm gì đến khảo cổ học. Ngược lại, anh ta chỉ đơn thuần muốn được khai sáng vì đó là yêu cầu của công việc.
Bức tượng, vật thờ, ái vật, hay bất kể tên nó có là gì, đã bị tịch thu vài tháng trước tại vùng rừng đầm lầy phía Nam New Orleans, khi cảnh sát đột kích một cuộc họp được cho là do một hội phái tà đạo tổ chức. Xoay quanh bức tượng là những nghi thức dị thường và gớm guốc đến nỗi phía cảnh sát nhận thấy ngay rằng họ đã phát hiện ra một giáo phái hắc ám trước nay chưa từng được biết đến, và còn hung hiểm gấp bội phần so với cả những tổ chức tà thuật châu Phi xấu xa nhất.
Ngoài những câu chuyện rời rạc và khó tin moi được từ miệng các thành viên bị bắt thì cảnh sát hoàn toàn không khám phá ra được gì về nguồn gốc của bức tượng. Chính thế nên phía cảnh sát đang rất muốn tìm cho bằng ra một truyền thuyết cổ xưa nào đó có thể giúp họ xác định được danh tính cái biểu tượng đáng sợ kia, và từ đó truy ra ngọn nguồn của cái giáo phái này.
Thanh tra Legrasse chẳng lường nổi vật mình đem đến sẽ gây náo loạn đến nhường nào. Chỉ cần liếc qua nó thôi là hội đồng các nhà khoa học kia đã trở nên kích động vô cùng, và chỉ trong chớp mắt, họ đã túm tụm lại khắp xung quanh anh ta để chiêm ngưỡng cái hình hài nhỏ xíu đó.
Với nét xa lạ cũng như vẻ cổ xưa tột cùng đây chân thực, nó hùng hồn khơi dậy hình ảnh về những khung cảnh xưa cũ chưa ai từng biết đến. Vật thể khủng khiếp này không thuộc bất kì trường phái điêu khắc nào đã được ghi nhận, thế nhưng bề mặt xanh xỉn của khối đá bí hiểm đó lại như hằn ghi cả một quãng thời gian kéo dài bao thế kỉ, hay thậm chí là hàng thiên niên kỉ.
Cuối cùng, bức tượng ấy được các nhà khoa học chuyền tay nhau, hết người này sang người khác, để săm soi thật kĩ lưỡng và tỉ mẩn. Nó cao tầm mười bảy, hai mươi phân, và được chế tác bởi một nghệ nhân với tay nghề tinh xảo vô cùng. Nó khắc hoạ một con quái vật với dáng hình hao hao giống con người, nhưng sở hữu cái đầu trông như bạch tuộc với bản mặt thì là một khối xúc tu, kèm theo cơ thể đầy vảy, nhìn nhừa nhựa, ở cả chân sau và chân trước đều có những móng vuốt khổng lồ, sau lưng là đôi cánh vừa dài vừa hẹp.
Cái thứ này chừng như mang bản chất hiểm độc đáng sợ và dị thường, nhìn cứ ngỡ một cái thây trương phềnh, và ngồi xổm với phong thái đầy gian tà trên một khối hình chữ nhật hay bệ đỡ gì đấy, phủ kín các kí tự không thể giải mã được. Đầu chót cặp cánh chạm vào mép sau của khối bệ, phần mông đặt ở vị trí trung tâm, trong khi bộ vuốt dài, cong của cặp chân sau gập lại bấu vào cạnh trước và thòng thêm xuống một phần tư chiều dài bệ đỡ.
Cái đầu bạch tuộc chúi tới trước, khiến phân chót các xúc tu trên mặt cà vào mu cặp chi trước khổng lồ, bấy giờ đang túm chặt lấy hai đầu gối nhô lên của sinh vật thu mình. Nhìn tổng thể, trông nó giống thật đến bất thường, và thậm chí còn mang thêm cả một nét đáng sợ ngầm bởi gốc gác của nó hoàn toàn là một ẩn số. Rõ ràng là nó có tuổi đời lâu khủng khiếp, xa xôi khôn lường; nhưng nó lại chẳng mang nét gì liên quan đến bất cứ loại hình nghệ thuật nào từng tồn tại trong giai đoạn nền văn minh mới chớm phát triển – hay thậm chí bất kì thời đại nào khác.
Bức tượng hoàn toàn tách biệt và riêng rẽ, mà kể cả chất liệu của nó cũng là một bí ẩn. Kiểu đá như xà phòng, màu xanh đen với các đốm cùng vệt vân vàng hoặc ánh kim chẳng giống thứ gì giới địa chất hay khoáng vật học từng biết đến. Các kí tự dọc bệ đỡ cũng khó hiểu chẳng kém gì; và bất chấp việc các thành viên ở đây đại diện cho phân nửa số chuyên gia học thuật của thế giới trong lĩnh vực này, không một ai luận ra nổi chúng liên quan đến thứ ngôn ngữ nào.
Cũng như đối tượng được mô tả và chất liệu cấu thành bức tượng, các kí tự kia thuộc về thứ gì đó xưa cũ tột cùng và tách biệt hẳn so với nhân loại; một thứ không khỏi khiến cho con người ta liên tưởng đến những vòng đời cổ đại và vô thánh vô thần, không dính dáng gì đến thế giới của chúng ta hay sự hình thành của chúng ta.
Ấy nhưng, trong khi các thành viên lần lượt lắc đầu và thú nhận thất bại trước bài toán viên thanh tra đưa ra, có một người trong nhóm cảm thấy ngờ ngợ rằng khối hình và hệ chữ viết quái dị kia mang nét gì đó quen thuộc lạ kì, và lập tức rụt rè kể ra chút thông tin mọn mình biết.
