Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- I -

❊ ❊ ❊

TRONG MÙA ĐÔNG CUỐI NĂM 1927 ĐẦU NĂM 1928, các quan chức chính phủ Liên bang triển khai một cuộc điều tra kì lạ và bí mật về một số tình huống ở cảng biển Innsmouth cổ xưa tại Massachusetts. Công chúng lần đầu hay biết về nó vào tháng Hai, khi xảy ra hàng loạt các cuộc đột kích và bắt giữ, theo sau là việc thiêu huỷ và đánh thuốc nổ có tính toán – với các biện pháp phòng ngừa thích hợp – một lượng lớn các ngôi nhà đổ nát, bị mối mọt ăn ruỗng, và được cho là trống rỗng dọc bến cảng bỏ hoang.

Những người không mấy quan tâm coi sự kiện này chỉ là một trong mấy vụ đụng độ lớn của cuộc chiến chống rượu lậu thỉnh thoảng vẫn diễn ra. Tuy nhiên, những người theo dõi tin tức một cách sắc sảo hơn lấy làm băn khoăn về số vụ bắt giữ khổng lồ, lượng nhân sự lớn bất thường được điều động để tiến hành chiến dịch, và việc giữ kín số phận của các tù nhân.

Không có phiên toà, hay thậm chí cáo buộc cụ thể nào, được báo lại cả; và sau đó cũng không ai thấy mặt bất cứ tù nhân nào trong các nhà lao bình thường trên khắp toàn quốc. Có vài công bố mập mờ về bệnh tật và trại tập trung, về sau là chuyện những tù nhân kia đã được phân bổ vào nhiều nhà từ hải quân và quân đội khác nhau, nhưng chẳng có tin gì cụ thể được đưa ra. Bản thân Innsmouth thì bị bỏ lại trong tình trạng gần như hoang vắng, và thậm chí đến tận bây giờ mới bắt đầu có dấu hiệu hồi sinh một cách đầy lề mề.

Đáp lại khiếu nại từ nhiều tổ chức tự do là các cuộc thảo luận kín rất dông dài, và đại diện của mấy tổ chức kia đã được đưa đến thăm một số trại và nhà tù nhất định. Kết quả là những tổ chức ấy trở nên thụ động và kín tiếng đến đáng ngạc nhiên. Giới báo chí thì khó giải quyết hơn, nhưng rốt cuộc phần lớn xem chừng đều hợp tác với chính phủ. Chỉ có một tờ báo duy nhất – một tờ báo lá cải vốn luôn bị coi thường bởi có những chính sách rất quái – là có đề cập đến các tàu ngầm lặn sâu đã phóng ngư lôi vào khu khe vực ngay bên ngoài Rạn Quỷ. Nguồn tin cho bài báo đó tình cờ được thu thập trong một chốn thuỷ thủ hay qua lại, có vẻ khá hoang đường; bởi lẽ cái rạn đá thấp, đen ngòm đó nằm cách cảng Innsmouth gần hai cây số rưỡi.

Những người loanh quanh khu đấy cũng như ở các thị trấn lân cận rì rầm bàn tán với nhau rất xôm, nhưng tiết lộ rất ít thông tin cho thế giới bên ngoài. Họ nói về thị trấn Innsmouth đang trên đà suy tàn và bị bỏ hoang gần một thế kỉ nay rồi, chẳng có sự kiện mới gì có thể điên rồ hay gớm guốc hơn những điều họ đã thì thầm và ám chỉ từ nhiều năm trước. Nhiều điều đã dạy cho họ phải biết giữ mồm giữ miệng, và bây giờ thì không việc gì phải gây áp lực cho họ cả. Mà ngoài ra, họ thực sự biết rất ít; bởi những đầm lầy muối mênh mang, hoang vắng và không có người ở, đã khiến dân tình các khu lân cận tách biệt với Innsmouth trên mạn đất liền.

Nhưng cuối cùng, tôi sẽ ngó lơ lệnh cấm phát ngôn về vụ việc này. Tôi tin chắc rằng kết quả công việc của họ hoàn hảo đến mức có hé lộ đôi điều về thứ đã được lực lượng đột kích Innsmouth khiếp đảm tìm thấy thì cũng sẽ không gây tổn hại gì cho công chúng cả, ngoại trừ việc gây ra một cú sốc ghê tởm. Ngoài ra, thứ được tìm thấy có thể có nhiều hơn một lời giải thích. Ngay cả bản thân tôi cũng không rõ mình đã được thuật lại cho nghe bao nhiêu phần của toàn bộ câu chuyện, và tôi có nhiều lí do để không muốn tìm hiểu sâu hơn. Nguyên do là bởi tôi có liên đới mật thiết đến vụ việc này hơn bất cứ người bình thường nào khác, và những ấn tượng thu lượm được khiến tôi đến nay chưa sử dụng biện pháp quyết liệt nào.

