HẲN LÀ MỘT TÊN TIỂU YÊU SUY ĐỒI HAY MỘT SỰ lôi kéo đây nhạo báng khởi nguồn từ chốn tăm tối, bí ẩn nào đấy – đã khiến tôi thay đổi kế hoạch. Tôi quyết tâm từ trước là sẽ chỉ giới hạn các quan sát của mình trong lĩnh vực kiến trúc, và lúc bấy giờ, tôi thậm chí còn đang vội vã tiến về quảng trường nhằm kiếm xe để nhanh chóng ra khỏi cái thị trấn thối rữa, đây chết chóc và suy tàn này; nhưng khi trông thấy lão Zadok Allen, những dòng suy nghĩ mới xuất hiện trong tâm trí và khiến tôi do dự chững bước lại.
Tôi đã được cam đoan rằng lão Zadok chẳng làm nổi trò trống gì khác ngoài ám chỉ về những truyền thuyết điên rồ, rời rạc, và khó tin, cũng như được cảnh báo rằng nếu bị đám dân bản địa nhìn thấy nói chuyện với lão thì tôi sẽ không an toàn. Ấy nhưng lão nhân chứng từng trải nghiệm sự suy tàn của thị trấn, sở hữu các kí ức có từ những ngày đầu với bao tàu thuyền và nhà máy, là một cám dỗ mà không lí trí nào có thể khiến tôi cưỡng lại nổi.
Xét cho cùng, những huyền thoại kì lạ và điên rồ nhất thường chỉ đơn thuần là các biểu tượng hoặc câu chuyện ngụ ngôn dựa trên sự thật – và lão Zadok hẳn đã chứng kiến tất cả mọi thứ từng diễn ra tại Innsmouth trong quãng chín mươi năm qua. Óc tò mò bùng lên, lấn át cả lí trí cũng như sự thận trọng, và với sự tự cao tự đại của tuổi trẻ, tôi đinh ninh mình sẽ có thể sàng lọc ra được một chút lịch sử thật từ mớ thông tin rối rắm, hoang đường bản thân chắc sẽ thu được với sự trợ giúp của rượu whisky nguyên chất.
Tôi biết rằng mình không thể gạ gẫm lão ngay tại đó, vì mấy người lính cứu hoả chắc chắn sẽ để ý và lên tiếng phản đối. Tôi thầm nghĩ rằng thay vào đó, mình sẽ kiếm ít rượu lậu ở nơi cậu nhân viên tạp hoá đã nói với tôi rằng có bán rất nhiều. Sau đó tôi sẽ đi tha thẩn gần trạm cứu hoả với vẻ thản nhiên, và bắt chuyện với lão Zadok sau khi lão đã bắt đầu phun ra một trong những tràng lảm nhảm của mình. Cậu thanh niên nói rằng lão luôn đứng ngồi không yên, hiếm khi lảng vảng quanh trạm quá một hoặc hai tiếng mỗi lần.
Tôi dễ dàng kiếm được một chai rượu whisky khoảng gân lít, dù với mức giá không hề rẻ, ở phía sau của một cửa hàng tạp hoá tồi tàn trên phố Eliot, ngay gần quảng trường. Cái tay phục vụ tôi với vẻ ngoài bẩn thỉu hơi mang “diện mạo Innsmouth”, cặp mắt trợn trừng, nhưng lại hành xử khá lịch thiệp; có lẽ đã quen với lề thói của những người lạ mặt xởi lởi – tài xế xe tải, dân mua vàng, và những người tương tự khác – thỉnh thoảng vẫn ghé thị trấn.
Khi quay trở lại quảng trường, tôi thấy rằng may mắn đã mỉm cười với mình; bởi vì – lúc lê bước ra khỏi phố Paine, đoạn quanh góc Nhà trọ Gilman – tôi nhìn thấy chính cái dáng người cao ráo, gầy gò, rách rưới của lão Zadok Allen. Theo đúng kế hoạch của mình, tôi thu hút sự chú ý của lão bằng cách phô ra cái chai rượu mới mua; và chẳng mấy chốc mà nhận ra rằng lão đã bắt đầu thèm thuồng lê bước theo mình khi tôi rẽ vào phố Waite trên đường đến khu vực vắng vẻ nhất mà tôi có thể nghĩ ra được.
