Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- Ix -

❊ ❊ ❊

SÁNG THỨ SÁU, ARMITAGE, RICE, VÀ MORGAN ĐI XE đến Dunwich, đặt chân vào ngôi làng lúc khoảng một giờ chiều. Tiết trời hôm ấy rất đẹp, nhưng ngay cả dưới ánh dương rực rỡ nhất, dường như vẫn có một nỗi hãi sợ kín đáo và quái gở lơ lửng quanh những ngọn đồi vòm kì lạ và các khe núi sâu thẳm, tăm tối của cái miền đất gặp hoạ này. Thỉnh thoảng, trên đỉnh núi nào đấy, họ sẽ thoáng thấy một vòng tròn đá thê lương hằn in trên nền trời.

Căn cứ vào bầu không khí hoảng sợ đầy kìm nén tại cửa tiệm Osborn, họ biết đã có chuyện ghê tởm gì đó xảy ra, và chẳng bao lâu sau thì được hay về việc ngôi nhà cũng như mọi thành viên trong gia đình Elmer Frye đều đã diệt vong. Trong suốt buổi chiều hôm đó, họ đi quanh Dunwich; hỏi han dân bản địa về tất cả những gì đã xảy ra, và tận mắt chứng kiến khu tàn tích thê thảm của gia đình Frye cùng những vết nhựa đường dính nhớp còn sót lại, các vết tích quái đản trong sân nhà Frye, lũ gia súc bị thương của Seth Bishop, kèm cả những mảng thực vật khổng lồ bị cày xới tại nhiều nơi khác nhau với nỗi hãi hùng ngày càng dâng cao.

Cái vệt đường mòn dẫn lên và xuống đồi Sentinel dường như được Armitage coi là một tình tiết hết sức nghiêm trọng, gần như là cả một thảm hoạ, và ông nhìn vào hòn đá trông cứ như bàn thờ đầy nham hiểm trên đỉnh núi một hồi lâu.

Một lúc sau, vì đã được thông báo rằng sáng hôm ấy sẽ có một nhóm cảnh sát bang từ Aylesbury đến để giải quyết mấy cuộc gọi xoay quanh thảm kịch nhà Frye mà họ đã nhận được, nhóm khách đến làng quyết định sẽ đi tìm mấy viên sĩ quan kia và so sánh tất cả các thông tin có thể. Tuy nhiên, họ phát hiện ra điều này nói dễ hơn làm; vì họ không thấy bóng dáng của nhóm cảnh sát kia ở bất cứ đâu cả.

Đã có năm cảnh sát đi ô tô đến, nhưng bây giờ thì chỉ có chiếc xe trống không, đỗ gần đống đổ nát trong sân nhà Frye. Toàn bộ dân bản địa đều đã nói chuyện với nhóm cảnh sát, và thoạt tiên họ xem chừng cũng ngơ ngác chẳng kém gì Armitage và những người bạn đồng hành của ông. Thế rồi lão Sam Hutchins già sực nghĩ ra gì đó và tái nhợt, huých Fred Farr rồi chỉ vào cái khoảng không ẩm ướt, sâu thẳm, nằm toang hoác gần đó.

“Ôi lạy Chúa,” lão hổn hển, “tui đã bảo với họ rằng chớ có đi vào trong thung lũng rùi. Tui chẳng bao giờ ngờ nổi lại vẫn có người dám làm như vậy khi đã có mấy cái dấu, mùi thúi, với đám chim đớp muỗi rú rít inh tai nhức óc dưới đấy, trong những chỗ tối giữa ban ngày ban mặt...”

Một cái rùng mình buốt giá lan toả khắp nhóm dân bản địa và những vị khách, mọi vành tai dường như đều căng hết lên, vô thức nghe ngóng theo bản năng. Giờ đây, khi đã thực sự chạm trán nỗi kinh hoàng và thành phẩm quái ác của nó, Armitage bị cái trách nhiệm mà ông cảm thấy là của mình khiến cho run lẩy bẩy. Màn đêm sẽ sớm buông xuống, và đó sẽ là lúc tảng núi báng bổ thánh thần kia lầm lũi bước đi trên con đường ma quái của nó.

