NẾU ÔNG TRỜI MÀ CÓ NHÃ HỨNG MUỐN PHÙ HỘ TÔI, xin hãy xoá bỏ hoàn toàn hệ quả của cái lần tôi tình cờ trông thấy một tờ giấy lót kệ nằm vạ vật. Đó không phải là thứ tôi sẽ tự nhiên bắt gặp nếu cứ sinh hoạt như bình thường, bởi vì nó là một số cũ của tạp chí Úc, tờ Sydney Bulletin, số ra ngày 18 tháng Tư, 1925. Nó thậm chí còn không lọt lưới công ty theo dõi tin tức từng tất bật thu thập tài liệu để phục vụ nghiên cứu của ông chú tôi vào thời điểm bài báo được xuất bản.
Lúc bấy giờ, tôi gần như đã từ bỏ cuộc điều tra tổ chức mà Giáo sư Angell gọi là “Giáo phái Cthulhu”, và đang đến thăm một người bạn học giả ở Paterson (New Jersey), quản lí viên của bảo tàng địa phương kiêm một nhà khoáng vật học tiếng tăm.
Một ngày nọ, trong lúc đang nhìn ngắm các mẫu vật bị đặt bừa bộn trên các kệ lưu trữ trong gian phòng nằm ở khu sau của bảo tàng, tôi tình cờ trông thấy một bức ảnh lạ trên một trong những tờ giấy cũ trải dưới những viên đá. Đó chính là tờ Sydney Bulletin mà tôi đã đề cập đến, vì bạn tôi là người có quan hệ rất rộng ở mọi vùng miền hải ngoại; và nó đăng tải một bức ảnh nửa tông, chụp một bức tượng đá gớm guốc, gần như giống hệt thứ Legrasse đã tìm thấy trong đầm lầy.
Tôi hăm hở gạt bỏ mấy món hiện vật quý giá mà nó nâng đỡ, và đọc kĩ lưỡng bài báo. Tôi được một phen thất vọng khi thấy bài báo chẳng dài lắm. Tuy nhiên, nó chỉ ra một điều có ý nghĩa hết sức quan trọng với cuộc điều tra đang ngày một hạ nhiệt của tôi. Tôi cẩn thận xé bài báo ra để ngay lập tức bắt tay vào hành động. Nó có nội dung như sau:
PHÁT HIỆN TÀU VÔ CHỦ BÍ ẨN NGOÀI KHƠI
“Tàu Vigilant kéo theo du thuyền New Zealand có vũ trang vào bến. Trên tàu có một người sống sót và một thi thể. Câu chuyện về một trận chiến tuyệt vọng và thương vong ngoài biển. Thuỷ thủ được giải cứu từ chối thuật lại chi tiết trải nghiệm kì lạ của mình. Anh ta được phát hiện sở hữu tượng thờ kì lạ. Chuẩn bị tiến hành điều tra.
Tàu chở hàng Vigilant của Công ty Morrison, khởi hành từ Valparaiso, sáng nay đã cập bến tại cảng Darling, kéo theo một chiếc du thuyền hơi nước đã bị tấn công và vô hiệu hoá, dù được vũ trang đầy đủ. Đấy là thuyền Alert, khởi hành từ Dunedin, N. Z., được phát hiện vào ngày 12 tháng Tư tại vĩ độ 34° 21’ Nam, kinh độ 152° 17' Tây với một người còn sống và một người đã chết trên boong.
Tàu Vigilant rời Valparaiso vào ngày 25 tháng Ba, và đến mùng 2 tháng Tư thì bị giông bão dữ dội và sóng lớn đầy lệch hẳn về phía Nam so với lộ trình. Ngày 12 tháng Tư, Vigilant quan sát thấy chiếc thuyền vô chủ. Mặc dù trông có vẻ bị bỏ hoang, nhưng khi lên thuyền, thuỷ thủ đoàn Vigilant phát hiện ra một người sống sót trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh và một người đàn ông rõ ràng đã chết được hơn một tuần.
Người còn sống lúc bấy giờ nắm chặt trong tay một bức tượng thờ khủng khiếp bằng đá, không rõ nguồn gốc, cao khoảng ba mươi phân. Các chuyên gia tại Đại học Sydney, Hội Hoàng gia, và bảo tàng phố College đều nói họ hoàn toàn không thể xác định được bản chất của bức tượng, và người sống sót bảo rằng anh ta đã tìm thấy nó trong cabin thuyền, tại một cái miếu nhỏ được chạm khắc hoa văn không có gì đặc biệt.
Sau khi hồi tỉnh, người đàn ông đã thuật lại một câu chuyện hết sức kì lạ, có liên quan đến cướp biển và giết chóc. Anh ta là Gustaf Johansen, một người Na Uy có chút đầu óc, và từng là thuyền phó hai của con thuyền hai buồm Emma ở Auckland, dong buồm đi Callao vào ngày 20 tháng Hai với thuỷ thủ đoàn gồm mười một người. Anh ta nói thuyền Emma đã bị cơn bão lớn ngày 1 tháng Ba gây trì hoãn và đánh bạt hằn về phía Nam so với lộ trình gốc.