Tôi bấy giờ lựa đường bằng tấm bản đồ mà cậu bán tạp hoá đã chuẩn bị cho, và đang tiến về phía đoạn ven biển bị bỏ hoang hoàn toàn phía Nam mà ban nãy đã ghé thăm. Những người duy nhất trong tầm mắt là đám ngư dân trên con đê chắn sóng xa xôi; và nếu đi thêm một vài dãy nhà về phía Nam, tôi sẽ có thể đi khuất mắt nốt cả những người này, tìm một cặp ghế trên cầu tàu bị bỏ hoang nào đó và tha hồ hỏi han lão Zadok mà không bị soi mói suốt một hồi lâu. Trước khi đến phố Main, tôi có thể nghe thấy một tiếng “Ê, cậu kia!” khẽ và khò khè đằng sau mình, và chẳng bao lâu sau, tôi đã để lão bắt kịp mình và uống ừng ực những ngụm lớn từ cái chai.
Tôi bắt đầu ướm hỏi mấy câu thăm dò trong khi đi dọc phố Water và rẽ về phía Nam giữa bốn bề hoang vắng với những tàn tích nghiêng ngả điên cuồng, nhưng phát hiện ra rằng miệng lưỡi lão già không nới lỏng nhanh như mình mong đợi. Một hồi sau, tôi trông thấy một khoảng trống bị cỏ mọc đây dẫn thẳng ra biển giữa những bức tường gạch đổ nát, với một đoạn cầu tàu làm bằng đất và đá, trên mọc đầy cỏ dại, nhô thẳng ra ngoài.
Mấy đống đá bị rêu phủ kín gần mép nước hứa hẹn sẽ làm ghế ngồi chấp nhận được, và khu này được một nhà kho đổ nát ở mạn Bắc che chắn khỏi mọi ánh nhìn. Tôi thầm nghĩ đây là nơi lí tưởng cho một cuộc hội đàm bí mật dông dài; thế nên tôi dẫn người bạn đồng hành của mình đi dọc làn đường và chọn chỗ ngồi giữa những tảng đá rêu phong. Bầu không khí chết chóc và hoang vu thật ghê gớm, mùi cá gần như không thể chịu đựng nổi; nhưng tôi quyết tâm không để điều gì ngăn cản mình.
Vẫn còn khoảng bốn giờ để trò chuyện nếu tôi muốn bắt chiếc xe khách đi Arkham lúc tám giờ, và tôi bắt đầu chuốc thêm cho lão nghiện rượu già khú đế này; đồng thời tranh thủ ăn luôn bữa trưa thanh đạm của mình. Vừa chuốc rượu tôi vừa cẩn thận không làm quá đà, vì tôi không muốn trạng thái ba hoa sặc hơi men của lão Zadok trở thành cơn say bí tỉ.
Sau một tiếng, sự lầm lì đầy lấm lét của lão bắt đầu có dấu hiệu biến mất, nhưng đáng thất vọng thay, lão vẫn lảng tránh những câu hỏi của tôi về Innsmouth và quá khứ đen tối của nơi này. Lão lảm nhảm về các chủ đề đương thời, cho thấy mình rất chăm đọc báo và hay có thói nói chuyện triết lí dạy đời theo kiểu quê mùa.
Lúc gần hết giờ đồng hồ thứ hai, tôi sợ rằng chỗ rượu whisky của mình sẽ không đủ để mang lại kết quả gì, và tự hỏi liệu có nên rời lão Zadok và quay trở lại lấy thêm không. Tuy nhiên, ngay lúc đó, trời đã run rủi mở cho tôi thời cơ, điều mà toàn bộ màn hỏi han của tôi không thể thực hiện được; những lời lảm nhảm khò khè của lão già xoay chuyển khiến tôi phải rướn tới trước và dỏng tai nghe ngóng.
