Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu

Lượt đọc: 1609 | 4 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
– V –

❊ ❊ ❊

MỘT CƠN MƯA LÂM THÂM BAN NGÀY ĐÁNH THỨC TÔI dậy từ cơn mê trên nhánh đường sắt bị bụi rậm phủ kín, và khi lảo đảo bước ra con đường phía trước, tôi không thấy bất kì dấu chân nào trong lớp bùn mới. Mùi tanh cũng đã biến mất. Những mái nhà đổ nát và các tháp chuông sụp đổ của Innsmouth vươn mình xám xịt ở phía Đông Nam, nhưng tôi không thấy sinh vật sống nào trong tất cả các đầm lầy muối hoang vắng xung quanh mình. Đồng hồ của tôi vẫn đang chạy, và cho tôi biết rằng giờ đã quá trưa.

Thực tại của những gì tôi đã trải qua rất mờ mịt trong tâm trí tôi, nhưng tôi cảm thấy rằng một cái gì đó gớm guốc nằm trong nền cảnh. Tôi phải tránh xa khỏi Innsmouth hắc ám – và vì thế, tôi bắt đầu kiểm tra cặp phương tiện chuyên chở đang chuột rút, mệt mỏi của mình. Một hồi lâu sau, mặc dù mệt lử, đói bụng, kinh hãi, và hoang mang, tôi thấy mình vẫn có thể đi được; và thế là tôi bắt đầu chậm rãi bước dọc con đường đầy bùn lầy dẫn đến Rowley.

Trước khi trời tối, tôi đã vào đến làng, kiếm được một bữa ăn bỏ bụng và quần áo tử tế. Tôi bắt chuyến tàu đêm đến Arkham, và sang ngày hôm sau thì có một buổi nói chuyện dông dài và đầy khẩn thiết với giới chức trách ở đó; sau đó tôi lặp lại quy trình này ở Boston. Công chúng giờ đã quen thuộc với kết quả chính của những cuộc nói chuyện này – và tôi mong rằng vì sự bình thường của thế giới, chẳng có gì để kể thêm nữa. Có thể nguyên nhân chỉ là tôi đang bị sự điên rồ xâm chiếm – ấy nhưng cũng có thể là một nỗi kinh hoàng khủng khiếp hơn – hay một điều kì diệu lớn lao hơn – đang vươn về phía tôi.

Như mọi người hẳn cũng có thể hình dung ra, tôi đã từ bỏ hầu hết các phần trù liệu sẽ thực hiện trong phần còn lại của chuyến tham quan của mình – những thú tiêu khiển phong cảnh, kiến trúc, và đồ cổ mà tôi từng hết sức kì vọng sẽ được tận hưởng. Tôi cũng không dám tìm thứ trang sức kì lạ mà theo lời đồn thì được cất giữ trong bảo tàng Đại học Miskatonic.

Tuy nhiên, tôi đã cải thiện quãng thời gian lưu lại ở Arkham bằng cách thu thập một số ghi chú về phả hệ mà mình đã muốn sở hữu từ lâu; không thể phủ nhận dữ liệu thu được rất thô sơ và ẩu tả, nhưng có thể sẽ hữu dụng sau này, khi tôi có thời gian để đối chiếu và hệ thống hoá chúng. Người quản lí hiệp hội lịch sử ở đó – ông E. Lapham Peabody – đã rất lịch sự hỗ trợ tôi, và tỏ vẻ hứng thú lạ thường khi tôi nói rằng mình là cháu trai của Eliza Orne ở Arkham, sinh năm 1867 và kết hôn với James Williamson ở Ohio năm mười bảy tuổi.