Người này là William Channing Webb quá cố, Giáo sư Nhân chủng học tại Đại học Princeton, đồng thời còn là một nhà thám hiểm tiếng tăm. Bốn mươi tám năm trước, Giáo sư Webb được thuê cùng tham gia một chuyến thám hiểm Greenland và Iceland để tìm kiếm một số bia khắc cổ ngữ Rune, có điều họ chẳng khai quật được gì.
Khi đang ở tít trên bờ biển phía Tây của Greenland, ông đã giáp mặt một bộ lạc hay hội phái dị thường gì đó, gồm toàn dân Eskimo hủ bại. Giữa họ tồn tại một kiểu tôn giáo thờ phụng ma quỷ, sự khát máu cũng như bản chất đáng tởm đầy chủ đích của thứ tôn giáo ấy làm Giáo sư Webb đến buốt lạnh cả người. Đó là một đức tin mà những người Eskimo khác chẳng am tường mấy, và cứ đề cập đến là họ lại rùng mình, nói rằng nó đã được truyền lại từ những niên kỉ cổ đại tột cùng, khi thế giới thậm chí còn chưa được tạo ra.
Bên cạnh một số nghi thức vô danh và tục hiến tế người thì còn có cả một số lễ nghi gia truyền quái lạ, dành cho một đấng ác quỷ tối cao nào đấy, hay tornasuk, theo cách gọi khác. Giáo sư Webb đã cẩn thận lưu lại một bản sao phiên âm của lễ nghi ấy do một angekok cao tuổi tức vị tư tế-pháp sư cung cấp. Ông đã cố gắng hết sức thể hiện các âm thanh dưới dạng chữ cái La Mã. Nhưng lúc bấy giờ, quan trọng nhất là cái ái vật mà giáo phái này thờ phụng và nhảy múa xung quanh khi quầng cực quang vươn mình trên các vách băng.
Ông giáo sư nói nó là một bức phù điêu bằng đá rất thô sơ, bao gồm một bức tranh gớm guốc và một số chữ viết khó hiểu. Theo như những gì ông có thể xác định được, tất cả các đặc điểm chính của nó cũng hao hao giống cái thứ quái thú hiện đang nằm trước mặt các thành viên buổi họp.
Những dữ liệu này được các thành viên trong buổi họp đón nhận đầy hồi hộp và ngạc nhiên, Thanh tra Legrasse thì còn thấy phấn khích gấp bội. Anh ta ngay lập tức dồn dập hỏi han người cung cấp thông tin. Vì đã ghi nhận và sao chép lại một nghi thức khấn miệng của đám tín đồ giáo phái trong đầm lầy đã bị người của mình bắt giữ, Legrasse khẩn cầu giáo sư cố gắng nhớ lại những âm tiết lão Eskimo tôn sùng ma quỷ từng ghi ra.
Sau đó là một màn so sánh rất thấu đáo các tiểu tiết, rồi đến một khoảnh khắc im lặng vì quá sững sờ khi cả vị thanh tra lẫn nhà khoa học đều nhất trí với nhau về sự tương đồng từ ngữ mà hai nghi thức đáng ghê tởm cách nhau cả vạn dặm đường trường sử dụng. Về cơ bản, cả các pháp sư Eskimo lẫn đám thầy tế đầm lầy Louisiana đều tụng với các vật thờ tương tự nhau một điệu rất giống thế này – cách phân chia từ được phỏng đoán dựa trên những khoảng ngắt nghỉ theo lệ khi câu ấy được xướng lên:
Ph'nglui mglwnafh Cthulhu
R'lyeh wgah'nagl fhtagn.
Legrasse biết hơn Giáo sư Webb một điều, bởi lẽ đã có mấy tên trong đám tù nhân mạt hạng cho anh ta biết ý nghĩa của những từ này, theo như những gì các tín đồ lớn tuổi đã tiết lộ cho chúng. Câu trên có nội dung đại khái như sau:
Cthulhu đã chết mơ màng chờ đợi
dưới mái nhà R'lyeh.
Và rồi, vì được tất cả mọi người hối thúc yêu cầu Thanh tra Legrasse thuật lại đầy đủ hết mức có thể trải nghiệm của mình với đám tín đồ trong khu đầm lầy. Tôi có thể thấy ông chủ của mình rất coi trọng câu chuyện anh ta kể.
Nó nghe chẳng khác nào những giấc mơ điên rồ nhất của giới sáng tác thần thoại cũng như dân thần học, đồng thời cho thấy óc tưởng tượng về vũ trụ phong phú đến đáng kinh ngạc của đám dân lai và phường cặn bã.
Vào ngày mùng 1 tháng Mười Một năm 1907, cảnh sát New Orleans nhận được tin cấp báo từ vùng đầm phá phía Nam. Đám dân cư trú trái phép ở đó, hầu hết là hậu duệ của lính tráng nhà Lafitte(1), hơi thiếu văn minh nhưng tính tình hiền lành, đang phải sống trong khiếp hãi vì bị một thứ bí hiểm nào đó lén lút khủng bố trong đêm.
(1) Jean Lafitte (1780 – 1823): Một tên cướp biển người Pháp ở khu Vịnh Mexico vào đầu thế kỉ 19.