Lưng tôi quay về phía vùng biển tanh tưởi, nhưng lão thì lại đang nhìn về hướng nó, và một thứ gì đó đã khiến ánh mắt vơ vẫn của lão nhìn vào cái lằn thấp, xa xôi của Rạn Quỷ, sau đó trồi lên trên những con sóng một cách rõ ràng và khá hớp hồn. Cảnh tượng ấy dường như làm lão khó chịu, bởi vì lão bắt đầu xổ ra một chuỗi những lời chửi rủa yếu ớt, chốt lại với một lời thì thầm khẽ và ánh liếc đây ngụ ý. Lão cúi người về phía tôi, túm lấy vạt áo của tôi, và rít lên một số lời không thể lẫn vào đâu được.
“Đó chính là nơi tất cả bắt đầu – cái chốn đáng nguyên rủa nơi tất cả những thứ xấu xa dưới làn nước sâu bắt đầu. Cổng dẫn xuống địa ngục – rơi thẳng xuống một cái đáy không dây dò nào chạm được đến cả. Lão Thuyền trưởng Obed đã làm chuyện ấy – lão đã phát hiện ra quá nhiều thứ tại các quần đảo Nam Thái Bình Dương.
“Dạo đó tất cả mọi người đều không gặp vận. Buôn bán thất bát, nhà máy không còn ai thuê – ngay cả mấy nhà máy mới – và những người tử tế nhất trong số cánh đàn ông của bọn tui bị giết trên tàu lùng trong Chiến tranh năm 1812 hay thiệt mạng cùng với thuyền Elizy và Ranger – cả hai đều là của Gilman. Obed Marsh có ba thuyền dùng được Columby, Hetty, và thuyền buồm Sumatry Queen. Lão là người duy nhất làm tiếp tục trao đổi buôn bán với Đông Ấn và Thái Bình Dương, mặc dù thuyền Malay Pride của Esdras Martin tận năm 28 vẫn ra khơi.
“Chẳng ai thích Thuyền trưởng Obed cả. Tay chân của quỷ Satan! He, he! Tui vẫn nhớ lão kể về những vùng miền xa xăm, và nói tất cả mọi người đều là lũ ngu xuẩn vì cứ đi dự những buổi gặp mặt Cơ Đốc giáo và cam chịu mang vác gánh nặng của mình một cách thấp hèn. Nói họ cần phải kiếm những vị Chúa tử tế hơn giống đám dân ở Ấn Độ – những vị sẽ mang hàng đống cá tôm đến để đổi lấy sự hi sinh của họ, và thực sự đáp trả những lời cầu nguyện của chúng sinh.
"Matt Eliot, thuyên phó thứ nhất của lão, cũng nói rất nhiều, chỉ mình ông ta là không muốn bà con làm bất kì trò gì ngoại đạo. Nhắc đến một hòn đảo ở phía Đông Otaheité có rất nhiều phế tích đá cổ xưa hơn những gì bất cứ ai từng biết, giống như mấy phế tích trên Ponape, ở quần đảo Caroline ấy, nhưng với khuôn mặt điêu khắc trông giống như những bức tượng lớn trên Đảo Phục Sinh. Cũng có một hòn đảo núi lửa nhỏ gần đó, có những tàn tích khác với các bức tượng kiểu khác – tất cả đều bị bào mòn như thể từng có thời chìm dưới biển, và phủ khắp trên đó là những bức hình quái vật khủng khiếp.