Tôi chính là người đã thục mạng chạy trốn khỏi Innsmouth vào sáng sớm ngày 16 tháng Bảy, 1927, và cũng chính tôi đã hoảng loạn mà khẩn nài, yêu cầu chính phủ tiến hành điều tra và triển khai hành động – lí do khiến xảy ra toàn bộ vụ việc vừa được thuật lại. Tôi sẵn sàng giữ im lặng trong khi vụ việc hãy còn mới mẻ và bất định; nhưng giờ đây, khi nó đã trở thành tin tức cũ, và sự quan tâm cũng như óc hiếu kì của công chúng đã biến mất, tôi có một khao khát kì lạ, thèm muốn được thì thầm kể về những giờ phút đáng sợ trong cái cảng biển chết chóc và dị thường đến báng bổ đó, cái chốn khét tiếng và bị cái ác bao trùm. Chỉ đơn thuần kể lại cũng giúp tôi khôi phục niềm tin vào đầu óc của chính mình; trấn an được bản thân rằng tôi không chỉ là người đầu tiên mắc phải một chứng ảo giác truyền nhiễm đầy ác mộng. Việc này cũng giúp tôi đưa ra được quyết định cụ thể về nước đi khủng khiếp đang chờ mình thực hiện.

Tôi chưa bao giờ nghe danh Innsmouth trước cái ngày tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên, đồng thời – tính đến nay cũng là lần cuối cùng. Tôi bấy giờ đang kỉ niệm tuổi trưởng thành của mình bằng một chuyến tham quan New England – ngắm cảnh, nghiên cứu cổ vật, tìm hiểu phả hệ và đã lên kế hoạch sẽ đi thẳng từ Newburyport cổ kính đến Arkham, quê quán gốc của gia đình bên ngoại tôi. Tôi không có xe hơi, mà đi bằng tàu hoả, xe điện, xe khách, và luôn tìm kiếm con đường rẻ nhất có thể.

Ở Newburyport, người dân nói với tôi rằng cần bắt tàu hoả hơi nước để đến Arkham; và khi đến phòng vé của nhà ga, lúc tôi kì kèo giá vé cao, tôi mới được biết về Innsmouth. Người nhân viên mập mạp, mặt mũi đây vẻ ranh ma, với chất giọng cho thấy anh ta không phải là dân địa phương, có vẻ thông cảm với nỗ lực tiết kiệm tiền của tôi, và đưa ra một gợi ý mà không ai trong số những người cung cấp thông tin khác của tôi từng đề xuất.

“Cậu đi chuyến xe buýt cũ đó cũng chẳng hại gì đâu,” anh ta nói với chút do dự, “nhưng dân quanh đây không ưa nó lắm. Nó đi qua Innsmouth ấy mà – có thể cậu đã nghe kể về nơi đó – thế nên mọi người mới không thích chuyến này. Lái xe là một tay Innsmouth - Joe Sargent nhưng không bao giờ có khách nào đi từ đây, tôi đoán là cả Arkham nữa. Chẳng hiểu sao chuyến vẫn tiếp tục chạy. Tôi nghĩ nó đủ rẻ, nhưng tôi không bao giờ thấy hơn hai hay ba người trên xe không ai khác ngoài đám dân ở Innsmouth. Khởi hành từ chỗ quảng trường trước hiệu thuốc Hammond – lúc mười giờ sáng và bảy giờ tối, trừ khi dạo gần đây họ đã thay đổi lịch. Trông như một mớ đồng nát kinh khủng ấy – tôi chưa bao giờ đi chuyến ấy cả.”

Đó là lần đầu tiên tôi nghe về Innsmouth hắc ám. Bất kì lời ám chỉ nào về một thị trấn không xuất hiện trên các bản đồ thông thường hoặc được liệt kê trong sách hướng dẫn du lịch xuất bản gần đây đều khiến tôi quan tâm, và phong thái kì quặc của anh chàng nhân viên lúc đả động đến nó thật sự đã khơi dậy óc tò mò của tôi.

Tôi thầm nghĩ rằng một thị trấn bị dân tình xung quanh thù ghét đến vậy hẳn ít nhất cũng khá bất thường, và là một nơi đáng để tham quan. Nếu nó là bến trước Arkham, tôi sẽ dừng ở đó – và vì vậy tôi yêu cầu người nhân viên cho mình biết đôi điều về nó. Anh ta suy nghĩ rất cẩn thận, và trả lời với phong thái như thể mình thượng đẳng hơn những gì đang kể.