Đó có vẻ là ma giáo, nhưng mà là một kiểu ma giáo khủng khiếp hơn những gì họ từng biết đến. Đã có một số phụ nữ và trẻ con trong cộng đồng họ bị mất tích kể từ khi tiếng trống hiểm ác bắt đầu thùng thùng vang lên không ngừng nghỉ từ tít bên trong khu rừng hắc ám đầy ma quái, không một người dân nào dám đánh liều đặt chân vào nơi đó. Xuất hiện những tiếng la điên loạn và gào thét bi thảm, các câu tụng niệm buốt lạnh đến tận cốt tuỷ và ngọn lửa tà ác bập bùng. Người báo tin khiếp đảm nói thêm rằng người dân không còn có thể chịu đựng được nữa.
Thế là một lực lượng gồm hai mươi cảnh sát, ngồi kín hai cỗ xe ngựa và một chiếc ô tô, đã xuất kích vào lúc chiều muộn dưới sự dẫn đường của người đàn ông bản địa run rẩy kia. Đến cuối phần đường xe có thể đi được, họ rời xe, và bì bõm lội hàng dặm liền trong im lặng, băng qua cánh rừng bách đáng sợ nơi ngày mới không bao giờ đến.
Những mớ rễ dị hợm cùng các mũi thòng lọng không khí tóc tiên hung tà treo lủng lẳng bủa vây đoàn người, và thi thoảng, một hố trũng do đủ loại cây quái gở và đảo nấm cùng hiệp lực cấu thành lại bị một đống đá ẩm ướt hay một mảnh tường mục nát khiến trông càng gớm guốc hơn, bởi lẽ chúng khơi gợi lên cảm tưởng về một nơi cư ngụ đầy bệnh hoạn.
Một hồi sau, khu định cư của đám dân chiếm đất – một cụm lều lụp xụp – nhô vào trong tầm mắt. Các cư dân đầy kích động chạy túa ra, túm tụm xung quanh mấy ngọn đèn lồng đong đưa. Giờ đây, đã có thể nghe thấy tiếng trống nghèn nghẹt văng vẳng lại từ rất, rất xa phía trước; và cứ đôi lúc lại có một tiếng thét buốt xương vọng đến môi khi gió đảo hướng.
Xem chừng còn có cả một ánh loá rực đỏ đang chiếu qua các bụi cây thấp nhợt nhạt ở bên kia những đại lộ trải dài bất tận của khu rừng đêm. Vì chẳng muốn lại phải rơi vào cảnh thân cô thế cô, toàn bộ đám dân chiếm đất khiếp nhược dứt khoát không chịu tiến thêm bất cứ phân nào nữa về phía khung cảnh thờ phụng báng bổ thánh thần kia.
Thế là Thanh tra Legrasse và mười chín người đồng nghiệp rốt cuộc phải tiếp tục đưa chân tiến mù, dấn thân vào trong những cung đường vòm đen ngòm đầy kinh hoàng, chốn chưa ai trong bọn họ từng đặt chân tới.
Khu vực đội cảnh sát hiện đang thâm nhập vốn là một chốn hắc ám khét tiếng, phân nhiều chưa được người da trắng khám phá và thăm dò. Tương truyền có một hồ nước bí mật mà người phàm trần chưa từng chiêm ngưỡng, và sống trong đó là một khối thực thể trắng khổng lồ, vô hình vô dạng, mắt rực ánh dạ quang.
Đám dân chiếm đất rỉ tai nhau rằng vào lúc nửa đêm, lũ quỷ cánh dơi sẽ bay ra từ các hang động ngầm dưới lòng đất để phụng thờ nó. Họ nói rằng nó đã tồn tại ở đó từ trước thời D'Iberville(1), trước thời La Salle(2), trước thời người da đỏ, và thậm chí còn trước cả thời chim thú lành xuất hiện trong rừng.
(1) Pierre Le Moyne D'lberville (1661 - 1706): Nhà thám hiểm người Canada gốc Pháp trong giai đoạn thế kỉ 17.
(2) René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle (1643 – 1687): Nhà thám hiểm người Pháp thời thế kỉ 17 ở Bắc Mỹ.
Nó là hiện thân của ác mộng, và nhìn thấy nó cũng đồng nghĩa với gặp tử thần. Nhưng nó khiến cho con người ta mơ, và nhờ thế mà họ vẫn đủ hiểu biết để còn tránh xa. Dù đúng là cuộc truy hoan ma giáo hiện tại chỉ nằm ở ngoài rìa mép xa nhất của cái khu đáng ghê tởm ấy, vị trí đó vẫn rất tệ hại. Thế nên có khi bản thân cái nơi thờ phụng còn khiến đám dân cư trú trái phép này khiếp sợ hơn cả những âm thanh cùng sự kiện kinh tởm từng xảy ra.
Chỉ có thơ ca hay sự điên rồ mới đủ sức diễn tả chuẩn xác những âm thanh mà nhóm Legrasse nghe thấy trong hành trình lội qua bãi lầy đen để tiến về phía quầng sáng đỏ và tiếng trống nghèn nghẹt. Con người và thú vật đều có chất giọng riêng, chẳng gì đáng sợ hơn khi nghe thấy một chất giọng phát ra từ cái nguồn vốn lẽ thường sẽ không phát xuất nó.
Tại đây, sự cuồng nộ thú tính cùng những màn phóng túng trác táng đã bị đẩy lên đến tầm tột đỉnh bởi những tiếng tru và giọng gào quàng quạc ngất ngây. Chúng đâm xuyên và vang dội khắp cánh rừng đêm, chẳng khác nào những cơn bão tàn độc sâu dưới vực thẳm của địa ngục. Thi thoảng, tràng la hét loạn lạc lại ngưng, và rồi một tràng những giọng khàn khàn xem chừng đã qua tập dượt thuần thục sẽ nổi lên, ngân nga tụng vang cái câu hay nghi thức gớm guốc kia:
Ph'nglui mglwnafh Cthulhu
R'lyeh wgah'nagl fhtagn.