“Này nhớ, Matt bảo đám dân quanh đó chẳng thiếu gì cá tôm, tha hồ đánh bắt, rồi đeo vòng, băng tay và đồ đội đâu làm từ một loại vàng kì quái với phủ đầy hình quái vật, giống hệt những thứ được khắc trên mớ tàn tích tại hòn đảo nhỏ – kiểu ếch trông như cá hay cá trông như ếch gì đó được vẽ trong đủ kiểu tư thế như thể chúng là con người. Không ai dụ được đám đó tiết lộ tụi nó kiếm đâu ra mấy món đồ, và tất cả những người bản địa khác đều thắc mắc rằng làm thế nào mà tụi đấy bắt được lắm cá thế trong khi ngay mấy hòn đảo bên cạnh thôi cũng đã chẳng có gì nhiều nhặn rồi. Matt cũng thắc mắc như thế, và cả Thuyền trưởng Obed cũng vậy. Với cả, Obed để ý thấy rằng hết năm này sang năm khác, rất nhiều thanh niên trẻ đẹp sẽ vĩnh viễn biến mất, và ở đấy không có nhiều người già. Lão cũng nghĩ rằng một số người trông kì quái ghê hồn, ngay cả đối với dân Kanak.
“Phải nhờ có Obed thì sự thật về đám dân ngoại đạo ấy mới được moi ra. Tui không biết lão làm kiểu gì, nhưng lão bắt đầu bằng cách trao đổi lấy những thứ giống như vàng mà tụi nó đeo. Hỏi tụi nó xem mấy thứ đó đến từ đâu, liệu chúng có thể kiếm thêm không, và cuối cùng moi được câu chuyện về lão tù trưởng già – tụi bản địa gọi lão đấy là Walakea. Không ai ngoài Obed chịu tin lão già quái quỷ ấy, nhưng lão Thuyền trưởng có thể nhìn thấu người khác như đi guốc trong bụng họ. He, he! Giờ thì chẳng có ai tin tui khi tui kể lại, tui đoán cậu cũng sẽ không tin đâu, anh bạn trẻ – dù nếu quan sát kĩ, cậu cũng có cái kiểu mắt sắc sảo như Obed đấy.”
Lời thì thầm của lão già trở nên khẽ khàng hơn, và tôi thấy rùng mình trước sự u ám khủng khiếp và chân thành trong ngữ điệu của lão, cho dù tôi biết câu chuyện của lão không gì hơn một ảo tưởng say xỉn.
“Cậu này, Obed phát hiện ra rằng trên đời có những thứ hầu hết mọi người chưa bao giờ hay biết đến – và sẽ không tin kể cả nếu được biết. Có vẻ lũ dân Kanak kia đã hi sinh hàng đồng trai gái trẻ của mình cho thứ thần thánh gì đó sống dưới biển, và được nhận lại đủ kiểu ân huệ. Tụi nó gặp mấy sinh vật kia trên hòn đảo nhỏ với mớ tàn tích kì quái, và có vẻ như mấy bức ảnh quái vật cá ếch khủng khiếp chính là ảnh của đám sinh vật ấy.
Có thể chúng là ngọn nguồn của tất cả những câu chuyện về tiên cá và những thứ tương tự. Chúng có đủ loại thành phố dưới đáy biển, và hòn đảo này đã được nâng lên từ đó. Xem chừng một số con vẫn còn sống trong các toà nhà đá khi hòn đảo bất ngờ trồi lên khỏi mặt nước. Chính nhờ vậy mà đám Kanak mới biết chúng tồn tại dưới đó. Nói chuyện với nhau bằng cử chỉ ngay khi chúng hết sợ, và chẳng bao lâu sau thì đã hình thành giao kèo với nhau.
“Mấy thứ kia rất thích được hiến tế người. Cách đây rất lâu, chúng từng được tận hưởng điều đó, nhưng một thời gian sau thì mất dấu thế giới trên mặt đất. Tui không biết chúng đã làm gì với các nạn nhân, mà tui đoán Obed cũng chẳng buồn hỏi. Nhưng lũ ngoại đạo ấy không thấy có vấn đề gì, bởi vì tụi nó đang trong giai đoạn khó khăn và tuyệt vọng về mọi thứ. Tụi đấy hiến một lượng thanh niên nhất định cho lũ sinh vật dưới biển hai lần mỗi năm vào Đêm Thánh Walpurgis và Halloween – thường xuyên hết mức có thể. Còn hiến thêm cả mấy món đồ tụi nó đã khắc ra nữa. Lũ sinh vật kia đồng ý sẽ đáp trả bằng cách cho thật nhiều cá tôm – chúng dồn cá từ khắp nơi trên biển đến – và thỉnh thoảng còn kèm thêm vài thứ giống như vàng.