"Innsmouth ấy à? Chà, đó là một thị trấn kì quái ở cửa sông Manuxet. Trước đây, chỗ đấy gần như là một thành phố – một cảng khá lớn trước cuộc chiến năm 1812(1) – nhưng đã suy thoái hoàn toàn trong tầm một trăm năm qua. Bây giờ không có tuyến đường sắt nào nữa – B. & M. (2) không bao giờ xây đến đây, và tuyến đường nhánh từ Rowley(3) đã bị bỏ dở từ nhiều năm trước rồi.

(1) Chiến tranh Hoa Kỳ – Anh Quốc, hay còn được gọi với cái tên Chiến tranh năm 1812, là cuộc xung đột vũ trang giữa các lực lượng quân đội Hoa Kỳ và quân đội Đế quốc Anh, diễn ra từ 18/6/1812 đến 17/2/1815.

(2) Boston and Maine Railroad: Một công ty đường sắt của Mỹ ở phía Bắc New England.

“Tôi đoán nó có nhiều nhà trống hơn số lượng dân cư, và không có hoạt động làm ăn nào đáng nhắc đến ngoại trừ đánh bắt cá và tôm cua. Tất cả mọi người buôn bán chủ yếu ở đây hoặc ở Arkham và Ipswich. Từng một thời có khá nhiều nhà máy, nhưng bây giờ thì chẳng còn gì ngoài một nhà máy luyện vàng với lượng nhân lực bán thời gian tối thiểu.

“Tuy nhiên, nhà máy luyện vàng đó từng là một nhà máy lớn, và Lão Khọm Marsh, chủ sở hữu của nó, hẳn phải giàu có hơn Croesus (4). Tuy nhiên, lão là một kẻ kì quái, cứ ru rú trong nhà. Nghe bảo lão mắc phải một chứng bệnh da liễu hay dị tật nào đó lúc về già, khiến cho lão phải sống ẩn dật.

Cháu trai của Thuyền trưởng Obed Marsh, người sáng lập nhà máy. Mẹ lão hình như là người ngoại quốc – họ nói bà ta là một người dân đảo Nam Thái Bình Dương – thế nên mọi người cùng chung tay nuôi nấng Cain cho đến khi lão kết hôn với một cô gái quê Ipswich năm mươi năm trước. Dân Innsmouth luôn làm thế, và những người ở quanh đây luôn cố gắng che đậy bất cứ chút máu Innsmouth nào mình sở hữu. Nhưng theo như những gì tôi thấy, lũ con cháu nhà Marsh trông chẳng có gì bất thường cả. Người ta đã chỉ mặt chúng cho tôi thấy ở đây – nhưng, giờ ngẫm lại, dạo gần đây mấy đứa lớn dường như không xuất hiện nữa. Chưa bao giờ nhìn thấy lão già.

(3) Một nhà ga ở Rowley, Massachusetts. Đây là trạm áp chót trên nhánh Newburyport của tuyến NewburyportRockport.

(4) Croesus: Vị vua cuối cùng của xứ Lydia (vương quốc thời đồ sắt nằm ở phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), trị vì từ năm 560 TCN đến năm 546 TCN, được biết đến vì khối của cải khổng lồ.

“Tại sao tất cả mọi người lại khinh thường Innsmouth thế à? Anh bạn trẻ ơi, cậu đừng có quá tin những gì người dân ở đây nói. Khó cạy miệng họ lắm, nhưng một khi đã bắt đầu nói thì họ sẽ không bao giờ dừng lại. Tôi đoán họ đã đồn đại nhiều điều về Innsmouth – chủ yếu thì thầm rỉ tai nhau thôi – suốt cả trăm năm qua, và tôi nghĩ họ làm vậy vì sợ hãi hơn bất cứ điều gì khác.

Một số câu chuyện sẽ khiến cậu không khỏi bật cười – lão Thuyền trưởng Marsh đã giao kèo với ác quỷ và đưa quỷ sứ ra khỏi địa ngục để sống ở Innsmouth chẳng hạn, hoặc một trò thờ phụng ma quỷ và hiến tế khủng khiếp ở nơi nào đó gần bến tàu mà thiên hạ đã tình cờ phát hiện ra vào khoảng năm 1845 nhưng tôi đến từ Panton, Vermont, và tôi không tin mấy kiểu chuyện đó đâu.