Vào ngày 22 tháng Ba, ở vĩ độ 49° 51′ Nam, kinh độ 128° 34' Tây, thuyền họ đã giáp mặt thuyền Alert, do một đám dân Kanak cùng những người lai kì quái, mặt mày bặm trợn làm chủ. Khi bị chúng bắt phải quay đầu, thuyền trưởng Collins từ chối. Và thế là đám thuỷ thủ đoàn kì lạ bất chợt bắt đầu nổ súng dã man vào thuyền Emma bằng một loạt súng thần công hạng nặng khác thường mà thuyền của chúng được trang bị.
Người sống sót nói rằng thuỷ thủ đoàn Emma đã chống trả, và mặc dù những lỗ đạn bên dưới làn nước đã bắt đầu khiến con thuyền chìm xuống, họ vẫn xoay xở đưa tàu đến bên cạnh kẻ thù của mình và lên boong nó, vật lộn với đám thuỷ thủ mọi rợ trên boong du thuyền, và nhờ số lượng nhỉnh hơn chút ít mà đã giết được hết tất cả. Họ buộc phải làm vậy bởi chúng chống trả cực kì tởm lợm và đầy tuyệt vọng, dù rằng khá lóng ngóng.
Ba người của thuyền Emma, gồm cả Thuyền trưởng Collins và Thuyền phó Green, đã bị sát hại; tám người còn lại dưới quyền của Thuyền phó hai Johansen quay sang lèo lái chiếc du thuyền đã chiếm được, đi theo hướng ban đầu của họ để khám phá lí do họ bị bắt phải quay lại. Có vẻ sang đến ngày hôm sau, họ trông thấy và cập bến một hòn đảo nhỏ, dẫu cho không hòn đảo nào được biết đến là có tồn tại ở vùng biển này. Và bằng cách nào đó, sáu người trong số họ đã chết trên bờ, mặc dù Johansen kín miệng khác thường về phần này của câu chuyện, và chỉ nói rằng họ đã rơi xuống một vực đá.
Dường như sau đó, anh ta và một người đồng hành đã leo lên chiếc du thuyền và cố gắng lái nó, nhưng đã bị cơn bão ngày 2 tháng Tư quật đi tứ tung.
Từ lúc đó cho đến khi được giải cứu vào ngày 12, Johansen chẳng nhớ gì mấy, anh ta thậm chí còn không nhớ William Briden, người bạn đồng hành, chết khi nào. Cái chết của Briden không có nguyên nhân rõ ràng, và có khả năng là do kích động hoặc bị phơi nắng.
Điện tín từ Dunedin báo cáo rằng Alert là một tàu buôn biển đảo mà dân ở đó rất nhẵn mặt, và khét tiếng khắp vùng bờ biển. Nó thuộc sở hữu của một nhóm người lai lạ kì, thường xuyên tụ họp và vào rừng giữa lúc đêm hôm, khiến thiên hạ hết sức tò mò. Chiếc thuyền đã vội vã dong buồm ra khơi ngay sau cơn bão và mấy trận địa chấn ngày 1 tháng Ba.
Thông tín viên tại Auckland của chúng tôi nói thuyền Emma cũng như thuỷ thủ đoàn của nó vốn có tiếng tốt, Johansen được miêu tả là một người rất tỉnh táo và đáng tin cậy. Bắt đầu từ ngày mai, Bộ Hải quân sẽ triển khai điều tra toàn bộ vụ việc, và sẽ cố hết sức làm Johansen khai ra nhiều hơn những gì anh ta đã tiết lộ đến nay.”
Đó là toàn bộ nội dung, cùng với bức hình của bức tượng đáng ghê tởm kia; nhưng chuỗi ý tưởng nó khơi dậy trong tâm trí tôi mới phi thường làm sao! Đây là những kho dữ liệu quý giá mới về giáo phái Cthulhu, kèm theo bằng chứng cho thấy nó còn dính dáng đến những chuyện kì lạ ở cả ngoài biển lẫn trên đất liền. Động cơ nào đã khiến đám thuỷ thủ ra lệnh cho thuyền Emma quay đầu trong khi bản thân chúng thì đang lênh đênh trên biển với bức tượng thờ gớm guốc của mình?
Hòn đảo vô danh nơi sáu người trong số thuỷ thủ đoàn của Emma đã chết, còn Thuyền phó Johansen thì cứ giấu gia giấu giếm là gì? Cuộc điều tra do Toà án Hải quân thực hiện đã khám phá ra được những gì, và người ta đã biết gì về cái giáo phái tà ác ở Dunedin? Và quái lạ hơn cả, mối liên kết sâu xa và bất thường giữa những ngày tháng ấy đã mang lại cho các sự kiện khác nhau từng được ông chú tôi ghi chép lại hết sức cần thận một tăng ý nghĩa đấy thâm hiếm và giờ đây là vô phương phủ nhận. Nó có thể là gì được đây?
Trận động đất và cơn bão đã ập đến vào ngày mùng 1 tháng Ba – tức ngày 28 tháng Hai theo Đường phân Ngày Quốc tế của chúng ta. Thuyền Alert và thuỷ thủ đoàn ồn ã của nó vội vã rời đi từ Dunedin như thể bị triệu tập khẩn cấp, và ở đầu bên kia thế giới, các nhà thơ và nghệ sĩ bắt đầu mơ về một thành phố đá hộc ẩm ướt kì lạ, trong khi một nhà điêu khắc trẻ nhào nặn lên hình hài của Cthulhu đáng sợ trong giấc ngủ.