“Như tui đã nói đấy, đám dân bản địa gặp lũ sinh vật kia trên hòn đảo núi lửa nhỏ bé – đi ca nô ra đấy cùng với vật hiến tế và nhiều thứ khác nữa, mang về bất cứ món trang sức giống vàng nào mình được nhận. Mới đầu lũ sinh vật kia không bao giờ đi đến đảo chính, nhưng sau một thời gian thì chúng bắt đầu muốn làm vậy. Có vẻ chúng muốn pha trộn huyết thống với đám dân kia, và cùng nhau tổ chức các buổi lễ vào những ngày trọng đại – Đêm Thánh Walpurgis và Halloween.
Thế này nhé, chúng có thể sống được ở cả trong và ngoài nước – tui đoán người ta gọi chúng là động vật lưỡng cư. Lũ Kanak nói với chúng rằng dân ở các đảo khác có thể sẽ muốn xoá số chúng nếu họ hay tin chúng xuất hiện ở đây, nhưng chúng nói chúng chẳng mấy quan tâm, bởi vì chúng có thể xoá sổ toàn bộ loài người nếu muốn – tức là tất cả những ai không sở hữu các dấu hiệu một thời được các Đại Cổ Thần nay đã biến mất sử dụng, cho dù đấy có là ai. Nhưng vì chẳng quan tâm, chúng lần đi khi có ai đến thăm hòn đảo.
“Về phân phối giống với lũ cá trông giống ếch kia thì đám dân Kanak tỏ vẻ ngần ngại, nhưng cuối cùng tụi đấy được biết một điều, khiến cho sự tình trở nên khác hẳn. Dường như con người có mối quan hệ nào đó với lũ dưới nước – mọi thứ còn sống trên đời đều từng có thời sống dưới nước, và chỉ cần thay đổi một chút thôi là sẽ có thể quay trở lại.
Lũ sinh vật kia nói với đám Kanak rằng nếu chúng phối giống với nhau, đám con mới đầu trông sẽ giống con người, nhưng về sau sẽ càng lúc càng trở nên giống chúng hơn, cho tới khi cuối cùng đám con xuống dưới nước và nhập bọn cùng phần lớn đám sinh vật dưới đó. Và đây là phần quan trọng, anh bạn trẻ à – những kẻ biến thành cá và xuống dưới nước sống kia sẽ không bao giờ chết. Lũ sinh vật kia không bao giờ chết, trừ khi bị chém giết dã man.
“Có vẻ là vào thời điểm Obed biết đến đám dân đảo ấy, tất cả tụi nó đều mang đầy thứ máu cá do lũ sinh vật dưới nước sâu truyền lại rồi. Khi già đi và bắt đầu để lộ ra cái huyết thống ấy, chúng được giấu biệt đi cho đến khi muốn xuống nước và rời bỏ hòn đảo. Một số kẻ mang nhiều máu cá hơn những kẻ khác, và một số kẻ không bao giờ thay đổi đủ để xuống hẳn dưới nước; nhưng hầu hết bọn chúng đều trở nên hệt như những gì lũ sinh vật kia đã nói.
Những kẻ sinh ra giống lũ sinh vật kia sớm thay đổi, nhưng những kẻ gần giống con người hơn đôi khi ở lại trên đảo cho đến khi đã ngoài bảy mươi, mặc dù chúng thường thử nghiệm xuống dưới nước để chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó. Những kẻ đã xuống dưới nước thường rất hay quay trở lại thăm nhà, thế nên chúng thường xuyên nói chuyện với cụ cố năm đời của chính mình, kẻ đã rời đất khô cách đây tầm vài trăm năm.