Negotium perambulans in tenebris(1)... Người thủ thư già nhẩm lại các câu thần chú ông đã học thuộc, và siết chặt tờ giấy chứa những câu dự trù mà ông chưa ghi nhớ. Ông đảm bảo rằng cây đèn pin của mình vẫn hoạt động tốt. Rice, bên cạnh ông, lấy từ trong vali ra một thiết bị phun bằng kim loại, kiểu hay dùng để diệt côn trùng; trong khi Morgan tháo khẩu súng trường săn thú lớn mình sẽ dùng ra, bất chấp đã được đồng nghiệp cảnh báo rằng sẽ không có món vũ khí trần thế nào giúp ích gì được.

(1) (Tiếng Latinh) Dịch hại lầm lũi đi trong bóng tối.

Vì đã đọc cuốn nhật kí gớm guốc, Armitage biết rất rõ nên mong đợi sẽ thấy nó xuất hiện dưới dạng hình gì; nhưng ông không đưa ra bất kì gợi ý hay manh mối nào để tránh làm đám dân Dunwich thêm phần sợ hãi. Ông hi vọng sẽ có thể đánh bại được nó mà không để lộ cho thế giới biết về con quái vật đã trốn thoát.

Khi bóng tối dần dồn tụ lại, dân bản địa bắt đầu tản hết về nhà, chỉ chăm chăm muốn đóng cửa cài then cố thủ trong nhà, cho dù nay đã có bằng chứng cho thấy rằng mọi loại khoá với then của con người đều vô dụng trước một thế lực có thể bẻ cong cây cối và nghiền nát nhà cửa nếu muốn. Họ lắc đầu trước kế hoạch đứng canh tại bãi hoang tàn nhà Frye gần thung lũng của mấy người khách; và khi rời đi, họ chẳng mấy kì vọng sẽ được tái ngộ những người ở lại đấy canh.

Đêm hôm đó, có tiếng ầm ầm vọng lên từ dưới những ngọn đồi, và đám chim đớp muỗi kêu đầy hăm doạ. Thỉnh thoảng, một cơn gió thổi ra từ thung lũng Cold Spring sẽ phả vào trong làn không khí đêm nặng nề một mùi hôi thối khó tả; cái mùi mà cả ba người canh gác đều từng ngửi thấy trước đây, trong cái lần họ đứng nhìn xuống một tạo vật hấp hối từng giả dạng con người suốt mười lăm năm rưỡi. Nhưng nỗi kinh hoàng họ ngóng đợi không xuất hiện. Cái thứ ở trong thung lũng dưới đó, bất kể nó có là gì, cũng đang chờ đợi thời cơ, và Armitage nói với các đồng nghiệp rằng thử tấn công nó trong bóng tối sẽ chẳng khác nào tự sát.

Buổi sáng âm u đến, và các âm thanh của màn đêm chấm dứt. Đó là một ngày xám xịt, ảm đạm, thỉnh thoảng lại có một cơn mưa phùn; và những đám mây ngày một vần vũ dường như đang chất chồng lên nhau đằng sau mấy ngọn đồi ở phía Tây Bắc. Nhóm người đến từ Arkham lưỡng lự không biết phải làm gì. Trong lúc trú khỏi trận mưa ngày càng nặng hạt bên dưới một trong những gian nhà phụ vẫn chưa bị phá huỷ ít ỏi của gia đình Frye, họ bàn luận xem liệu có nên chờ đợi không, hay là chủ động và xuống thung lũng để săn lùng con mồi quái dị, vô danh của mình.

Cơn mưa càng lúc càng đổ xuống tầm tã, và tiếng sấm vang lên từng hồi từ những chân trời xa. Chớp lấp lánh sáng loà, và rồi một tia sét chữ Chi loé lên ngay gần đấy, như thể lao vào trong cái thung lũng đáng nguyền rủa kia. Bầu trời trở nên tối sầm, và những người canh gác hi vọng rằng đây sẽ chỉ là một cơn bão ngắn, dữ dội, và sau đấy thì thời tiết sẽ trở nên quang quẻ.

Không hơn một tiếng sau là bao, lúc trời hãy còn tối mịt mùng, một tràng những giọng người hỗn độn vọng đến từ trên đường. Chốc sau, một nhóm hơn chục người đang phát hoảng lọt vào trong tầm mắt, vừa chạy vừa la hét, và thậm chí còn cuồng loạn khóc thút thít. Ai đó đi đầu nhóm bắt đầu gào lên mấy lời gì đó, và đám người từ Arkham giật nảy mình khi những lời lẽ ấy trở nên có ý nghĩa rành mạch.