Ngày 23 tháng Ba, thuỷ thủ đoàn Emma đặt chân đến một hòn đảo vô danh và khiến sáu người thiệt mạng; cùng ngày đó, giấc mơ của những người cảm quan nhạy bén trở nên sống động tột cùng, đồng thời còn thêm phần u ám với nỗi hãi sợ về việc bị một con quái vật khổng lồ tàn ác săn đuổi, trong khi một kiến trúc sư đã phát điên và một nhà điêu khắc đột nhiên rơi vào mê sảng!
Và cơn bão mùng 2 tháng Tư ấy là gì – cái ngày mà tất cả những giấc mơ về thành phố ẩm ướt kia ngưng xuất hiện, và Wilcox bừng tỉnh khỏi cơn sốt kì lạ trong tình trạng không hề hấn gì? Tất cả những điều ấy nghĩa là sao và còn cả những manh mối lão Castro già đã cung cấp về các Đại Cổ Thần sinh ra trên những vì sao và nay chìm dưới đáy biển, cùng cả triều đại ngự trị sắp tới của chúng; chưa kể còn giáo phái trung thành và khả năng làm chủ giấc mơ của chúng nữa?
Phải chăng tôi đang đứng mấp mé bên bờ vực của những nỗi kinh hoàng mang tầm vóc vũ trụ, vượt ngoài khả năng chịu đựng của con người? Nếu quả đúng vậy, những nỗi kinh hoàng ấy hẳn chỉ có thể tác động đến đầu óc thôi, vì bằng cách nào đó, ngày mùng 2 tháng Tư đã khiến mối đe doạ quái ác vừa bắt đầu bủa vây linh hồn của nhân loại kia phải dừng bước, bất kể nó có là gì.
Buổi tối hôm ấy, sau một ngày vội vã đánh điện và thu xếp, tôi chào tạm biệt vị gia chủ của mình và bắt chuyến tàu đến San Francisco. Chưa đầy một tháng sau tôi đã có mặt ở Dunedin. Tuy nhiên, tại đó, tôi phát hiện ra rằng chẳng ai biết gì nhiều về các thành viên kì lạ của cái giáo phái kia, dù chúng từng lảng vảng trong các quán rượu cũ ven biển.
Dân đầu đường xó chợ xuất hiện nhan nhản ở nơi bến bãi, thế nên chẳng có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Mặc dù vẫn có đôi lời đồn đại nhỏ to về một lần lũ người lai kia đi vào sâu trong đất liền, và trong giai đoạn đó, thiên hạ để ý thấy có tiếng trống văng vẳng và ánh lửa đỏ xuất hiện trên những ngọn đồi xa. Tại Auckland, tôi được biết rằng lúc Johansen quay trở lại sau một cuộc thẩm vấn quấy quả và không dẫn đến kết luận cụ thể nào ở Sydney, mái tóc vàng của anh ta đã trở nên bạc trắng.
Johansen sau đó đã bán ngôi nhà của mình ở phố West rồi cùng vợ lên thuyền về nhà cũ ở Oslo. Ngay cả với bạn bè mình, anh ta cũng không tiết lộ gì mấy về trải nghiệm chấn động mà bản thân từng kinh qua, ngoài những gì đã thuật cho các quan chức Bộ Hải quân, và họ chẳng thể làm được gì ngoài cung cấp cho tôi địa chỉ ở Oslo của anh ta.
Sau đó, tôi đến Sydney và nói chuyện với các thuỷ thủ cũng như những thành viên trong Toà án Hải quân, nhưng chẳng gặt hái được gì hết. Tôi đã thấy chiếc Alert, nay đã được bán đi và hiện đang được sử dụng cho mục đích thương mại, ở bến tàu Circular tại Vịnh Sydney, nhưng không thu lượm được gì từ tấm thân lầm lì của nó cả.
Bức tượng ngồi chồm hỗm với cái đầu mực nang, tấm thân rồng, cặp cánh có vảy cùng phần bệ khắc chữ tượng hình, được lưu giữ trong bảo tàng tại công viên Hyde. Tôi đã nghiên cứu bức tượng kĩ lưỡng suốt một hồi lâu, và thấy nó quả là một tạo vật tinh xảo kì lạ, chưa kể còn mang kèm cái nét bí ẩn tột độ, cổ xưa khủng khiếp, và được chế tác từ một thứ vật liệu lạ kì đến phi thường mà tôi từng thấy cũng xuất hiện ở mẫu vật nhỏ hơn do Legrasse nắm giữ.
Người phụ trách nói với tôi rằng bức tượng như một bài toán hóc búa khủng khiếp với các nhà địa chất; bởi vì họ thề rằng không có thứ đá nào như thế tồn tại trên đời cả. Thế rồi tôi rùng mình nghĩ đến những gì lão Castro già đã nói với Legrasse về các Đại Thần nguyên thuỷ: “Họ đến từ những vì sao, và đã mang hình ảnh của mình theo cùng.”