“Tuy nhiên, cậu nên nghe những gì mấy người già kể về cái rạn san hô hắc ám ngoài khơi – họ gọi nó là Rạn Quỷ. Phần lớn thời gian nó lộ trên mặt nước, và không bao giờ chìm quá sâu xuống dưới, nhưng khó có thể gọi nó là một hòn đảo. Theo lời đồn thì đôi khi người ta nhìn thấy nguyên cả một đoàn quỷ trên rạn san hô đó – nằm ườn khắp nơi, hay chui ra chui vào một số hang động gần đỉnh. Nó là một cái rạn lởm chởm, không bằng phẳng, nằm ngoài khơi hơn một cây số rưỡi, và hồi trước, vào cuối ngày vận chuyển, các thuỷ thủ thường đi vòng rất xa chỉ để tránh nó.

“Nhưng đó là các thuỷ thủ không đến từ Innsmouth. Một trong những điều họ không ưa về lão Thuyền trưởng Marsh là theo lời đồn, lão đôi khi cập bến cái rạn đó vào ban đêm khi thuỷ triều lên. Có khi đúng là lão làm vậy thật, tôi dám nói rằng cái ghềnh đá đấy khá thú vị, và cũng không loại trừ khả năng lão tìm kiếm của để cướp, mà có khi lão tìm thấy nó thật; nhưng có tin đồn là lão thương lượng với quái vật ở đó. Thực tình mà nói, tôi đoán xét tổng thể thì lão Thuyền trưởng chính là người khiến cho rạn san hô bị mang tiếng xấu.

“Đó là trước đại dịch năm 1846, khi hơn một nửa số dân ở Innsmouth bị chở đi. Họ không bao giờ phát hiện ra được vấn đề là gì, nhưng có lẽ đó là một loại bệnh ngoại lai từ Trung Hoa hoặc đâu đó do tàu bè vận chuyển đến. Thật sự rất tệ hại – đã có những cuộc bạo loạn nổ ra vì nó, và đủ những việc làm ghê rợn mà tôi không tin là từng có ai ngoài thị trấn hay biết – đại dịch khiến cái nơi ấy rơi vào tình trạng rất thảm hại. Không bao giờ phục hồi được – bây giờ không thể có quá ba hoặc bốn trăm người sống ở đó.

“Nhưng lí do thực sự khiến cho thiên hạ cảm thấy như thế chỉ đơn giản là phân biệt chủng tộc thôi – và tôi không nói rằng mình trách cứ gì những người mang định kiến như thế đâu nhé. Bản thân tôi cũng ghét đám dân Innsmouth đó, và tôi không muốn đặt chân đến thị trấn của họ. Chắc cậu cũng biết – mặc dù tôi có thể thấy cậu là người miền Tây thông qua cái kiểu ăn nói của cậu – rất nhiều tàu New England của chúng tôi từng trao đổi buôn bán với các bến cảng kì quái ở châu Phi, châu Á, Nam Thái Bình Dương và mọi nơi khác, và họ đôi khi mang những chủng người kì quái theo về với mình. Cậu chắc đã nghe nói về cái tay Salem đem một cô vợ Trung Hoa về nhà, có khi cậu biết vẫn còn có một nhóm dân đảo Fiji ở đâu đó quanh Mũi Cod rồi đấy.

“Hẳn phải có một chuyện gì đó giống như thế đằng sau đám dân Innsmouth. Cái nơi này vốn luôn bị đầm lầy và những con lạch làm cho tách biệt hẳn khỏi phần còn lại của đất nước, và chúng ta không thể biết chắc được sự tình cụ thể là sao; nhưng rõ ràng là lão Thuyền trưởng Marsh hẳn đã mang về nhà một số tộc dân kì lạ hồi cả ba con tàu của lão đều còn hoạt động trong những năm hai mươi và ba mươi. Chắc chắn máu dân Innsmouth ngày nay có pha lẫn một tố chất kì lạ – tôi không biết phải giải thích điều đó như thế nào, nhưng nó khiến cậu sởn gai ốc đấy. Cậu sẽ phần nào để ý thấy điều đó ở Sargent nếu cậu đi xe buýt của gã.

Một số người trong đám bọn họ có đầu hẹp đến quái đản với cái mũi tẹt và mắt lồi, chòng chọc dường như không bao giờ nhắm, và da của họ có gì đó không hợp lí lắm. Thô nhám và đầy vảy, hai bên cổ thì đều bị nhăn nheo hoặc nhàu nhĩ hẳn lại. Còn bị hói từ lúc rất trẻ nữa. Đám dân lớn tuổi là trông tệ nhất – thật tình mà nói, tôi tin mình chưa bao giờ nhìn thấy ai cao tuổi trong số dân ở đó cả. Chắc họ lăn ra chết cả vì soi gương rồi! Động vật ghét họ lắm – họ từng gặp rất nhiều rắc rối với đám ngựa trước khi ô tô được đưa vào sử dụng.