Có vẻ như nhiều năm trước, một người bác bên ngoại của tôi đã ghé qua đây trong một chuyến đi giống như tôi đang thực hiện; và dân địa phương phần nào tò mò về gia đình bà ngoại tôi. Ông Peabody cho biết thiên hạ đã bàn ra tán vào rất nhiều về cuộc hôn nhân tổ chức ngay sau Nội Chiến của cha bà, cụ Benjamin Orne; vì cô dâu có gốc gác cực kì khó hiểu. Cô dâu đó được biết đến là một cô gái mồ côi nhà Marsh ở New Hampshire – một người họ hàng của gia đình Marsh tại hạt Essex – nhưng bà cố tôi đi học ở Pháp và biết rất ít về gia đình mình.

Một người giám hộ gửi tiền vào một ngân hàng ở Boston để chu cấp cho bà cố cũng như bà bảo mẫu người Pháp; tuy vậy dân Arkham chưa ai từng nghe đến tên người giám hộ đó, và một thời gian sau thì ông ta biến mất, nên người bảo mẫu đảm nhận vai trò của ông ta theo lệnh của toà án. Người phụ nữ Pháp kia – nay đã mất từ lâu – rất lầm lì ít nói, và một số người nói rằng có thể bà ta biết nhiều hơn những gì mình tiết lộ.

Nhưng điều khó hiểu nhất là không ai biết được cha mẹ trên giấy tờ của bà cố tôi – Enoch và Lydia (nhũ danh: Meserve) Marsh – thuộc về gia đình nào trong số các gia đình đã được biết đến ở New Hampshire. Nhiều người cho rằng bà cố rất có thể là con gái của gia đình Marsh nổi tiếng nào đó – bà chắc chắn có đôi mắt của một thành viên nhà Marsh đích thực. Nghi ngờ chủ yếu nảy sinh sau khi bà chết trẻ, xảy ra lúc ngoại tôi chào đời – đứa con duy nhất của bà.

Sau khi đã hình thành một số ấn tượng chẳng tốt đẹp gì về cái tên Marsh, tôi không mấy hoan nghênh cái tin nó nằm trên cây gia hệ của chính mình; và tôi cũng không thấy hài lòng khi ông Peabody bảo rằng chính tôi cũng có đôi mắt đích thực của một thành viên nhà Marsh. Tuy nhiên, tôi rất biết ơn vì đã nắm được dữ liệu này, vì tôi biết sau này chúng sẽ hữu ích; và tỉ mỉ ghi lại hàng bao ghi chú cũng như thu thập danh sách các tài liệu tham khảo liên quan đến gia tộc Orne, một gia đình với nguồn tài liệu ghi chép phong phú.

Tôi đi thẳng từ Boston về nhà ở Toledo, và rồi đến Maumee ở một tháng để tĩnh dưỡng sau trải nghiệm bão táp của mình. Vào tháng Chín, tôi vào Đại học Oberlin để học năm cuối, và từ đó đến tháng Sáu năm sau vùi đầu trong nghiên cứu cũng như các hoạt động lành mạnh khác – chỉ thỉnh thoảng mới bị gợi nhớ về nỗi kinh hoàng trong quá khứ khi phải đón tiếp các nhân viên chính phủ có liên quan đến chiến dịch mà những lời khẩn cầu cùng với bằng chứng của tôi đã khơi mào.

Vào khoảng giữa tháng Bảy – chỉ một năm sau trải nghiệm tại Innsmouth tôi dành một tuần sống với gia đình người mẹ quá cố của mình ở Cleveland; đối chiếu một số dữ liệu phả hệ mới của mình với các ghi chú, truyền thuyết, và những món đồ gia truyền có ở đó, và xem mình có thể dựng lên được thứ biểu đồ kết nối nào hay không.