Cơn rúng động tinh thần mạnh mẽ chưa từng thấy làm tôi run lẩy bẩy, và giờ tôi quyết tâm đến thăm Thuyền phó Johansen ở Oslo. Sau khi đi thuyền đến London, tôi lập tức tiếp tục lên đường đến thủ đô Na Uy, và cập bến các cầu cảng ngay ngắn dưới bóng lâu đài Egeberg vào một ngày thu. Tôi đã phát hiện ra địa chỉ của Johansen nằm trong khu Phố Cổ, nơi đã giúp lưu giữ cái tên Oslo trong suốt bao thế kỉ thành phố giả dạng là “Kristiania”(1).
(1) Phố Cổ là khu dân cư nằm trong nội đô của Oslo. Khu vực này được gọi đơn giản là Oslo đến trước năm 1925, trong khi toàn bộ thành phố thời điểm đấy mang tên Kristiania.
Tôi bắt xe taxi đi một chuyến ngắn, và với con tim nện thình thịch, gõ cửa một toà nhà sạch sẽ và cổ kính, mặt tiền trát vữa trần. Một người phụ nữ mặc đồ đen, mặt buồn rười rượi mở cửa, và tôi đến buốt cả lòng vì thất vọng khi cô bảo với tôi bằng thứ tiếng Anh ngắc ngứ rằng Gustaf Johansen đã qua đời.
Vợ Johansen nói rằng anh ta không sống được sau khi trở về, bởi lẽ những chuyện xảy ra trên biển năm 1925 đã huỷ hoại anh ta. Anh ta cũng chỉ tiết lộ với cô những điều mình đã kể với công chúng, nhưng đã để lại một bản thảo dài – theo như lời anh ta nói thì nội dung xoay quanh “các vấn đề kĩ thuật” – viết bằng tiếng Anh, rõ ràng là để cô không vô tình đọc được.
Trong một lần tản bộ trên con ngõ hẹp gần bến tàu Gothenburg, một bó giấy rơi xuống từ một cửa sổ gác mái đã khiến anh ta ngã quỵ. Có hai thuỷ thủ Ấn Độ ngay lập tức đỡ anh ta đứng dậy, nhưng xe cứu thương chưa kịp đến thì anh ta đã chết rồi. Các bác sĩ không tìm thấy nguyên nhân qua đời thoả đáng, và quy nó cho bệnh tim và thể trạng suy yếu.
Giờ thì tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi kinh hoàng tăm tối gặm nhấm gan ruột của mình. Nó sẽ đeo đẳng bám riết lấy tôi cho đến tận khi tôi cũng đã yên giấc ngàn thu; dù là theo kiểu “tình cờ” hay gì đó khác. Sau khi thuyết phục người goá phụ rằng tôi nên được nắm giữ tập bản thảo của chồng cô vì bản thân có liên quan đủ mật thiết đến “các vấn đề kĩ thuật” của anh ta, tôi mang chỗ tài liệu đi và bắt đầu đọc nó trên thuyền trở về London.
Nó là một bản thảo đơn giản, lan man – cuốn nhật kí hồi tưởng do một thuỷ thủ ngây thơ nỗ lực viết lại. Nó cố gắng tái hiện chuyến hải hành khủng khiếp cuối cùng đó, từng ngày, từng ngày một. Vì nó quá tối nghĩa và rườm rà, tôi không thể ghi lại nguyên văn toàn bộ, nhưng tôi sẽ thuật lại các ý chính thật đầy đủ, sao cho mọi người có thể hiểu rằng không phải ngẫu nhiên mà tiếng nước vỗ vào mạn thuyền lại trở nên ngoài sức chịu đựng đến nỗi tôi phải lấy bông ra bít vào tai.
Tạ ơn Chúa là Johansen không biết tường tận đầu đuôi mọi chuyện, cho dù anh ta đã nhìn thấy thành phố và Vật kia, nhưng tôi thì sẽ không bao giờ còn có thể ngủ ngon giấc được nữa mỗi khi nghĩ về những nỗi kinh hoàng đang không ngừng rình rập đằng sau trần thế, lẩn khuất trong không gian và thời gian, và về những thực thể báng bổ thánh thần đến từ các ngôi sao cổ nay đang nằm mơ màng dưới biển, được một giáo phái ghê rợn biết đến và yêu quý, và cái giáo phái ấy đang hăm hở chờ thời cơ thả bè lũ quái ác kia ra lộng hành ngoài cõi dương gian, bất cứ khi nào một trận động đất mới lại đẩy thành phố đá gớm guốc của chúng ra nơi chan hoà ánh mặt trời và không khí.