“Không ai ở đây hay Arkham với Ipswich muốn dính dáng đến họ, và bản thân họ cũng hành xử kiểu khinh khỉnh khi vào thị trấn hoặc khi có bất cứ ai tìm cách đánh cá trong lãnh thổ của họ. Kì quái là cá luôn tụ rất đông ngoài cảng Innsmouth khi không có bất cứ con nào ở những vùng khác xung quanh đấy – nhưng cậu cứ thử đi câu ở đấy mà xem họ sẽ đuổi cậu đi như thế nào! Những người đó từng đến đây bằng tàu hoả – lội bộ và bắt tàu ở Rowley sau khi tuyến đường nhánh bị bãi bỏ nhưng bây giờ thì họ sử dụng xe buýt kia.

“Vâng, có một cơ sở lưu trú ở Innsmouth – Nhà trọ Gilman – nhưng tôi chẳng tin nó tử tế mấy. Tôi không khuyên cậu thử trọ ở đó đâu. Tốt hơn hết là nên ở lại đây và bắt chuyến xe buýt lúc mười giờ sáng mai; sau đó cậu có thể bắt chuyến buổi tối tới Arkham lúc tám giờ. Có một thanh tra nhà máy từng trọ lại Gilman vài năm trước, và ông ta đã ám chỉ nhiều điều không mấy thoải mái về nơi này.

Có vẻ khách ở đấy rất kì quái, ông kia đã nghe thấy giọng nói trong các phòng khác – mặc dù hầu hết các phòng đều trống rỗng – khiến bản thân không khỏi rùng mình. Ông ta thầm nghĩ nghe có vẻ như tiếng nước ngoài, nhưng ông ta nói rằng điều tồi tệ về nó là cái kiểu giọng đôi khi cất tiếng. Nghe thật phi tự nhiên – ông ta bảo là nghe cứ ọc ạch – khiến cho ông ta không dám cởi quần áo và đi ngủ.

Chỉ có thể thức chờ đợi và rời đi ngay khi trời sáng. Cuộc nói chuyện diễn ra gần như suốt đêm.

“Cái ông tên Casey này nói rất nhiều về cách đám dân Innsmouth theo dõi ông ta và trông có vẻ cảnh giác. Ông ta thấy nhà máy luyện vàng Marsh là một nơi kì quái – nó nằm trong một nhà máy cũ trên thác hạ của sông Manuxet. Những gì ông ta nói ăn khớp với những gì tôi đã nghe. Sổ sách rất cẩu thả, và không có chương mục rõ ràng về bất kì giao dịch nào. Cậu biết đấy, việc gia đình nhà Marsh lấy đâu ra chỗ vàng mà họ dùng để tinh luyện vốn luôn là một bí ẩn. Họ chẳng bao giờ mua lắm nguyên liệu, nhưng nhiều năm trước, họ đã chuyển đi kha khá vàng thỏi.

“Trước đây người ta hay bàn tán về một kiểu trang sức ngoại kì quái mà các thuỷ thủ và nhân viên nhà máy luyện đôi khi vẫn bán lén, hay đã một hay hai lần gì đó, người ta trông thấy cánh phụ nữ nhà Marsh đeo chúng. Thiên hạ đoán rằng có khi lão Thuyền trưởng Obed đã đổi lấy chúng ở một cảng biển tà đạo nào đó, đặc biệt là vì lão luôn đặt mua rất nhiều hạt cườm và các món đồ rẻ tiền mà dân đi biển vẫn thường dùng để trao đổi với người bản địa.

Một số người khác nghĩ và vẫn cho rằng lão đã tìm thấy một kho trữ báu vật cũ của hải tặc ngoài Rạn Quỷ. Nhưng lạ một điều là thế này. Lão Thuyền trưởng già đã chết được sáu mươi năm rồi, và kể từ hồi Nội Chiến đến nay chưa có một con tàu to nào ra đó cả; nhưng dẫu vậy, người ta bảo với tôi rằng gia đình nhà Marsh vẫn tiếp tục mua mấy món để trao đổi với dân bản địa – chủ yếu là thuỷ tinh và những món cao su vớ vẩn. Có khi đám dân Innsmouth thích nhìn ngắm chính mấy món đó.