Tôi không thực sự thích thú gì công việc này, vì bầu không khí tại nhà Williamson luôn làm tôi cảm thấy phiền muộn. Ở đó có nét gì không lành mạnh, và mẹ chưa bao giờ khuyến khích tôi đến thăm ông bà hồi tôi còn nhỏ, mặc dù mẹ tôi luôn chào đón cha mình khi ông đến Toledo. Tôi từng cảm thấy người bà quê Arkham của mình thật kì lạ, có phần còn đáng sợ nữa, và tôi không nghĩ mình lấy làm buồn khổ gì khi bà biến mất. Hồi đó tôi mới tám tuổi, người ta nói rằng bà đã bỏ đi vì quá sầu muộn sau vụ tự tử của bác Douglas, con trai trưởng của bà. Bác đã tự sát bằng súng sau một chuyến đi tới New England – chắc chắn chính nhờ chuyến đi ấy mà Hiệp hội Lịch sử Arkham mới nhớ đến bác.

Người bác này trông giống bà, và tôi cũng chưa bao giờ thích bác cả. Có nét gì đó trong cái kiểu nhìn chòng chọc, không chớp mắt của cả hai người bọn họ khiến tôi cảm thấy một nỗi bất an mơ hồ, không thể lí giải được. Mẹ tôi và cậu Walter không trông như thế. Họ giống như cha mình, mặc dù Lawrence con trai cậu Walter – thì lại là một bản sao gần như hoàn hảo của bà tôi, trước khi tình trạng của Lawrence buộc cậu ta phải vĩnh viễn đến sống ẩn dật tại một viện điều dưỡng ở Canton. Đã bốn năm nay tôi chưa gặp em họ mình rồi, nhưng cậu tôi từng ám chỉ rằng tình trạng của cậu ta, cả về tinh thần lẫn thể chất, đều rất tồi tệ. Chắc mối lo này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của mẹ cậu ta hai năm trước.

Hiện nay gia đình ở Cleveland chỉ bao gồm ông ngoại và người cậu goá vợ Walter của tôi, nhưng kí ức thời xưa vẫn bao phủ dày đặc nơi đây. Tôi vẫn không thích nơi này, và cố gắng hoàn thành nghiên cứu của mình nhanh nhất có thể. Ông ngoại cung cấp cho tôi rất nhiều hồ sơ và truyền thuyết của nhà Williamson; mặc dù riêng với các tài liệu về nhà Orne thì tôi phải phụ thuộc vào cậu Walter của mình, và cậu đã cho tôi tuỳ ý sử dụng tất cả những gì có trong hồ sơ của ông, bao gồm ghi chú, thư từ, các mẩu báo cắt, vật gia truyền, ảnh, và tranh tiểu hoạ.

Chính trong lúc xem xét những lá thư và tranh ảnh bên phía nhà Orne, tôi bắt đầu trở nên hãi sợ gốc gác của chính mình. Như tôi đã nói, bà ngoại và bác Douglas vốn luôn làm tôi thấy không thoải mái. Bây giờ, sau khi họ đã mất nhiều năm, gương mặt trong ảnh của họ được tôi nhìn ngắm với một cảm giác ghê tởm và xa lạ gấp bội. Mới đầu tôi không thể hiểu nổi sự thay đổi ấy, nhưng dần dần một sự so sánh khủng khiếp bắt đầu lèn vào trong khối óc vô thức của tôi, cho dù phần tâm trí có ý thức của tôi dứt khoát không chịu thừa nhận mối nghi ngờ ấy chút nào. Rõ ràng là bây giờ, nét biểu cảm điển hình của những khuôn mặt này đã bắt đầu khơi gợi lên một điều mà trước nay chúng chưa từng gợi ra – một điều sẽ khiến cơn hoảng loạn tột độ ập đến nếu suy nghĩ về nó một cách quá công khai.

Nhưng cú sốc nặng nề nhất chỉ giáng xuống khi cậu Walter cho tôi xem các món trang sức nhà Orne được cất trong két an toàn ở trung tâm thành phố. Một số món khá tinh tế và khơi dậy hứng thú, nhưng có một hộp đựng đầy những món trang sức cổ kì lạ, truyền lại từ bà cố bí ẩn của tôi mà cậu Walter gần như không muốn trưng ra. Cậu nói chúng có thiết kế rất dị hợm, gần như gớm guốc, và theo như cậu tôi biết thì chưa bao giờ chúng được đeo công khai; mặc dù bà tôi hồi trước rất thích nhìn ngắm chúng.