“Tất cả mọi người đều không còn lo về chuyện chết chóc nữa – ngoại trừ trong các cuộc chiến ca nô với những người dân đảo khác, hoặc khi phải làm vật hiến tế cho đám thần thánh dưới biển, hay bị rắn cắn, ốm đau, mắc phải bệnh tiến triển nhanh nào hay thứ gì đó trước khi chúng có thể xuống dưới nước sống – mà chỉ đơn thuần ngóng chờ sự thay đổi mà sau một thời gian thì chẳng còn thấy kinh khủng nữa.
Chúng nghĩ rằng những gì mình nhận được sẽ xứng đáng với tất cả những gì mình phải từ bỏ. Tui đoán ngay bản thân lão Obed cũng đã dần nghĩ như thế sau khi lão đã có thời gian nghiền ngẫm về câu chuyện của lão Walakea. Tuy nhiên, lão Walakea là một trong số rất ít những người không có chút máu cá nào trong mình bởi vì lão là dòng dõi hoàng gia, chỉ kết hôn với hoàng tộc trên các đảo khác.
"Lão Walakea cho lão Obed xem rất nhiều nghi thức và thần chú có liên quan đến lũ sinh vật dưới biển, và cho lão gặp một số người trong làng đã phần nhiều mất đi hình dạng con người. Tuy nhiên, không cách này thì cách khác, lão Walakea không bao giờ để lão Thuyền trưởng thấy giống sinh vật kia lúc chúng rời khỏi làn nước. Cuối cùng lão đưa ra một thứ trông rất buồn cười, làm từ chì hay gì đó, nói là sẽ triệu hồi lũ cá kia lên từ bất kì nơi nào dưới nước, nơi có thể là tổ của chúng. Ý tưởng là thả nó xuống kèm theo niệm đúng thần chú cùng một số nghi thức khác tương tự. Lão Walakea tin rằng bọn chúng sống rải rác trên khắp thế giới, thế nên bất cứ ai cũng sẽ có thể tìm thấy một ổ và triệu hồi chúng nếu muốn.
"Matt không thích chuyện này chút nào, và muốn lão Obed tránh xa hòn đảo. Nhưng lão Thuyền trưởng rất giỏi đánh hơi mùi tiền, và phát hiện ra rằng lão có thể kiếm được những thứ giống như vàng kia với cái giá rẻ đến mức buôn chuyên hẳn về chúng thì sẽ vớ bẫm. Mọi chuyện cứ diễn ra như thế suốt nhiều năm, và lão Obed kiếm đủ mấy thứ giống như vàng kia để bắt đầu thành lập nhà máy luyện vàng trong cái chỗ đổ nát cũ của Waite. Lão không dám bán nguyên mở trang sức, bởi thiên hạ sẽ gặng hỏi suốt. Dẫu vậy, thỉnh thoảng thuỷ thủ đoàn của lão vẫn kiếm được một món và bán đi, cho dù họ đã thề sẽ giữ mồm giữ miệng. Lão để cho đám đàn bà con gái trong gia đình mình đeo mấy món mang hình hài giống người hơn phần lớn các món khác.
“Đến khoảng năm 38 – khi tui bảy tuổi – lão Obed phát hiện ra toàn bộ đám dân trên đảo đều đã bị xoá số trong khoảng thời gian giữa hai chuyến hành trình của lão. Có lẽ những người dân đảo khác đã biết được chuyện gì đang diễn ra, và tự mình xử lí vấn đề. Xét cho cùng, chắc tụi kia hẳn sở hữu những dấu hiệu ma thuật mà lũ sinh vật dưới biển đã nói là thứ duy nhất chúng sợ. Ai mà biết được đám Kanak tình cờ nắm giữ những gì khi đáy biển đẩy mấy hòn đảo với những tàn tích cũ cổ xưa hơn cả trận đại hồng thuỷ lên trên mặt nước.