Chuyển hải hành của Johansen bắt đầu hệt như những gì anh ta đã nói với Bộ Hải quân. Thuyền Emma rời khỏi Auckland vào ngày 20 tháng Hai, không chở theo hàng hoá, và đã hứng chịu toàn bộ sự cuồng nộ của cơn bão sinh ra từ trận động đất kia. Hẳn cơn bão ấy chính là thứ đã nâng bao nỗi kinh hoàng lên khỏi đáy biển, để chúng ngập tràn những giấc mơ của con người. Sau khi đã lấy lại được kiểm soát, con thuyền có tiến độ hành trình tốt, nhưng rồi bị tàu Alert chặn lại vào ngày 22 tháng Ba, và tôi có thể cảm thấy sự tiếc nuối của viên thuyền phó khi anh ta viết về việc thuyền Emma bị bắn phá và đánh đắm. Khi kể về bọn tín đồ trên thuyền Alert, giọng anh ta đầy vẻ hãi hùng. Chúng mang nét gì đó kinh tởm khác thường, đến nỗi họ cảm thấy mình gần như có nghĩa vụ phải diệt trừ chúng, và Johansen đã sửng sốt ra mặt khi đoàn của anh ta bị phiên toà điều tra đưa ra cáo buộc là đã hành xử tàn nhẫn.
Thế rồi, dưới sự chỉ huy của Johansen, họ lèo lái chiếc du thuyền mình chiếm giữ được tới trước, bị óc tò mò thôi thúc. Bọn họ nhìn thấy một cột đá lớn nhô lên khỏi mặt biển, và ở vĩ độ 47° 9' Nam, kinh độ 126° 43' Tây thì cập bến một bờ biển, toàn bùn nước lầy lội xen với đá hộc phủ kín cỏ dại. Đây chắc chắn chỉ có thể là thứ chất hữu hình cấu thành nỗi khiếp đảm tột đỉnh của Trái Đất – thành phố chết ác mộng mang tên R'lyeh, được xây dựng từ vô vàn niên kỉ trước khi lịch sử hình thành bởi những dạng hình khổng lồ, đáng kinh tởm, tràn xuống từ những ngôi sao đen tối.
Cthulhu vĩ đại và bầy đoàn của hắn đang nằm đó, ẩn giấu trong những gian hầm xanh lá nhầy nhụa và cuối cùng, sau bao chu kì bất tận, cũng có thể truyền đi suy nghĩ nhằm lan toả nỗi sợ hãi vào trong giấc mơ của những người nhạy cảm, đồng thời hống hách hiệu triệu lũ trung thần thực hiện chuyến hành hương với mục đích giải thoát và tái lập cho mình. Johansen không hề hay biết tí gì về tất cả những điều ấy, nhưng có Chúa chứng giám, anh ta sẽ sớm được thực mục sở thị thôi!
Tôi cho rằng chỉ có một đỉnh núi duy nhất, toà thành chóp đá gớm guốc nơi Cthulhu vĩ đại bị chôn vùi, thực sự trồi lên khỏi mặt nước. Khi nghĩ về quy mô của tất cả những gì có thể đang lầm lũi dưới đó, tôi như muốn tự sát ngay tức khắc. Johansen và người của anh ta sững sờ đứng lặng bởi sự hùng vĩ của cái điện Babylon nhỏ nước tong tỏng, chốn cư ngụ của lũ quái vật cổ xưa này, và chắc hẳn chẳng cần ai nói thì cũng đoán được rằng nó hoàn toàn không thuộc về nơi đây hay bất cứ hành tinh bình thường nào.
Mọi dòng mô tả sặc mùi khiếp đảm của viên thuyền phó đều bộc lộ rõ sự kinh ngạc tột bậc trước kích thước không tưởng của các tảng đá xanh, trước chiều cao chót vót của khối đá chạm trổ khổng lồ, và trước sự tương đồng đầy choáng váng giữa các pho tượng cùng những bức phù điêu đồ sộ với bức tượng kì dị được tìm thấy trong cái miếu thờ trên thuyền Alert.
Dù chẳng biết gì về trường phái vị lai, Johansen vẫn viết ra được một thứ mang phong cách rất gần với nó khi nhắc đến thành phố này. Bởi lẽ thay vì mô tả bất kì cấu trúc hoặc toà nhà cụ thể nào, anh ta chỉ xoáy sâu vào những ấn tượng chung chung về các cạnh góc và mặt đá rộng lớn – những bề mặt mênh mang đến độ không thể có chuyện thuộc về bất cứ thứ gì đúng mực hay tử tế trên địa cầu này, và đầy rẫy những hình ảnh và chữ tượng hình khủng khiếp, nghịch đạo.
Tôi đề cập đến lời mô tả về các cạnh góc của anh ta bởi lẽ nó gợi cho tôi nhớ lại một điều Wilcox đã kể về những giấc mơ dễ sợ của anh ta. Wilcox đã nói rằng cấu trúc hình học của cái chốn mình trông thấy trong mơ rất bất thường, phi Euclid, và tương đồng một cách đáng kinh tởm với mặt cầu cũng như các chiều không gian khác xa cõi trần của chúng ta. Bây giờ lại đến lượt một thuỷ thủ ít được học hành cũng cảm thấy như thế khi nhìn vào thực tại khủng khiếp đầy kinh hãi.
Johansen và người của anh ta cập bến ở một bãi bùn dốc trên cái thành Acropolis(1) quái dị kia, và trèo lên những khối đá nhớp nháp ngoại cỡ đầy trơn trợt, khó có thể là cầu thang của người trần được. Đến cả vầng dương trên trời dường như cũng bị bóp méo đi khi nhìn qua làn chướng khí phân cực bốc ra từ mảnh đất đồi bại ướt đẫm sóng biển này.