Thế rồi, khi đội cảnh sát ra đến chỗ cây cối thưa hơn, cảnh tượng kia bất chợt lọt vào mắt họ. Bốn người trong nhóm lảo đảo, một người lăn đùng ra ngất, và hai người run đến mức buột miệng thốt một tiếng rú đầy hoảng hốt, nhưng may mắn là bản hợp xướng hỗn tạp kia đã át cả đi. Legrasse hắt nước bãi lầy lên mặt người vừa ngất xỉu, và tất cả bọn họ đứng đực ra đó, run lẩy bẩy và như bị hớp hồn vì hãi hùng.
Trong một khoảnh quang tự nhiên của đầm lầy là một hòn đảo cỏ, diện tích khoảng chừng bốn nghìn mét vuông, không có cây cối và khá khô ráo. Hiện đang nhảy vọt và vặn vẹo trên chỗ ấy là một đám người dị thường ngoài sức tưởng tượng, chỉ Sime(1) hay Angarola(2) mới đủ sức khắc hoạ. Bè lũ này không có lấy một mảnh vải che thân, bấy giờ đang la hét, gào rống, và quằn quại quanh đống lửa vòng cung khổng lồ.
(1) Sidney Sime (1865-1941): Nghệ sĩ người Anh giai đoạn cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20, nổi tiếng với các tác phẩm nghệ thuật kì ảo và châm biếm.
(2) Anthony Angarola (1893 – 1929): Hoạ sĩ người Mỹ giai đoạn đầu thế kỉ 20.
Thi thoảng bức màn lửa lại tẽ ra, để lộ ra vật nằm ở chính giữa nó là một khối đá granit lớn, cao khoảng hai mét rưỡi; trên đỉnh khối đá chính là pho tượng chạm khắc nham hiểm kia, trông nhỏ bé đến lệch lạc. Mười giàn giáo được dựng cách đều nhau, tạo thành một vòng tròn rộng với tâm điểm là khối đá bị lửa quây, và treo trên đấy là thi thể vẹo vọ khác thường của những người mất tích, đầu gục xuống. Đám tín đồ nhảy nhót và gầm rú theo vòng tròn bên trong cái vành đai ấy, hướng dịch chuyển nhìn chung là từ trái sang phải, một đám rước trụy lạc kéo dài bất tận giữa vòng xác và vòng lửa.
Một viên cảnh sát gốc Tây Ban Nha dễ bị kích động, cứ đinh ninh rằng anh ta đã nghe thấy những lời ca đáp lại nghi lễ ấy từ một nơi xa xôi và tăm tối nào đó sâu hơn trong cánh rừng đầy những truyền thuyết và nỗi kinh hoàng cổ đại kia, dù có khả năng đó chỉ là do óc tưởng tượng và vọng âm khiến anh ta cảm thấy vậy.
Về sau tôi đã gặp gỡ và hỏi han người này, anh ta tên Joseph D. Galvez; và anh ta giàu trí tưởng tượng đến phát bực. Anh ta thậm chí còn nói có tiếng vỗ khẽ của những cặp cánh khổng lồ, và đằng sau những thân cây xa nhất là một đôi mắt rực sáng cùng một khối trắng to lù lù như núi – nhưng tôi đồ rằng anh ta đã lắng nghe hơi nhiều giai thoại mê tín dị đoan của đám dân bản địa.
Trên thực tế, đội cảnh sát chỉ chững lại vì kinh hoàng trong quãng thời gian tương đối ngắn. Nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu; và mặc dù cái đám ấy hẳn phải có đến gần một trăm tên tín đồ mọi rợ, phía cảnh sát vẫn tin tưởng súng ống của mình và cả quyết lao thẳng vào giữa bầy người phát lợm kia.
Suốt năm phút liền, cảnh huyên náo và hỗn loạn của hành động ấy thật không bút nào tả xiết. Đấm đá loạn xạ, súng nổ đùng đoàng, và có cả mấy pha đào tẩu; nhưng cuối cùng thì Legrasse đếm thấy mình đã bắt được tầm bốn mươi bảy tên mặt mày sưng sỉa, bị anh ta ép phải nhanh chóng mặc lại quần áo và xếp hàng giữa hai hàng cảnh sát. Năm tín đồ nằm chết ngắc, và hai tên bị thương nặng được đồng bạn khiêng đi trên cáng dã chiến. Tất nhiên, bức tượng trên khối đá được Legrasse cẩn thận gỡ ra và mang đi.
Sau một chuyến đi đầy căng thẳng và mệt mỏi, đám tù nhân được thẩm vấn tại trụ sở cảnh sát. Tất cả bọn chúng đều là dân nghèo hèn, đa chủng tộc, và có vấn đề thần kinh. Hầu hết là thuỷ thủ, điểm thêm mấy mống da đen và da màu, chủ yếu là dân Tây Ấn hoặc Bồ Đào Nha đến từ Brava, thuộc quần đảo Cape Verde, khiến cho giáo phái hỗn tạp này mang chút sắc tà thuật Phi châu.
Nhưng ngay cả khi chưa tra hỏi gì nhiều, cảnh sát đã nhận ra rất rõ rằng vụ này có liên quan đến một thứ gì đó thẳm sâu và cổ xưa hơn cái món bái vật giáo của đám tín đồ kia. Dù rất suy đồi và ngu dốt, chúng vẫn vững tâm tin vào tư tưởng chủ đạo trong tín ngưỡng tởm lợm của mình một cách nhất quán đến sững sờ.