Lũ sùng đạo khó chịu đám đấy không chừa lại thứ gì trên cả đảo chính lẫn hòn đảo núi lửa nhỏ, ngoại trừ những phân tàn tích quá lớn không thể quật đổ được. Ở một số nơi, có những hòn đá nhỏ nằm ngổn ngang – giống như bùa chú – bên trên có một thứ mà ngày nay cậu gọi là chữ thập ngoặc. Có lẽ đấy là dấu hiệu của các Đại Cổ Thần. Tất cả dân cư đều đã bị tiêu diệt, không còn chút dấu tích gì của những thứ giống vàng nữa, và chẳng ai trong số đám dân gần đó hở ra chữ nào về vụ việc cả. Thậm chí còn không thừa nhận trên hòn đảo kia từng có người.
“Lẽ đương nhiên, vụ này khiến lão Obed thiệt hại nặng, vì các công việc giao thương bình thường của lão đang rất khó khăn. Nó cũng tác động đến toàn bộ Innsmouth nữa, bởi trong thời còn đi biển, thứ gì có lợi cho một chủ tàu thường cũng sẽ mang lại lợi lộc tương ứng cho thuỷ thủ đoàn. Hầu hết đám dân trong thị trấn cam chịu như cừu chấp nhận thời kì khó khăn, nhưng họ lâm vào tình cảnh khốn đốn bởi cá bắt đầu khan hiếm và các nhà máy cũng chẳng làm ăn khá khẩm gì.
“Đó là lúc lão Obed bắt đầu chửi mắng đám dân vì sống như lũ cừu ngu xuẩn và cầu nguyện với một thiên đường Cơ Đốc giáo chẳng giúp đỡ được gì mình. Lão nói với họ rằng mình từng biết một giống dân cầu nguyện với các vị thần sẽ ban cho ta những gì ta thực sự cần, và nói rằng nếu có đủ người chịu ủng hộ mình, lão sẽ có thể kiếm một số quyền năng, giúp mang đến hàng đống cá và một lượng vàng lớn. Tất nhiên những người từng phục vụ trên tàu Sumatry Queen và từng thấy hòn đảo biết ý lão là gì, thì chẳng ham hố mấy chuyện gần gũi với lũ sinh vật dưới biển như đã nghe kể, nhưng những người không biết thế tức là sao trở nên hơi xiêu lòng trước những gì lão Obed nói, và bắt đầu hỏi xem lão có thể làm gì để mình có thể gia nhập cái tôn giáo sẽ giúp mang lại kết quả cho họ.”
Đến đây, lão già trở nên ấp úng, lẩm bẩm, và chìm vào im lặng mang đầy vẻ ủ rũ và sợ hãi. Lão lo lắng liếc ra sau vai và rồi quay lại dán chặt mắt vào rạn san hô đen xa xăm. Khi tôi nói chuyện với lão, lão không trả lời, thế nên tôi biết mình sẽ phải để cho lão uống nốt chai rượu. Câu chuyện bịa đặt điên rồ mà tôi đang được nghe khiến tôi cảm thấy hứng thú vô cùng, bởi vì tôi tin ẩn chứa bên trong nó là một câu chuyện ngụ ngôn thô sơ gì đấy về sự kì lạ của Innsmouth, được thêm mắm dặm muối bởi một khối óc vừa sáng tạo vừa chứa đây những mẩu giai thoại ngoại lai.
Tôi không hề tin rằng câu chuyện có bất kì nền tảng nào thực sự vững chắc; nhưng dẫu vậy, nó phần nào khơi dậy một nỗi kinh hoàng chân thật, dù chỉ bởi lẽ có nhắc đến mở trang sức kì lạ rõ ràng có liên quan tới chiếc vương miện hiểm ác mà tôi đã thấy ở Newburyport. Có thể mớ trang sức ấy quả thật đã đến từ một hòn đảo kì lạ; và có lẽ những câu chuyện hoang đường là những lời dối trá của lão Obed quá cố hơn là của lão bợm nhậu này.