(1) Một toà thành cổ nằm trên một mỏm đá phía trên thành phố Athens.
Và soi mói quan sát họ là một mối hiểm nguy cùng cảm giác ngờ ngại đây bệnh hoạn, cứ lẩn khuất trong những cạnh góc bí hiểm đến phát rồ của đống đá khắc lúc lõm lúc lồi mỗi lần liếc nhìn.
Khi đoàn thám hiểm còn chưa trông thấy thứ gì cụ thể hơn đá với bùn lầy và cỏ dại, một xúc cảm rất giống nỗi hãi sợ đã xâm chiếm lấy cả đám bọn họ. Nếu không phải vì sợ bị những người khác coi khinh thì hẳn ai trong số họ cũng đã tháo chạy rồi, và họ chỉ tìm xem có món đồ lưu niệm nào mang về được không theo kiểu rất nửa vời – và rốt cuộc là chỉ công cốc.
Trèo lên tận chân khối đá và hô lên thông báo về thứ mình tìm thấy là Bodriguez, một tay người Bồ Đào Nha. Những người còn lại bám theo gã, và tò mò nhìn ngắm cánh cửa mênh mang, trên chạm khắc bức phù điêu rồng lai mực nay đã trở thành quen thuộc. Johansen nói trông nó giống như một cánh cửa chuồng lớn. Tất cả bọn họ đều cảm thấy đó quả thật là một cánh cửa bởi vì bao lấy nó là thanh ngang, ngạch, cùng dầm dọc được trang trí công phu, mặc dù họ không thể xác định nổi nó nằm phẳng ra như cửa sập hay chéo xiên như cửa hầm xây ngoài nhà.
Như Wilcox đã nói, cấu trúc hình học của nơi này lệch lạc hoàn toàn. Không ai có thể xác định được chắc chắn rằng biển và mặt đất nằm ngang, thế nên vị trí tương đối của mọi thứ khác đều trông cứ biến đổi đầy ma mị.
Briden thúc vào mấy chỗ trên phiến đá nhưng không ăn thua gì. Thế rồi Donovan tỉ mẩn lần mò khắp quanh mép nó, vừa đi vừa nhấn vào từng điểm một. Anh ta leo dọc cái khung đá dị hợm trải dài bất tận – dù gọi hành động ấy là leo sẽ chỉ đúng nếu nó không nằm ngang bè hẳn ra – và đám bọn họ tự hỏi sao trên đời lại có thể tồn tại một cánh cửa rộng lớn đến như vậy.
Thế rồi, rất nhẹ nhàng và chậm rãi, phần trên của cánh cửa bạt ngàn bắt đầu sụt vào trong; và họ thấy rằng nó nằm bằng phẳng. Donovan trượt hoặc đưa người xuống hay dọc theo dầm dọc cửa bằng cách nào đó, trở về với các đồng đội của mình, và tất cả bọn họ cùng theo dõi quá trình thụt vào hết sức kì khôi của cánh cổng khắc ghê rợn. Nó di chuyển theo một kiểu chéo xiên đầy dị thường giữa khung cảnh ảo mộng méo mó như nhìn qua một lăng kính, khiến cho tất cả các định luật vật lí cùng góc nhìn đều như bị đảo lộn hết cả.
Trong khoảng hở ấy là một bóng tối đen đặc đến gần như hữu hình. Sự âm u đó kì thực là một điều tích cực. Bởi nó che khuất những phần tường bên trong đáng lẽ đã phải lộ ra, và bóng tối thậm chí còn phả ra như sương khói, thoát khỏi kiếp tù đày dài bao niên kỉ của mình, làm lu mờ hẳn mặt trời trên đường vỗ cặp cánh màng lén lút trốn vào nền trời teo tóp và gồ lồi. Mùi xú uế bốc ra từ khoảng sâu mới mở thật ngoài sức chịu đựng. Một hồi sau, anh chàng Hawkins với đôi tai nhạy bén tin rằng mình nghe thấy một thanh âm ác hiểm, bì bõm vọng lên từ dưới đó.
Tất cả bọn họ cùng dỏng tai nghe ngóng, và tất cả bọn họ vẫn cứ tiếp tục lắng nghe khi Nó lầm lũi đưa những bước chân nhớp nháp tiến vào trong tầm mắt, mò mẫm lách tấm thân xanh lá khổng lồ của mình qua ô cửa màu đen, tiến vào làn không khí bên ngoài của thành phố điên rồ độc hại kia.
Johansen tội nghiệp thiếu chút nữa thì rụng rời tay bút khi ghi lại chuyện này. Trong số sáu người không bao giờ về được đến chỗ con thuyền, anh ta nghĩ rằng hai người đã chết vì sợ hãi ngay trong cái khoảnh khắc đáng nguyền rủa ấy. Không thể miêu tả được cái Thứ ấy – trong ngôn ngữ không tồn tại thứ gì để khắc hoạ một sự điên rồ thẳm sâu đến cuồng loạn và thượng cổ như vậy, một nghịch lí ma quái đối với mọi thứ vật chất, nguồn lực, và trật tự vũ trụ như vậy.