Có một số truyền thuyết mơ hồ về việc chúng mang đến vận rủi, và bảo mẫu Pháp của bà cố từng nói không nên đeo chúng ở New England, mặc dù đeo ở châu Âu thì sẽ khá an toàn. Vừa bắt đầu chậm rãi và bất đắc dĩ mở chúng ra, cậu Walter vừa hối thúc tôi đừng bị sốc bởi sự quái lạ cũng như vẻ gớm ghiếc rất hay xuất hiện trong các mẫu thiết kế.

Các nghệ sĩ và nhà khảo cổ học từng trông thấy những món đồ này đã tuyên bố rằng chúng được chế tạo bởi một bàn tay tài ba tột bậc và vô cùng tinh tế, mặc dù xem chừng không ai xác định nổi chúng cấu thành từ vật liệu gì hay gán được chúng vào với bất kì trường phái nghệ thuật cụ thể nào. Có hai vòng tay, một vương miện và một loại trang sức đeo ngực; khắc nổi trên món trang sức đeo ngực là một số hình nhân quái dị đến gần như ngoài sức chịu đựng.

Trong lúc màn mô tả diễn ra, tôi đã kiềm chế rất chặt cảm xúc của mình, nhưng mặt tôi hẳn đã để lộ nỗi sợ hãi mình cảm thấy trong lòng. Cậu Walter trông có vẻ lo lắng, và dừng mở đồ để nghiên cứu vẻ mặt của tôi. Tôi ra hiệu cho cậu tiếp tục, và cậu chiều ý, lại tỏ vẻ ngần ngừ. Dường như cậu dự kiến sẽ có một phản ứng gì đó xảy ra khi món đầu tiên – chiếc vương miện – lộ diện, nhưng tôi không nghĩ cậu mình lường trước được điều thực sự xảy ra. Bản thân tôi cũng không ngờ nổi điều đó, bởi tôi cứ tưởng mình đã được cảnh báo đầy đủ về việc món trang sức sẽ là thứ gì. Điều tôi làm là lặng lẽ ngất đi, hệt như những gì tôi từng làm trong cái nhánh đường sắt đây bụi rậm một năm trước đó.

Kể từ ngày đó trở đi, cuộc sống của tôi biến thành một cơn ác mộng triền miên, đấy lo lắng và hãi sợ, tôi cũng chẳng biết bao nhiêu phần trong đó là sự thật gớm guốc và bao nhiêu phần là sự điên rồ. Bà cố của tôi từng là một thành viên nhà Marsh không rõ nguồn gốc, có chồng sống ở Arkham – chẳng phải lão Zadok đã nói rằng nhờ mánh lới nào đó, con gái của Obed Marsh với bà vợ quái thai đã được gả cho một người đàn ông Arkham đó sao? Gã bợm nhậu già đã lẩm bẩm gì về việc mắt tôi giống với mắt của Thuyền trưởng Obed nhỉ? Ở Arkham, người quản lí cũng đã nói rằng tôi sở hữu đôi mắt đích thực của một thành viên nhà Marsh.

Có khi nào Obed Marsh là ông tổ của tôi không? Thế thì ai – hay thứ gì – là bà tổ của tôi? Nhưng có thể tất cả những điều này chỉ là sự điên rồ. Những món trang sức vàng trắng đó hoàn toàn có thể đã được cha của bà cố tôi, bất kể ông là ai, mua lại từ một tay thuỷ thủ Innsmouth nào đó. Và cái nét trong khuôn mặt dõi mắt nhìn chòng chọc của bà ngoại tôi cũng như người bác đã tự sát có thể chỉ do tôi đơn thuần tưởng tượng ra mà thôi trí tưởng tượng thuần tuý, được củng cố bởi sự tăm tối tại Innsmouth, khiến cho đầu óc của tôi trở nên u ám hẳn. Nhưng tại sao bác tôi lại tự sát sau một chuyến đi tìm hiểu phả hệ tại New England cơ chứ?