Theo lời đám ấy, chúng tôn thờ các Đại Cổ Thần, những tạo vật từng sống trong thuở trước khi loài người xuất hiện rất lâu, và đã từ trên trời hạ giáng xuống thế giới hãy còn sơ khai hồi ấy. Các Đại Cổ Thần đó nay đã mất cả, nằm trong lòng đất và dưới đáy đại dương; nhưng thi hài của họ vẫn tiết lộ cho những con người đầu tiên biết về các bí mật của mình thông qua các giấc mơ, và những người ấy đã thành lập một giáo phái trường tồn đến tận bây giờ.
Đây chính là giáo phái đó, và đám tù nhân nói rằng giáo phái vốn luôn tồn tại và sẽ luôn tồn tại, lẩn khuất trong những miền đất hoang và u ám xa xôi trên khắp thế giới, cho đến khi giáo sĩ Cthulhu vĩ đại trỗi dậy từ mái nhà tăm tối trong thành phố R'lyeh hùng tráng dưới đại dương của mình và lại thống trị dương gian. Một ngày nào đó, khi các vì sao đã sẵn sàng, ngài sẽ cất tiếng hiệu triệu, và giáo phái bí mật kia sẽ luôn chờ thời cơ giải phóng ngài.
Trong khi ấy thì không được phép tiết lộ thêm gì nữa. Có một bí mật mà ngay cả tra tấn cũng không khiến chúng khai ra nổi. Nhân loại không phải là tạo vật có ý thức duy nhất trên Trái Đất, bởi lẽ những tín đồ kiên trinh hiếm hoi sẽ được các dạng hình bước ra từ bóng tối thăm viếng. Nhưng đấy không phải là các Đại Cổ Thần. Chưa một ai từng diện kiến các Đại Cổ Thần.
Pho tượng thần chúng khắc là Cthulhu vĩ đại, nhưng không ai có thể khẳng định được liệu có còn ai hệt như ngài hay không. Giờ thì không ai đọc nổi thứ cổ ngữ kia nữa, nhưng có nhiều thứ được truyền miệng lại. Nghi lễ được tụng không phải là bí mật – lời tụng không bao giờ được lớn tiếng nói ra, chỉ tiết lộ qua những lời thì thầm mà thôi. Câu tụng chỉ có ý nghĩa như thế này: “Dưới mái nhà ở R'lyeh, Cthulhu đã chết chờ đợi một giấc mộng.”
Trong đám tù nhân, chỉ có hai tên là đủ tỉnh táo để đem đi treo cổ, lũ còn lại được tống vào nhiều trại thương điên khác nhau. Tất cả đều phủ nhận mình có nhúng tay vào các vụ giết người tế lễ, và một mực khẳng định rằng thủ phạm đằng sau những vụ giết chóc là các Hắc Dực Thần, đến với chúng từ chốn gặp mặt cổ xưa trong khu rừng quỷ ám. Nhưng không ai kiếm nổi lời thuật mạch lạc nào về những đồng minh bí ẩn đó. Những gì cảnh sát khai thác được, chủ yếu đến từ một ông lão dân lai già khọm tên Castro, tuyên bố rằng mình từng dong buồm đến những bến cảng lạ và trò chuyện với các giáo chủ bất tử của giáo phái kia ở vùng núi Trung Quốc.
Lão Castro già vẫn lõm bõm nhớ cái truyền thuyết gớm guốc kia. Chẳng suy đoán nào của các nhà thần trí bì nổi với cái truyền thuyết ấy, và nó làm cho cả loài người lẫn thế giới như mới chỉ xuất hiện và mang kiếp phù du vô cùng. Từng có những niên kỉ Trái Đất chịu sự thống trị của một số Tạo Vật khác, và Họ xây dựng được những thành phố kì vĩ. Lão nói đám người Trung bất tử đã bảo với mình rằng thi hài của Họ vẫn có thể được tìm thấy dưới dạng các khối đá hộc ở các hòn đảo trên Thái Bình Dương.
Tất cả Họ đều đã chết từ hàng bao kỉ nguyên trước khi con người xuất hiện, nhưng có những thuật có thể giúp hồi sinh Họ khi các ngôi sao quay về lại đúng vị trí trong vòng chu kì vĩnh cửu. Bản thân Họ thực sự cũng đã đến từ các vì sao, và mang các hình ảnh của mình theo cùng.
Castro kể tiếp rằng các Đại Cổ Thần không được cấu thành hoàn toàn bằng xương bằng thịt. Họ có dạng hình vì chẳng phải bức tượng khắc đã chứng minh điều đó sao? - nhưng dạng hình ấy không cấu thành từ vật chất. Khi các vì sao đã vào vị trí thiên thời địa lợi, Họ có thể lao từ thế giới này sang thế giới khác trên khắp nền trời. Nhưng khi các ngôi sao ở lệch vị trí, Họ không thể sống được.
Ấy vậy mặc dù không còn sống, Họ sẽ không bao giờ thực sự chết đi. Tất cả Họ đều nằm trong những ngôi nhà bằng đá ở thành phố R'lyeh vĩ đại của mình, được bùa phép của Cthulhu vĩ đại bảo tồn, chờ ngày oanh liệt hồi sinh khi các ngôi sao và Trái Đất lại một lần nữa sẵn sàng chào đón Họ.