“Trận dịch năm 1846 hẳn là đã khử mất những người mang máu tử tế nhất ở nơi ấy. Dù gì thì gì, bây giờ họ đáng ngờ lắm, gia đình Marsh và những kẻ giàu có khác cũng tệ chẳng kém gì ai. Như tôi đã kể với cậu đấy, chắc chẳng có hơn bốn trăm người trong toàn thị trấn, bất chấp diện tích rộng lớn của chỗ đấy. Tôi đoán ở mạn dưới Nam, người ta gọi họ là dân da trắng rác rưởi – vô pháp vô thiên và quỷ quyệt, đầy những trò bí bí ẩn ẩn. Họ có rất nhiều cá và tôm hùm, xuất khẩu bằng xe tải. Kì quái là cá lại cứ tụ hết ở đó chứ không phải là nơi nào khác.

“Không ai có thể theo dõi được những người này, và các quan chức nhà nước cũng như những người điều tra dân số đã gặp rất nhiều khó khăn. Xin cam đoan với cậu rằng những người lạ tọc mạch không được chào đón ở Innsmouth đâu. Bản thân tôi đã nghe kể về nhiều hơn một doanh nhân hay nhân viên nhà nước biến mất ở đó, người ta đồn rằng một người đã phát điên và bây giờ đang ở trong bệnh viện Danvers. Họ hẳn là đã bày ra trò hù doạ nào đấy rất kinh khủng với cái người đó.

“Chính vì thế mà nếu là cậu, tôi sẽ không đi vào ban đêm đâu. Tôi chưa bao giờ đến đó và không muốn đến chút nào, nhưng tôi tin đi vào ban ngày sẽ chẳng có hại gì cho cậu cả – dù những người ở đây sẽ khuyên cậu không nên đi. Nếu cậu chỉ tham quan và tìm kiếm những thứ thời xưa, Innsmouth sẽ là một nơi khá phù hợp với cậu.”

Và vì vậy, tôi đã dành một phần của buổi tối hôm đó tại thư viện công Newburyport để tra cứu dữ liệu về Innsmouth. Khi thử dò hỏi dân bản địa trong các cửa hàng, tiệm ăn trưa, nhà để xe, và trạm cứu hoả, tôi thấy họ thậm chí còn khó cạy miệng hơn so với dự đoán của anh chàng nhân viên bán vé; và tôi nhận ra rằng mình không thể phung phí thời gian để vượt qua bản tính kín tiếng lúc mới đầu của họ được.

Họ mang một sự ngờ vực mơ hồ, như thể có điều gì đó không ổn với bất kì ai quan tâm đến Innsmouth một cách quá đà. Tại Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc giáo, nơi tôi đang dừng chân, cậu nhân viên chỉ đơn thuần khuyên can tôi đừng đến một nơi u ám, suy đồi như vậy; những người ở thư viện cũng tỏ thái độ tương tự. Rõ ràng, trong con mắt của những người có học thức, Innsmouth chỉ đơn thuần là một trường hợp dân tình bị thoái hoá nặng.

Các cuốn lịch sử của hạt Essex trên kệ sách thư viện chẳng có thông tin gì nhiều nhặn để cung cấp, ngoại trừ việc thị trấn được thành lập năm 1643, trứ danh với ngành đóng tàu trước Cách mạng, một thị trấn cảng rất thịnh vượng vào đầu thế kỉ thứ mười chín, và sau đó là một trung tâm công nghiệp nhỏ, tận dụng sông Manuxet để lấy năng lượng. Trận dịch bệnh và bạo loạn năm 1846 được đề cập đến rất qua loa, như thể chúng làm hạt bị mất uy tín.

Rất ít thứ đề cập đến quá trình suy thoái, mặc dù giai đoạn này mang ý nghĩa hệ trọng không thể chối bỏ. Sau Nội Chiến, toàn bộ hoạt động công nghiệp chỉ giới hạn trong Công ty Tinh luyện Marsh, và việc buôn bán vàng thỏi cấu thành hoạt động thương mại lớn duy nhất còn sót lại bên cạnh công việc đánh bắt cá muôn thuở.

Công việc đánh bắt ngày càng mang lại ít lợi nhuận hơn vì giá cả của mặt hàng ấy thụt giảm và các tập đoàn quy mô lớn tham gia cạnh tranh, nhưng quanh cảng Innsmouth không bao giờ thiếu cá. Người ngoại quốc hiếm khi định cư ở Innsmouth, và bất chấp đã bị che giấu cẩn thận, vẫn có một số bằng chứng cho thấy rằng một số người Ba Lan và Bồ Đào Nha từng thử làm vậy đã bị xua đi theo một kiểu cực kì tàn khốc.