“Ôi lạy Chúa, lạy Chúa,” cái giọng nghèn nghẹt nói. “Nó lại tác oai tác quái rồi, lần này là giữa ban ngày ban mặt! Nó đang ở ngoài – nó đang ở ngoài và lang thang khắp nơi ngay lúc này, và chỉ có Chúa mới biết khi nào thì nó sẽ đến được chỗ tất cả chúng ta!"

Người nói thở hổn hển và dần im lặng, nhưng một người khác đã tiếp nối bức thông điệp của anh ta.

“Gần một tiếng trước, Zeb Whateley đây nghe thấy điện thoại rung, người gọi là Corey, vợ của George, sống ở gần chỗ đoạn đường giao. Cổ nói Luther, thằng nhóc làm công, đang lùa lũ bò vào chuồng tránh bão sau khi có tia sét lớn đánh thì nhìn thấy toàn bộ cây cối oằn xuống ở miệng thung lũng – đầu đối diện đầu này – và ngửi thấy cùng cái mùi kinh khủng mà nó từng ngửi được lúc phát hiện ra những dấu chân lớn sáng thứ Hai tuần trước.

Corey bảo nó nói có tiếng sột soạt, oàm oạp gì đó nữa, không phải kiểu tiếng mớ cây và bụi rậm xiêu vẹo có thể tạo ra, và mớ cây dọc trên con đường đột ngột bắt đầu bị đẩy bạt sang một bên, và có tiếng giậm chân bì bõm trong bùn nghe rất kinh khủng. Nhưng vấn đề là Luther không nhìn thấy gì cả, chỉ mỗi mớ cây và bụi rậm bị bẻ oằn đi thôi.

“Thế rồi ở mạn phía trước, chỗ suối Bishop chảy dưới con đường, Luther nghe thấy một tràng những tiếng cót két và oằn mình trên cây cầu, và nói nó có thể nghe ra tiếng gỗ bắt đầu nứt vỡ và bửa ra. Trong lúc toàn bộ những chuyện ấy xảy ra, nó không hề nhìn thấy gì cả, chỉ mình cây cối và bụi rậm cong xuống. Và khi cái tiếng sột soạt đã đi xa hẳn – trên con đường dẫn về phía nhà của Phù thuỷ Whateley và đồi Sentinel – Luther đã táo gan chạy ra chỗ lúc đầu mình nghe thấy cái tiếng kia và quan sát mặt đất. Chỉ có toàn bùn với nước, và trời thì mịt mùng, mưa lại còn đang ào ào xoá biến tất cả các dấu vết; nhưng ở đầu miệng thung lũng, chỗ đám cây đã chuyển động, một số dấu chân to như thùng phuy, giống mấy cái dấu nó đã nhìn thấy hôm thứ Hai vẫn còn nguyên đấy.”

Đến đoạn này, nhân vật từng kích động cất tiếng lúc ban đầu ngắt lời.

“Nhưng đó không phải là vấn đề – đó chỉ là sự khởi đầu thôi. Đang lúc Zeb đây gọi điện cho tất cả mọi người và họ còn đang lắng nghe thì một cuộc gọi từ nhà Seth Bishop chen ngang. Quản gia Sally của ổng kể lể như phát rồ – cổ vừa mới nhìn thấy mấy cái cây oằn xuống bên đường, và nói có tiếng ướt át gì đấy, như một con voi đang phun phì phì và bước đi, tiến về phía ngôi nhà. Thế rồi cổ bất chợt đề cập đến một mùi đáng sợ, nói rằng thằng nhóc Chauncey gào thét rằng cái mùi này giống hệt như cái mùi nó đã ngửi thấy ở chỗ bãi hoang nhà Whateley vào sáng thứ Hai. Và lũ chó cứ sủa với rên rỉ rất ghê.

“Sau đó thì Sally rú lên một tiếng hết sức khủng khiếp, và kêu cái nhà kho mạn dưới đường vừa mới bẹp dúm lại như thể bị bão thổi bay, chỉ có điều gió không đủ mạnh để gây ra chuyện ấy. Tất cả mọi người đều lắng nghe, và bọn tui có thể nghe thấy rất nhiều người trên đường dây thở hổn hển. Bất thình lình Sally lại hét lên, bảo hàng rào sân trước vừa mới vỡ vụn, mặc dù không có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy thứ nào đã gây ra chuyện đó hết.