Suốt hơn hai năm, tôi kháng cự lại những suy nghĩ ấy và đã phần nào thành công. Cha xin cho tôi vào làm trong một văn phòng bảo hiểm, và tôi vùi mình vào lề thói công việc sâu hết mức có thể. Tuy nhiên, vào mùa đông cuối năm 1930 đầu năm 1931, những giấc mơ bắt đầu xuất hiện. Mới đầu chúng rất thưa thớt và âm thầm, nhưng cứ mỗi tuần trôi qua, tần suất và độ sống động của chúng lại tăng lên.

Những vùng không gian nước mênh mông mở ra trước mắt tôi, và tôi như lang thang qua những mái cổng và mê cung khổng lồ chìm dưới nước, cấu thành từ những bức tường ngoại cỡ bám đầy cỏ dại, và đi cùng tôi là những con cá dị hợm. Thế rồi các hình dạng khác bắt đầu xuất hiện, khiến tôi tràn ngập một nỗi kinh hoàng vô danh ngay khi thức dậy. Nhưng trong những giấc mơ, chúng không làm tôi kinh hãi chút nào – tôi hoà chung với chúng; mặc những bộ lễ phục phi nhân của chúng, đi trên những con đường ngập nước của chúng, và cầu nguyện một cách quái dị tại những ngôi đền dưới đáy biển xấu xa của chúng.

Có nhiều hơn những gì tôi có thể nhớ, nhưng ngay cả những gì tôi lưu giữ trong đầu mỗi sáng cũng đủ để khiến tôi trở thành một kẻ điên hoặc một thiên tài nếu dám ghi lại nó. Tôi có cảm tưởng là một thế lực đáng sợ nào đó đang tìm cách dần kéo tôi ra khỏi thế giới tỉnh táo của sự sống lành mạnh, vào trong những vực thẳm không thể nêu danh của bóng tối và sự xa lạ. Quy trình đó tác động vô cùng nặng nề đến tôi. Sức khoẻ và ngoại hình của tôi ngày càng tệ đi, cho đến cuối cùng tôi buộc phải từ bỏ công việc của mình và chấp nhận cuộc sống tĩnh lặng, biệt lập của một người tàn phế. Một chứng bệnh thần kinh kì lạ nào đó đã xâm chiếm lấy tôi, và đôi lúc tôi gần như không thể nhắm mắt.

Đó là lúc tôi bắt đầu ngày một hoảng hốt khi soi gương. Nhìn ngắm quá trình tàn phá chậm rãi của bệnh tật không phải là điều dễ chịu, nhưng trường hợp của tôi thì quá trình này còn mang nét gì đó quỷ quyệt và khó hiểu hơn. Cha tôi dường như cũng nhận thấy điều đó, vì ông bắt đầu nhìn tôi với ánh mắt lạ thường và gần như sợ hãi. Điều gì đang xảy ra với tôi vậy? Có khi nào tôi đang trở nên giống như bà ngoại và bác Douglas của mình không?

Một đêm nọ, tôi có một giấc mơ kinh hoàng, trong đó tôi gặp bà ngoại mình dưới biển. Bà sống trong một cung điện lân quang với nhiều sân hiên, những khu vườn san hô kì lạ và hoa có nhánh dị hợm, bà chào đón tôi với một sự nồng ấm chưa biết chừng là nhạo báng. Bà đã thay đổi – giống như sự thay đổi của những người xuống dưới nước – nói với tôi rằng bà chưa từng chết bao giờ cả. Thay vào đó, bà đi đến một nơi mà đứa con trai quá cố của bà đã biết đến, và nhảy tới một cõi với những kì quan đã bị bác vứt bỏ với một khẩu súng lục bốc khói, mặc dù chúng cũng dành cho cả bác nữa. Đây cũng sẽ là cõi của tôi – tôi không thể thoát khỏi nó. Tôi sẽ không bao giờ chết đi, mà sẽ sống cùng với những kẻ đã tồn tại từ thời trước khi con người xuất hiện trên Trái Đất.