Nó là một ngọn núi, lảo đảo lê chân. Ôi lạy Chúa! Có gì là khó hiểu không khi cách đấy nửa vòng Trái Đất, một kiến trúc sư lớn đã phát điên, và anh chàng Wilcox tội nghiệp lăn đùng ra sốt rồi lên cơn nói sảng trong thời khắc thần giao cách cảm ấy? Cái Thứ được các bức tượng khắc hoạ, tạo vật xanh lá, nhớp nháp đến từ các vì sao đã thức tỉnh để đòi lại những gì của mình.
Các ngôi sao đã một lần nữa vào đúng vị trí, và một nhóm thuỷ thủ ngây thơ tình cờ thực hiện được điều mà một giáo phái lâu đời không làm nổi, bất chấp đã cố gắng. Sau muôn triệu tỉ năm, Cthulhu vĩ đại đã lại được tự do, và thèm khát khoái lạc. Ba người bị bộ vuốt mềm hất văng đi trước khi bất cứ ai kịp quay người. Cầu Chúa cho họ được an nghỉ, nếu trong vũ trụ còn có chốn an nghỉ nào.
Mấy người ấy là Donovan, Guerrera, và Ångstrom. Parker bị trượt chân khi ba người còn lại đang điên cuồng cắm đầu cắm cổ chạy về xuồng, lao qua các dải đất bất tận đầy đá phủ xanh, và Johansen thề rằng anh ta đã bị nuốt chửng bởi một góc đá đáng lẽ phải không có ở đó; một góc nhọn, nhưng lại hành xử như thể nó là góc tù. Vì vậy, chỉ có Briden và Johansen đến được chỗ xuồng, và cuống cuồng chèo về phía thuyền Alert trong khi con quái vật khổng lồ lạch bạch bước xuống những hòn đá bầy nhầy và lúng túng ở bên mép nước.
Áp suất hơi nước đã không bị tắt hẳn, bất chấp toàn bộ thuỷ thủ đoàn đều đã rời thuyền để đổ bộ lên bờ; và chỉ mất vài tích tắc nháo nhào chạy lên chạy xuống giữa bánh lái và động cơ là thuyền Alert đã bắt đầu lên đường. Giữa những nỗi kinh hoàng lệch lạc của cảnh tượng không bút nào tả xiết đó, con thuyền bắt đầu chậm rãi khuấy động làn nước chết chóc.
Trong khi ấy, trên lớp đá của bãi tha ma không thuộc về Trái Đất kia, cái Thứ đồ sộ đến từ những vì sao nhỏ nước tong tỏng và lải nhải gì đó như Polyphemus nguyền rủa con tàu đang chạy trốn của Odysseus(1).
(1) Theo thần thoại Hy Lạp, Polyphemus là người khổng lồ một mắt (cyclops), con trai thần biển Poseidon. Trong sử thi Odyssey, Polyphemus được miêu tả là kẻ man rợ ăn thịt người và đã ăn thịt một số người trong đoàn của Odysseus khi họ cập đảo của hắn trong chuyến hành trình hồi hương sau cuộc chiến thành Troy. Odysseus bày mưu lừa được Polyphemus và trốn thoát.
Thế rồi, với một hành động táo bạo hơn gã khổng lồ một mắt trong truyền thuyết, Cthulhu vĩ đại nhầy nhụa trượt xuống dưới nước và bắt đầu truy đuổi, làm dâng cả sóng với những sải tay mạnh mẽ tột cùng. Briden quay lại nhìn và trở nên phát rồ, sằng sặc cười the thé, và về sau cứ thỉnh thoảng lại nổi cơn cười như vậy cho tới khi lăn đùng ra chết trong cabin vào một đêm nọ, khi Johansen còn đang mê sảng đi vẩn vơ trên thuyền.
Nhưng Johansen chưa gục ngã. Biết rằng chừng nào áp suất hơi nước còn chưa lên đến mức tối đa thì cái Thứ kia chắc chắn sẽ có thể bắt kịp thuyền Alert, anh ta quyết định đánh liều chơi một nước cờ tuyệt vọng. Sau khi gài động cơ ở tốc độ tối đa, anh ta phóng như chớp lên trên boong và quành ngược bánh lái lại.
Xoáy nước cùng bọt cuồn cuộn dâng giữa làn nước biển hôi thối, và trong lúc áp suất hơi nước gia tăng càng lúc càng cao, anh chàng người Na Uy gan dạ lái chiếc thuyền của mình lao thẳng vào khối thạch đuổi theo phía sau, bấy giờ đang nổi lên trên lớp bọt ô uế như đuôi của một chiến thuyền quỷ dữ. Cái đầu mực kinh tởm cùng mớ xúc tu oằn oại đã tiến gần đến cột buồm mũi của chiếc du thuyền vững chắc, nhưng Johansen vẫn không nao núng mà xông tới.
Có thứ gì vỡ toác như bong bóng bục tung, một mớ lầy nhầy tởm lợm văng tung toé như một con cá thái dương bổ đôi, một mùi hôi thối xộc vào mũi như thể cả ngàn ngôi mộ vừa toang mở, và một âm thanh mà tác giả nhất quyết không ghi lại vang lên. Trong thoáng chốc, con thuyền bị một đám mây cay xè màu xanh lá phủ kín, không thể thấy được gì, và rồi chỉ có duy nhất một bãi bọt độc sủi sùng sục phía sau đuôi thuyền.