Sau đó, mọi người trên đường dây đều có thể nghe thấy Chauncey và lão Seth Bishop già cũng la hét nốt, Sally thì rú lên rằng một thứ nặng nề gì đó đập vào ngôi nhà – không phải sét hay gì hết, mà là thứ gì đó đập vào phía trước nhà, và cứ liên tục đập không ngừng, mặc dù khi nhìn ra ngoài cửa sổ trước thì chẳng thể thấy gì cả. Và rồi... và rồi...”

Nét hãi sợ hằn sâu trên mọi khuôn mặt; và mặc dù rất run rẩy, Armitage còn vừa đủ điềm đạm để thúc người kia nói tiếp.

“Và rồi... Sally gào lên, ‘Ôi cứu với, căn nhà đang sập’... và trên đường dây, bọn tui có thể nghe thấy một tiếng sụp kinh thiên động địa, và rất nhiều tiếng la hét... giống hệt như lúc nhà của Elmer Frye bị sụp, chỉ có điều...”

Người kia dừng lại, và một người khác trong đám bọn họ nói.

“Chỉ có vậy thôi sau đó thì chẳng có lấy một âm thanh hay tiếng động nào truyền qua điện thoại nữa. Im phăng phắc. Những người nghe thấy cuộc gọi đó lấy hết xe cộ ra và tụ tập tất cả đàn ông con trai khoẻ mạnh mình có thể kiếm được tại nhà của Corey, rồi qua đây để xem mấy ông tính tốt nhất là nên làm gì. Nhưng tui nghĩ đây là hình phạt của Chúa cho những tội lỗi của bọn tui, và không người phàm trần nào có thể thoát được.”

Armitage thấy rằng thời khắc ra tay hành động đã đến, và nói một cách dứt khoát với nhóm dân quê đang hoảng sợ và nao núng ấy.

“Chúng ta phải bám theo nó, thưa các cậu.” Ông giữ cho giọng nghe trấn an nhất có thể. “Tôi tin rằng ta có cơ hội để triệt tiêu nó. Mấy người đã biết gia đình Whateley là phù thuỷ rồi đấy – cái thứ này là thành phẩm của ma pháp phù thuỷ, và phải được tiêu diệt bằng cùng cách ấy. Tôi đã xem nhật kí của Wilbur Whateley và đọc một số cuốn sách cũ kì lạ hồi trước nó vẫn đọc; tôi nghĩ mình biết câu thần chú cần tụng để làm cho cái thứ kia biến đi.

Tất nhiên, không ai có thể khẳng định chắc chắn được điều gì, nhưng chúng ta luôn có thể thử đánh liều. Nó vô hình – tôi biết nó sẽ như thế – nhưng trong thiết bị phun nước tầm xa này là một thứ bột có thể khiến nó hiện hình trong tích tắc. Lát nữa chúng ta sẽ thử. Để cho nó sống thì quả là đáng sợ thật, nhưng thế vẫn chưa tệ bằng những gì Wilbur sẽ cho lọt vào đây nếu nó sống được lâu hơn đâu.

Mọi người sẽ không bao giờ biết được thế giới đã thoát khỏi kiếp nạn nào. Bây giờ thì chúng ta chỉ có duy nhất một thứ cần chiến đấu chống lại, và nó không thể nhân lên. Tuy nhiên, nó có thể gây rất nhiều thiệt hại; thế nên chúng ta không được phép ngần ngại, phải loại bỏ nó ra khỏi cộng đồng ngay.

“Chúng ta phải bám theo nó – và cách khởi đầu là đến cái nơi vừa bị tàn phá. Hãy để ai đó dẫn đường đi – tôi không thông thạo đường đi lối lại của mọi người, nhưng tôi tin chắc là có một đường tắt ngắn hơn dẫn qua các lô nhà. Mọi người thấy thế nào?”

Đám bọn họ đảo qua đảo lại một lúc, và rồi Earl Sawyer nói khẽ, đưa một ngón tay đầy cáu ghét chỉ qua cơn mưa đang ngớt dần.

“Tui đoán đường nhanh nhất đến nhà của Seth Bishop là đi tắt qua cánh đồng cỏ mạn dưới này, lội qua suối ở những chỗ nông, và trèo qua đồng rạ của Carrier và bãi chất gỗ đằng sau đấy. Nó dẫn ra con đường trên, mạn gần sát nhà của Seth – hơi lệch một chút."