Tôi cũng gặp thứ từng là bà tổ của mình. Suốt tám mươi nghìn năm, Pththya-l'yi đã sống ở Y'ha-nthlei, và bà đã quay trở lại đó sau khi lão Obed Marsh chết. Y'ha- nthlei không bị huỷ diệt khi những người trên mặt đất phóng cái chết xuống dưới lòng biển. Nó bị tổn thương, nhưng không bị huỷ diệt. Các Thâm Hải Thần không bao giờ có thể bị huỷ diệt, mặc dù ma thuật kỉ Cổ cận của các Đại Cổ Thần đã bị lãng quên đôi khi có thể chế ngự chúng.

Bấy giờ chúng sẽ nghỉ ngơi; nhưng một ngày nào đó, nếu chúng nhớ, chúng sẽ lại trỗi dậy để thực hiện lễ triều cống mà Cthulhu vĩ đại thèm muốn. Lần tới sẽ là một thành phố lớn hơn Innsmouth. Chúng đã lên kế hoạch lan toả đi khắp nơi, và đã đưa thứ sẽ giúp mình lên cạn, nhưng bây giờ chúng lại phải chờ đợi. Tôi sẽ phải đền tội vì đã mang đến cái chết của những người trên mặt đất, nhưng hình phạt sẽ không nặng nề. Chính trong giấc mơ này, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một shoggoth, và cảnh tượng ấy khiến tôi choàng tỉnh trong một cơn la hét điên cuồng. Sáng hôm đó, chiếc gương khẳng định chắc chắn với tôi rằng tôi đã có diện mạo Innsmouth.

Cho đến nay, tôi vẫn chưa tự bắn mình như bác Douglas của tôi đã làm. Tôi mua một khẩu súng tự động và suýt nữa thì đã thực hiện bước này, nhưng một số giấc mơ đã ngăn cản tôi. Nỗi kinh hoàng đang dần không còn căng thẳng đến tột độ nữa, và quái lạ thay, tôi cảm thấy mình bị những vùng đáy biển sâu chưa biết lôi cuốn thay vì làm cho hãi sợ. Tôi nghe và làm những điều kì lạ trong giấc ngủ, rồi thức dậy trong một trạng thái hớn hở thay vì hãi hùng.

Tôi không tin mình cần đợi tới lúc đã thay đổi hoàn toàn như hầu hết những người khác. Nếu tôi làm thế, cha có lẽ sẽ nhốt tôi trong một viện điều dưỡng, giống như người em họ đáng thương của tôi đã bị nhốt. Những sự huy hoàng kì diệu và chưa từng được biết đến đang chờ đợi tôi bên dưới, và tôi sẽ sớm tìm đến với chúng. Iä-R'lyeh! Cthulhu fhtagn! lä! lä! Không, tôi sẽ không tự sát – tôi không thể bị buộc cho tự sát được!

Tôi sẽ lên kế hoạch giúp em họ mình trốn thoát khỏi cái trại thương điên ở Canton đó, và chúng tôi sẽ cùng nhau đi đến Innsmouth diệu kì. Chúng tôi sẽ bơi ra rạn san hô u ám đang chìm trong biển và lặn xuống những vực thẳm đen ngòm để đến Y'ha-nthlei khổng lồ với nhiều trụ cột, và trong cái hang ổ ấy của các Thâm Hải Thần, chúng tôi sẽ vĩnh viễn sống giữa những kì quan và tiên cảnh.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.