Nhưng vào thời khắc đó, phải có một thế lực bên ngoài giúp giải phóng cơ thể của Họ. Các bùa phép giúp bảo tồn nguyên vẹn Họ cũng khiến Họ vô phương thực hiện bất kì động thái đầu tiên nào, và Họ chỉ có thể nằm thao thức trong bóng tối, suy nghĩ trong khi hàng triệu năm trôi qua. Họ biết tất cả những gì đang xảy ra trong vũ trụ, nhưng phương thức giao tiếp của Họ là truyền ý nghĩ.
Ngay cả giờ đây, Họ cũng đang nói chuyện trong lăng mộ của mình. Thế rồi sau bao kỉ nguyên hỗn mang, khi những con người đầu tiên xuất hiện, các Đại Cổ Thần đã nói chuyện với những người cảm quan nhạy bén bằng cách nhào nặn các giấc mơ của họ. Đó là cách duy nhất để ngôn ngữ của Họ thâm nhập được vào tâm trí xác thịt của động vật có vú.
Castro thì thầm rằng sau đó, những con người đầu tiên kia đã thành lập giáo phái tôn thờ những bức tượng nhỏ mà các Đại Thần đã trưng ra cho họ. Những pho tượng mang đến các niên đại tăm tối từ những vì sao hắc ám. Giáo phái đó sẽ không bao giờ lụi tàn cho đến khi các ngôi sao lại một lần nữa về đúng vị trí, và các giáo sĩ bí mật sẽ đưa Cthulhu vĩ đại ra khỏi nấm mồ của Ngài để hồi sinh các thần dân của mình và tiếp tục cai trị Trái Đất.
Thời khắc sẽ rất dễ nhận ra, vì đó là lúc loài người đã trở nên giống như các Đại Cổ Thần; tự do, hoang dã, vượt ra ngoài khuôn khổ thiện và ác, với luật pháp và đạo đức đều đã bị vứt bỏ và ai nấy cũng đều la hét, giết chóc và vui sướng truy hoan. Sau đó thì các Đại Cổ Thần đã được giải phóng sẽ dạy cho họ những cách la hét, giết chóc, truy hoan và tận hưởng mới.
Toàn bộ Trái Đất sẽ rực lửa hừng hực với một cuộc tàn sát tập thể đầy ngất ngây và tự do. Trong lúc chờ, giáo phái phải lưu giữ kí ức về những phong tục cổ xưa kia và ngầm tiên báo về sự trở lại của Họ bằng các nghi lễ phù hợp.
Thời xa xưa, một số người được chọn từng trò chuyện trong những giấc mơ với các Đại Cổ Thần đã bị chôn vùi, nhưng rồi một chuyện xảy ra. Thành phố R'lyeh vĩ đại cùng những khối đá và lăng mộ chìm xuống dưới những con sóng; và làn nước sâu, nơi chứa đựng đầy một bí ẩn nguyên thuỷ mà ngay cả ý nghĩ cũng không thể xuyên thấu, đã cắt đứt cuộc trò chuyện ma mị ấy.
Nhưng kí ức không bao giờ chết đi, và các tổng giáo sĩ nói rằng thành phố sẽ lại trỗi dậy khi các ngôi sao về đúng vị trí. Khi ấy, thoát ra từ trong lòng đất sẽ là những vong linh tà độc, ẩm mốc và tăm tối, mang theo vô số những tin đồn mập mờ lượm lặt được từ trong các hang động đã bị lãng quên dưới đáy biển. Nhưng lão Castro già không dám nói nhiều về Họ. Lão vội vã ngậm tăm, và bất kể có thuyết phục hay hỏi khéo đến đâu thì cũng chẳng khai thác được gì thêm về khoản này.
Lạ một điều là lão cũng từ chối đề cập đến kích thước của các Đại Cổ Thần. Về phần giáo phái, lão tin đầu não của nó nằm giữa những sa mạc không đường đi lối lại của Ả Rập, nơi Irem – Thành phố Muôn Trụ – nằm mơ màng, được giấu kín và không bị ai xâm phạm. Giáo phái này không phải là đồng minh của giáo phái phù thuỷ châu Âu, và hầu như không được ai biết đến ngoài các thành viên của nó.
Chưa có cuốn sách nào từng thực sự nhắc đến giáo phái, mặc dù đám người Trung bất tử nói rằng cuốn Necronomicon của lão Ả Rập điên Abdul Alhazred có hai tầng ngữ nghĩa, và những ai từng được thụ giáo có thể tuỳ hứng đọc nghĩa nào cũng được, đặc biệt là cặp câu thơ rất hay được đem ra luận bàn:
Kẻ còn chưa khuất mãi ngủ yên chăng,
Qua niên kỉ lạ cái chết cũng chẳng vĩnh hằng.
Legrasse bị ấn tượng sâu sắc, nhưng cũng không khỏi hoang mang. Vị thanh tra đã điều tra về các mối liên hệ lịch sử của giáo phái nhưng rốt cuộc chỉ công cốc. Có vẻ Castro đã nói thật khi bảo rằng giáo phái được giữ bí mật tuyệt đối. Các chuyên gia tại Đại học Tulane không thể làm sáng tỏ thêm được gì về giáo phái hay bức tượng kia, và bây giờ thì viên cảnh sát đã tìm đến với các chuyên gia đầu ngành của cả nước và chẳng thu lượm được gì hơn ngoài câu chuyện về Greenland của Giáo sư Webb.
Sau này, thư từ trao đổi giữa các thành viên tham gia buổi họp cũng thể hiện rất rõ sự hứng thú của họ trước câu chuyện đã được bức tượng của Legrasse minh chứng; mặc dù các ấn phẩm chính thống của ngành gần như chẳng đả động gì đến nó. Đối với những người đã quen thỉnh thoảng lại phải đối mặt với các trò bịp bợm và lừa đảo, thận trọng luôn là ưu tiên số một.