Thú vị nhất trong số tất cả các thông tin này là một bài viết nhắc qua đến mấy món đồ trang sức kì lạ hơi được cho là có dính dáng đến Innsmouth. Chúng rõ ràng đã gây ấn tượng đáng kể cho toàn miền quê này, bởi vì bài viết có đề cập đến các mẫu vật trong bảo tàng của Đại học Miskatonic tại Arkham, và trong phòng trưng bày của Hiệp hội Lịch sử Newburyport.

Các đoạn mô tả rời rạc về các món trang sức rất sơ sài và tẻ ngắt, nhưng chúng vẫn gợi cho tôi cảm giác ẩn chứa đằng sau là một sự kì quái bất biến. Chúng mang nét gì đó hết sức kì quặc và khơi gợi, đến nỗi tôi không tài nào gạt bỏ được chúng ra khỏi tâm trí của mình, và mặc dù bấy giờ đã tương đối trễ, tôi quyết định đi xem mẫu vật tại địa phương – theo lời tả thì là một món trang sức lớn, với tương quan tỉ lệ quái đản, rõ ràng là được thiết kế để dùng làm vương miện đội đầu – nếu có thể thu xếp được chuyện ấy.

Người thủ thư cấp cho tôi một giấy giới thiệu để đưa cho người quản lí Hiệp hội, một bà tên Anna Tilton, sống gần đó, và sau lời giải thích ngắn gọn, người phụ nữ già hiền hậu đã tử tế đưa tôi vào toà nhà bấy giờ đã đóng cửa, vì hiện vẫn chưa quá khuya khoắt. Bộ sưu tập thực sự rất đáng chú ý, nhưng trong tâm trạng hiện tại, tôi chẳng quan tâm đến gì ngoài vật thể kì quái trong một cái tủ nằm ở góc phòng, lấp lánh dưới những ngọn đèn điện.

Không cần phải quá nhạy bén với cái đẹp thì tôi cũng há hốc kinh ngạc trước sự lộng lẫy kì lạ, huyền ảo của thứ tạo vật mơ tưởng xa lạ, sang trọng, hiện đang đặt trên tấm đệm nhung tím kia. Ngay cả bây giờ, tôi cũng khó lòng tả nổi thứ mình nhìn thấy, mặc dù nó rõ ràng là một kiểu vương miện, hệt như những gì mô tả đã ghi. Mặt trước của nó cao, kèm theo một cái vành rất lớn và có hình dáng bất thường đến lạ lùng, như thể được thiết kế cho một cái đầu với dáng hình quái dị, gần như là elip. Vật liệu chế tác dường như chủ yếu là vàng, mặc dù nó sở hữu một sắc bóng nhẹ khác thường, cho thấy nó được pha trộn với một thứ kim loại lạ đẹp chẳng kém và không rõ danh tính nào đấy. Món đồ ở trong tình trạng gần như hoàn hảo, và ta có thể bỏ ra hàng giờ để nhìn ngắm các thiết kế ấn tượng và phi truyền thống đến khó hiểu – một số chỉ là hình học đơn giản, và một số trông rõ là hình ảnh biển được khắc hay đúc thành các hình nổi cao một cách khéo léo và thanh nhã đến đáng kinh ngạc trên bề mặt.

Càng nhìn lâu, cái vật này càng hớp hồn tôi; và lẫn vào với sự mê hoặc ấy là một nét bất an lạ thường, khó lòng phân loại hoặc lí giải nổi. Mới đầu tôi quyết định rằng thứ khiến mình cảm thấy không thoải mái chính là cái bản chất phi thực kì quái của hình ảnh. Tất cả các tạo tác nghệ thuật khác mà tôi từng thấy đều thuộc trường phái của một chủng tộc hoặc quốc gia đã biết nào đó, hoặc không thì cũng mang phong cách cố ý đi ngược lại mọi trường phái đã được biết đến thời hiện đại.

Chiếc vương miện này không thuộc về cả hai trường hợp. Rõ ràng nó là thành phẩm của một trường phái đã định hình với mức trưởng thành và độ hoàn hảo cao tột cùng, ấy nhưng trường phái đó lại khác hẳn bất cứ trường phái nào – dù là phương Đông hay phương Tây, cổ xưa hay hiện đại – mà tôi từng nghe đến hoặc đã được diện kiến thành phẩm. Cứ như thể người thợ tạo ra nó đến từ một hành tinh khác vậy.

Tuy nhiên, tôi sớm nhận ra rằng sự khó chịu của mình còn bắt nguồn từ một nguyên nhân thứ hai và có khi cũng mạnh mẽ chẳng kém gì nguyên nhân thứ nhất, ấy chính là những yếu tố mà các mẫu hình thiết kế khác lạ đó khơi gợi ra, cả về mặt hình ảnh lẫn bản chất toán học. Tất cả các hoạ tiết đều ám chỉ đến những bí mật xa xăm và các vực thẳm ngoài sức tưởng tượng trong thời gian và không gian, và cái chất sông nước đơn điệu của các bức hình phù điêu trở nên gần như nham hiểm.