Armitage, cùng với Rice và Morgan, bắt đầu đi theo hướng được chỉ; và hầu hết dân bản địa chậm rãi bám theo. Bầu trời đang càng lúc càng hửng sáng, và có một số dấu hiệu cho thấy cơn bão đã dần tan. Khi Armitage vô tình rẽ lệch hướng, Joe Osborn cảnh báo ông và đi lên trước để chỉ cho ông thấy hướng chuẩn. Lòng can đảm và sự tự tin đang gia tăng; mặc dù cái bóng nhập nhoạng của ngọn đồi đầy cây rừng dựng gần như vuông góc nằm ở phía cuối con đường tắt của họ, nơi họ phải len lỏi leo giữa những cây cổ thụ đầy huyễn hoặc như thể leo thang, khiến cho những phẩm chất kia bị thử thách rất nặng nề.

Một hồi sau, họ ra đến một con đường lầy lội và thấy mặt trời đang dần ló ra. Họ hơi xa nhà Seth Bishop một chút, nhưng những cái cây cong oằn và các dấu vết gớm guốc không thể lẫn đi đâu được cho thấy thứ gì từng đi qua đây. Họ chỉ dành ra vài khoảnh khắc để khảo sát mớ hoang tàn ngay bên kia khúc quanh. Nó cũng không khác gì vụ nhà Frye, và chẳng thể tìm thấy bất cứ thứ gì, dù là đã chết hay còn sống, trong hai khối đổ nát từng là nhà và chuồng trại của gia đình Bishop. Không ai muốn ở lại giữa cái mùi hôi thối và lớp nhựa đường dính dớp. Theo bản năng, tất cả bọn họ cùng quay về phía hàng dấu chân khủng khiếp dẫn đến nông trại Whateley tan hoang và những sườn dốc của quả đồi với bàn thờ trên đỉnh mang tên Sentinel.

Khi đi qua nơi ở của Wilbur Whateley, mấy người bọn họ rùng mình rõ rệt, và thêm một lần nữa, sự do dự dường như lại bị trộn lẫn vào với lòng nhiệt thành của họ. Truy lùng một thứ to lớn ngang cả ngôi nhà mà chẳng ai nhìn thấy nổi, nhưng sở hữu mọi sự ác hiểm tàn độc của một con ác quỷ không phải là chuyện đùa. Ở chỗ đối diện với chân đồi Sentinel, các dấu vết rời khỏi con đường, và có một đoạn bẻ cong cũng như đập bết chạy dọc theo dải đất rộng đánh dấu tuyến đường leo lên leo xuống đỉnh đồi cũ của con quái vật.

Armitage lấy ra chiếc ống nhòm bỏ túi với độ phóng đại lớn và rà soát mặt dốc xanh của ngọn đồi. Thế rồi ông đưa nó cho Morgan, người sở hữu thị lực sắc sảo hơn. Sau một hồi quan sát, Morgan kêu lên một tiếng thảng thốt, đưa ống nhòm cho Earl Sawyer và đưa ngón tay chỉ vào một điểm nhất định trên con dốc. Như hầu hết những người không quen sử dụng thiết bị quang học khác, Sawyer phải vụng về dò dẫm một lúc; nhưng cuối cùng căn cho các lăng kính hội tụ được vào với nhau với sự trợ giúp của Armitage. Sau khi làm vậy, tiếng kêu của gã không được kiềm chế bằng Morgan.

“Lạy Chúa toàn năng, cỏ và bụi cây đang di chuyển! Nó đang di chuyển lên trên – chậm thôi – leo lên đỉnh ngay phút này, chỉ có trời mới biết là để làm gì!”

Thế rồi mầm mống hoảng loạn dường như lan truyền rộng khắp đoàn người đi tìm kiếm. Theo đuổi một thực thể không tên là một chuyện, nhưng tìm thấy nó lại là chuyện hoàn toàn khác. Bùa chú có thể sẽ đúng chuẩn – nhưng nhỡ không thì sao? Bắt đầu có một vài giọng người hỏi han Armitage xem ông biết gì về cái thứ kia, và không câu trả lời nào là có vẻ đủ thoả mãn hết. Tất cả mọi người đều cảm thấy mình như trần trụi, cận kề với thiên nhiên và với một thực thể cấm kị tột cùng, hoàn toàn nằm ngoài trải nghiệm lành mạnh của nhân loại.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.