Ôi lạy Chúa thiêng liêng! Tại đấy, khối mềm nhoét vương vãi tứ tung của thứ hậu duệ trời cao vô danh kia đang dồn tụ như mây khói, tái tổ hợp thành hình hài đáng ghét ban đầu của mình, trong khi khoảng cách giữa nó và thuyền Alert cứ giãn dần ra theo từng giây khi áp suất hơi nước gia tăng giúp thuyền có thêm sức đẩy.
Toàn bộ nội dung là vậy. Sau đó thì Johansen chỉ nghiền ngẫm bức tượng thờ trong cabin, lo nấu ăn cho bản thân và kẻ điên cứ cười ha hả đi cùng mình. Sau pha bỏ trốn táo bạo đầu tiên, viên thuyền phó không còn buồn điều khiển thuyền nữa, bởi lẽ pha phản công đã tước đi thứ gì đó trong tâm hồn anh ta.
Thế rồi cơn bão ngày 2 tháng Tư ập đến, và tâm trí anh ta như bị mây mù bao phủ. Viên thuyền phó cảm thấy như thể mình đang quay cuồng đầy ma mị qua những vịnh nước vô tận, cưỡi trên đuôi một ngôi sao chổi mà phóng đến chóng cả mặt mày qua những vũ trụ quay cuồng, điên loạn phi từ dưới hố sâu lên tận mặt trăng rồi lại từ mặt trăng bổ nhào xuống hố. Góp vui cho tất cả là tràng cười ha hả của đám thần thánh cổ xưa, dị dạng đang rất lấy làm khoái trá và lũ tiểu quỷ xanh cánh dơi đầy móc mỉa của Tartarus(1).
(1) Trong thần thoại Hy Lạp, Tartarus là vực sâu thẳm, tối tăm nhất chốn âm giới của thần Hades.
Đang giữa lúc mơ màng, cứu trợ xuất hiện tàu Vigilant, Toà án Bộ Hải quân, đường phố Dunedin, và chuyến hải hành dài trở về ngôi nhà cũ cạnh Egeberg. Anh ta chẳng tài nào tiết lộ sự tình – họ sẽ nghĩ anh ta là người điên mất. Anh ta sẽ ghi lại những gì mình biết trước khi tử thần đến gõ cửa, nhưng không thể để cô vợ hay biết gì cả. Nếu cái chết mà có thể xoá đi những kí ức thì nó sẽ chẳng khác nào một phước lộc.
Đó là tài liệu tôi đã đọc, và bây giờ thì tôi đặt nó vào trong cái hộp thiếc bên cạnh bức phù điêu cùng chỗ giấy tờ của Giáo sư Angell. Cất kèm vào đấy cũng sẽ là bản thảo này của tôi – bài kiểm tra sự tỉnh táo của chính tôi, bên trong đã xâu chuỗi lại được một điều mà tôi hi vọng sẽ không bao giờ còn được xâu chuỗi lại nữa.
Tôi đã chứng kiến tất cả những nỗi kinh hoàng vũ trụ chứa đựng, và từ đó về sau, ngay cả bầu trời mùa xuân lẫn những bông hoa mùa hè cũng sẽ trở thành thuốc độc đối với tôi. Nhưng tôi không nghĩ mình sẽ sống thọ. Giống như ông chú tôi từng bỏ mạng, giống như Johansen tội nghiệp đã lìa đời, tôi cũng sẽ chết. Tôi đã biết quá nhiều, trong khi giáo phái vẫn còn tồn tại.
Tôi đoán, cả Cthulhu cũng vẫn còn sống nữa, trong cái hang đá từng che chắn cho Hắn từ hồi vầng dương hãy còn trẻ. Thành phố đáng nguyền rủa của Hắn một lần nữa chìm xuống, vì tàu Vigilant đã đi qua chỗ ấy sau trận bão tháng Tư. Nhưng bè lũ tay sai của Hắn trên dương thế vẫn gầm rống, nhảy nhót và giết chóc quanh những khối đá tảng có gắn bức tượng thờ ở trên tại các miền hẻo lánh.
Hắn hẳn đã bị giam cầm bởi vụ chìm kia khi còn đang kẹt trong chốn địa ngục thẳm đen của mình, nếu không thì thế giới bây giờ đã gào la thảm thiết vì sợ hãi và điên cuồng rồi. Ai mà biết được hồi kết sẽ ra sao? Những gì đã trỗi dậy có thể chìm đi, và những gì đã chìm đi có thể sẽ trỗi dậy.
Tạo vật tởm lợm chờ đợi và mơ màng dưới sâu, điêu tàn lan toả khắp những thành phố chênh vênh của con người. Rồi sẽ đến lúc – nhưng tôi không được phép và không thể nghĩ đến nó!
Tôi xin được cầu nguyện rằng nếu mình qua đời và để lại bản thảo này, những người thi hành di chúc của tôi sẽ hành xử thật thận trọng thay vì liều lĩnh, và đảm bảo rằng không một ai khác được nhìn thấy nó.