Nằm lẫn trong các bức hình đó là những con quái vật huyền hoặc, dị hợm và hiểm ác đến ghê tởm – trông nửa giống cá và nửa giống ếch nhái chúng khiến ta không khỏi liên tưởng đến một thứ na ná kí ức, đầy ám ảnh và không thoải mái, như thể chúng khơi gợi lên hình ảnh nào đó từ các tế bào và mô ẩn sâu trong cơ thể, hãy còn lưu giữ các chức năng cực kì nguyên thuỷ và vô cùng cổ xưa. Đã mấy lần tôi cứ ngỡ mọi đường nét của những con cá ếch báng bổ này đều ngập tràn thứ tinh chất tối thượng của cái ác vô danh và phi nhân tính.

Trái ngược đến lạ thường với diện mạo của chiếc vương miện là lịch sử ngắn ngủi và tẻ nhạt của nó, được bà Tilton kể lại. Nó đã bị một gã dân Innsmouth say xỉn đem đi cầm để đổi lấy một khoản tiền lố bịch tại một cửa hàng ở phố State năm 1873, và liền sau đó gã kia đã bỏ mạng trong một cuộc ẩu đả. Hiệp hội mua lại nó trực tiếp từ cửa hàng cầm đồ, và ngay lập tức cho nó một kệ trưng bày xứng đáng với phẩm chất của mình. Chiếc vương miện được đánh nhãn là có thể mang nguồn gốc Đông Ấn hoặc Đông Dương, mặc dù thẳng thắn mà nói thì thuộc tính ấy chỉ là tạm thời mà thôi.

Sau khi đã so sánh tất cả các giả thuyết tiềm tàng về nguồn gốc cũng như sự hiện diện của nó ở New England, bà Tilton tin rằng nó là một phần của kho báu hải tặc kì lạ nào đó do lão Thuyền trưởng Obed Marsh phát hiện ra. Chắc chắn một điều là độ khả thi của quan điểm này không hề suy giảm trước việc gia đình Marsh không ngừng đưa ra những đề nghị mua chiếc vương miện với mức giá cao ngay khi hay biết về sự hiện diện của nó, và họ cứ liên tục lặp đi lặp lại cho đến tận ngày hôm nay, bất chấp việc Hiệp hội cương quyết không bán.

Lúc người phụ nữ tốt bụng đưa tôi ra khỏi toà nhà, bà nói rõ rằng giả thuyết gia tài của nhà Marsh đến từ cướp biển rất được những người thông minh quanh đây ưa chuộng. Về phần Innsmouth hắc ám – nơi bà chưa thấy bao giờ – bà tỏ thái độ ghê tởm trước một cộng đồng đã thoái hoá rất nặng về mặt văn hoá, và bà cam đoan với tôi rằng những tin đồn về việc thờ phụng ma quỷ cũng phần nào có lí, bởi lẽ một giáo phái bí mật kì dị đã trỗi dậy ở đó và nhấn chìm tất cả các nhà thờ chính thống.

Bà nói nó được gọi là “Bí Hội Dagon”, và chắc chắn là một kiểu dị giáo hủ bại du nhập từ phương Đông một thế kỉ trước, vào thời điểm ngành chài lưới tại Innsmouth xem chừng sẽ trở nên suy tàn. Việc Bí Hội này cứ tồn tại dai dẳng mãi giữa một đám dân đầu óc giản đơn kể ra cũng khá tự nhiên, bởi vì cá tôm bất chợt vĩnh viễn quay trở lại với số lượng nhiều vô kể, và nó nhanh chóng trở thành tổ chức có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thị trấn, thay thế hoàn toàn Hội Tam Điểm và lấy hội trường cũ của Hội Tam Điểm chỗ New Church Green làm trụ sở.

Đối với bà Tilton ngoan đạo, tất cả điều này là lí do rất thích đáng để tránh xa cái thị trấn cổ suy tàn và hoang vắng; nhưng đối với tôi đó lại đơn thuần chỉ là một động cơ mới mẻ. Bên cạnh hào hứng tìm hiểu về kiến trúc và lịch sử, tôi giờ lại còn cực kì sốt sắng muốn khám phá về nhân học nữa, và tôi gần như chẳng tài nào ngủ nổi trong căn phòng nhỏ của mình tại Hiệp hội trong khi đêm dần trôi qua.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.