Legrasse đã cho Giáo sư Webb mượn bức tượng một thời gian, nhưng sau khi ông giáo sư qua đời thì nó được trả lại cho anh ta và đến nay vẫn do anh ta giữ. Cách đây không lâu, tôi đã đến chiêm ngưỡng nó. Bức tượng thực sự là một tạo vật kinh khủng, và rõ là rất giống với tác phẩm điêu khắc bước ra từ trong mơ của anh chàng Wilcox.
Tôi không nghi ngờ gì việc ông chú mình đã rất phấn khích trước câu chuyện của nhà điêu khắc. Một khi đã biết đến những gì Legrasse từng tìm hiểu được về giáo phái, ông sẽ còn có thể nghĩ được gì nữa đây khi nghe bảo một chàng trai trẻ nhạy cảm đã không chỉ mơ thấy cái hình nhân cùng những chữ tượng hình giống hệt bức tượng được phát hiện trong đầm lầy và trên phiến đá ma mị tại Greenland, mà còn bắt gặp trong giấc mơ của bản thân ít nhất ba từ không chút sai lệch trong cái câu mà cả đám Eskimo tôn sùng quỷ dữ lẫn bọn dân lai Louisiana đều tụng?
Việc Giáo sư Angell ngay lập tức bắt tay vào thực hiện một cuộc điều tra hết sức kĩ lưỡng hoàn toàn chẳng có gì bất thường hết. Mặc dù tôi thầm nghi ngờ rằng anh chàng Wilcox kia đã nghe nói về giáo phái theo một cách gián tiếp nào đó, và bịa ra một loạt các giấc mơ để thêm mắm dặm muối cho cái bí ẩn và nối tiếp nó nhằm lừa ông chú tôi.
Tất nhiên, những câu chuyện về các giấc mơ và các mẫu báo cắt mà giáo sư thu thập là những minh chứng rất mạnh mẽ. Nhưng bản chất duy lí của tâm trí tôi cũng như sự vô lí của đề tài này đã khiến tôi chấp nhận điều mình nghĩ là kết luận hợp lí nhất. Thế là sau khi nghiên cứu kĩ tập bản thảo một lần nữa và so sánh các ghi chép về thần học cũng như nhân học với câu chuyện về giáo phái của Legrasse, tôi đến Providence để gặp nhà điêu khắc và quở trách anh ta vì đã trơ trẽn đánh lừa một ông già thông thái đã có tuổi.
Wilcox vẫn sống một mình trong toà nhà Fleur-de-Lys ở phố Thomas, một công trình thời Victoria gớm guốc, nhái theo phong cách kiến trúc Breton thời thế kỉ thứ bảy, phô trương phần mặt tiền trát vữa của nó giữa những ngôi nhà thuộc địa yêu kiều trên ngọn đồi cổ xưa, và lại còn ngay dưới bóng toà tháp chuông Georgian đẹp nhất tại Mỹ nữa chứ.
Tôi thấy anh ta đang làm việc trong phòng, và khi nhìn vào những mẫu vật rải rác khắp xung quanh, tôi ngay lập tức phải thừa nhận rằng anh ta quả thật là một người hết sức tài ba. Tôi tin rằng rồi sẽ có ngày Wilcox được mệnh danh là một trong những nghệ sĩ vĩ đại của trường phái điêu tàn. Bởi lẽ thứ được anh ta kết tinh trong đất sét, và rồi một ngày nào đó sẽ được tạc lại trên đá cẩm thạch, là những cơn ác mộng và mộng tưởng mà Arthur Machen(1) vẫn gợi lên bằng câu chữ, và Clark Ashton Smith (2) hay khắc hoạ trong những vần thơ và tranh vẽ.
(1) Arthur Machen (1863 – 1947): Bút danh của Arthur Llewellyn Jones, tác giả người Wales nổi tiếng với các tác phẩm kinh dị, siêu nhiên.
(2) Clark Ashton Smith (1893 – 1961): Nhà văn, nghệ sĩ người Mỹ giai đoạn đầu thế kỉ 20.
Anh chàng ngăm đen, mảnh khảnh, và phần nào luộm thuộm, uể oải quay lại trước tiếng gõ cửa của tôi và chẳng buồn đứng dậy mà hỏi tôi đến đây làm gì. Khi tôi cho Wilcox biết mình là ai, anh ta hơi có vẻ quan tâm; bởi lẽ ông chú tôi đã khơi dậy trí tò mò của con người này khi cứ dò hỏi về những giấc mơ kì lạ của anh ta, nhưng chưa bao giờ giải thích lí do đằng sau nghiên cứu ấy.
Tôi không cho anh ta biết thêm gì về khoản này, mà chỉ tìm cách kín đáo khơi anh ta mở miệng. Chẳng bao lâu sau, tôi đã tin chắc rằng Wilcox hoàn toàn chân thành, bởi anh ta kể về những giấc mơ theo cái cách khiến cho không ai có thể lẫn đi đâu được. Chúng cùng những tàn dư chúng để lại trong tiềm thức đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến nghệ thuật của Wilcox, anh ta cho tôi xem một bức tượng bệnh hoạn khiến tôi suýt nữa rùng cả mình, bởi lẽ những đường nét của nó đen tối vô cùng.
Anh ta không thể nhớ nổi đã nhìn thấy nguyên mẫu của thứ này ở bất cứ nơi nào khác ngoài trên bức phù điêu trong giấc mơ của chính mình, nhưng những đường nét của nó đã vô thức hình thành dưới đôi bàn tay anh ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là cái bóng hình khổng lồ mà anh ta đã lảm nhảm nhắc đến trong cơn mê sảng.
Anh ta sớm thể hiện rõ rằng mình thực sự không biết gì về giáo phái bí mật kia, ngoại trừ những gì mà ông chú tôi đã để lộ ra trong cuộc thẩm vấn bất tận của mình. Và tôi lại một lần nữa cố gắng vắt óc nghĩ cho bằng ra cách anh ta ý thức được về những hình ảnh kì dị đó.
Anh ta nói về những giấc mơ của mình theo kiểu văn vẻ lạ lùng; làm cho tôi hình dung ra cái thành phố đá hộc ẩm ướt với những khối đá xanh lầy nhầy một cách sống động khủng khiếp. Với một giọng nghe đến lạ, anh ta nói rằng toàn bộ dạng hình của nó đều rất trái lí, và anh ta cứ nơm nớp những tưởng mình sẽ nghe thấy tiếng gọi dai dẳng, phần nào điên rồ vọng lên từ dưới lòng đất: Cthulhu fhtagn, Cthulhu fhtagn.
Những từ này là một phần của cái nghi lễ đáng sợ, kể về Cthulhu trong hầm đá của mình ở R'lyeh, mơ màng canh gác dù cho đã chết, và bất chấp những niềm tin đầy lí trí của bản thân, tôi cảm thấy rúng động đến tận cốt tuỷ. Tôi tin chắc Wilcox đã tình cờ nghe nói về giáo phái, và chẳng bao lâu sau quên khuấy về nó vì còn mải đọc cũng sau như tưởng tượng hàng bao thứ không kém phần kì lạ.
Về sau, bởi vì nó quá ấn tượng, tiềm thức của anh ta đã để nó ngấm ngầm xuất hiện trong những giấc mơ, trong bức phù điêu, và trong bức tượng khủng khiếp mà tôi bấy giờ đang chiêm ngưỡng. Thế tức là anh ta hoàn toàn không có ý lừa gạt ông chú tôi. Anh chàng này thuộc kiểu người mà tôi không đời nào có thể mê nổi, vừa hơi màu mè lại vừa có chút thô lỗ; nhưng tôi vẫn sẵn lòng thừa nhận việc anh ta sở hữu cả một khối óc thiên tài lẫn bản tính trung thực. Tôi thân ái chào, và chúc anh ta sẽ gặt hái được mọi thành công mà tài năng của anh ta hứa hẹn sẽ mang lại.
Vụ việc giáo phái vẫn tiếp tục lôi cuốn tôi, và đôi khi tôi còn mường tượng ra cảnh mình trở nên nổi tiếng nhờ nghiên cứu về nguồn gốc cũng như các mối liên hệ của nó. Tôi đến thăm New Orleans, nói chuyện với Legrasse và những người khác trong nhóm đột kích thời xưa, ngắm bức tượng đáng sợ đó, và thậm chí còn thẩm vấn những tên tù nhân vẫn sống sót.
Thật không may, lão Castro già đã chết được mấy năm rồi. Niềm phấn khích của tôi lại tái bùng lên trước những điều bản thân giờ được trực tiếp mắt thấy tai nghe, mặc dù nó kì thực chỉ là một quá trình xác nhận chi tiết cho những gì ông chú tôi đã viết, không hơn không kém.
Nguyên do là bởi tôi cứ đinh ninh rằng mình đang lần theo dấu một tôn giáo rất thật, rất bí mật, rất cổ xưa, và một khi phát hiện ra chúng, tôi sẽ trở thành một nhà nhân chủng học đình đám. Tôi vẫn giữ nguyên tư tưởng duy vật bất di bất dịch, dẫu rằng tôi chỉ ước giá mà mình vẫn còn giữ được tư tưởng ấy, và với một sự ngoan cố gần như không thể giải thích được, tôi gạt phăng sự trùng hợp giữa các bản ghi chép về những giấc mơ và mấy mẩu báo cắt kì quặc đã được Giáo sư Angell thu thập.
Tôi bắt đầu nghi ngờ một điều, và bây giờ tôi e rằng mình đã biết rất rõ sự tình chính là như vậy, ấy là ông chú tôi không chết vì nguyên nhân tự nhiên. Ông gục ngã trên con đường đồi hẹp dẫn lên từ một bến cảng cổ đầy đám dân lai ngoại quốc, sau khi bị một tay thuỷ thủ da đen bất cẩn thúc phải.
Tôi vẫn không quên việc các thành viên giáo phái ở Louisiana mang dòng máu lai, đồng thời còn là dân đi biển, và tôi sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu được biết rằng trên đời có tồn tại một số kĩ nghệ bí mật cũng như các mũi kim độc, tàn nhẫn và xưa cũ không kém gì mấy nghi thức và tín ngưỡng bí hiểm kia. Quả đúng là Legrasse và người của anh ta đã được để cho yên thân; nhưng ở Na Uy, một thuỷ thủ từng chứng kiến chuyện này chuyện nọ đã qua đời.
Có khi nào tin tức về các cuộc điều tra sâu hơn do ông chú tôi thực hiện sau khi nhận được dữ liệu từ nhà điêu khắc đã lọt đến tai những kẻ nham hiểm không? Tôi nghĩ Giáo sư Angell chết vì đã biết quá nhiều, hoặc vì ông có khả năng sẽ trở thành người biết quá nhiều. Khó mà khẳng định được liệu tôi có nối bước ông hay không, bởi vì tôi bây giờ cũng đã biết khá nhiều rồi.