Tôi đưa cho lão Zadok cái chai, và lão tu nó cạn đến giọt cuối cùng. Thật lạ thường là lão lại sở hữu tửu lượng cao đến như vậy, cái giọng cao, khò khè của lão vẫn không lè nhè chút nào cả. Lão liếm miệng chai và nhét nó vào túi, sau đó bắt đầu gật gù và khẽ thì thầm một mình. Tôi chúi sát vào nhằm lắng nghe bất kì lời nói rõ ràng nào lão có thể sẽ thốt ra, và có cảm tưởng mình trông thấy một nụ cười mỉa mai đằng sau bộ râu hoen ố, rậm rạp. Vâng – lão quả thực đang nói hẳn câu hẳn từ, và tôi có thể hiểu được một lượng khá lớn.
“Matt tội nghiệp – chỉ mình Matt là không ủng hộ ý tưởng ấy – cố gắng thuyết phục mọi người về phe mình, và nhiều lần nói chuyện rất lâu với những người thuyết giáo... vô dụng... đám kia đuổi hết cha xứ Hội Thánh ra khỏi thị trấn, cái ông Giám lí thì bỏ đi... chẳng bao giờ gặp lại ông cha xứ Báp-tít Resolved Babcock nữa... Cơn thịnh nộ của Jehovah... tui chỉ là một đứa nhóc bé xíu, nhưng tui đã nghe điều mình nghe được và thấy điều mình đã nhìn thấy... Dagon và Ashtoreth... Belial và Beëlzebub... Con Bò Vàng và các bái vật của bọn Canaan và Philistine... những tạo vật kinh tởm của Babylon... Mene, mene, tekel, upharsin..."
Lão dừng lại lần nữa, và căn cứ vào ánh nhìn trong đôi mắt xanh ươn ướt của lão, tôi sợ rằng có khi lão sắp sửa say bí tỉ thật rồi. Nhưng khi tôi nhẹ nhàng lắc vai lão, lão quay sang tôi với vẻ tỉnh táo đáng kinh ngạc và thốt ra mấy lời thậm chí còn khó hiểu hơn.
“Không tin tui hả? He, he, he – thế thì nói tui nghe coi, anh bạn trẻ, tại sao hồi trước Thuyền trưởng Obed và hai mươi người dân có lẻ khác toàn chèo thuyền ra Rạn Quỷ giữa lúc đêm hôm khuya khoắt và tụng một đống kinh ồn ã đến nỗi toàn thị trấn đều có thể nghe thấy nếu gió thổi đúng hướng? Nói tui nghe coi? Nói tui nghe thử tại sao lão Obed lúc nào cũng thả những thứ nặng nề xuống vùng nước sâu phía bên kia rạn san hô, nơi đáy biển thụt xuống như một vách đá, sâu khôn dò? Nói tui nghe coi lão đã làm gì với cái thứ hình thù quái dị bằng chì mà lão Walakea đưa cho? Thế nào, cậu? Và bọn chúng đã gầm rú những gì vào Đêm Thánh Walpurgis, và một lần nữa vào dịp Halloween năm sau? Tại sao các cha xứ nhà thờ mới những người từng là thuỷ thủ – đều mặc áo choàng kì quái và đeo đây mình mấy thứ giống như vàng mà lão Obed mang về? Thế nào hả?”
Đôi mắt xanh ươn ướt bây giờ đã gần như man rợ và điên rồ, bộ râu trắng bẩn xù lên như có điện. Chắc lão Zadok đã nhìn thấy tôi co rúm lại, vì lão bắt đầu cười sằng sặc đầy ác ôn.
“He, he, he, he! Bắt đầu nhận ra rùi hử? Có thể cậu muốn đứng ở vị trí của tui trong thời ấy, khi tui nhìn thấy nhiều thứ ngoài biển vào ban đêm từ trên cái mái vòm nhà tui. Ôi, tui xin khẳng định với cậu, bọn trẻ con hóng hớt giỏi lắm, và tui chẳng để lọt bất cứ tin ngồi lê đôi mách gì về lão Thuyền trưởng Obed và đám đi ra chỗ rạn san hô! He, he, he! Thế còn cái đêm tui lấy ống nhòm đi thuyền của tía tui lên mái vòm và nhìn thấy rạn san hô nhung nhúc những hình hài, ngay khi mặt trăng vừa lên thì tất cả nhào hết xuống ngay thì sao? Lão Obed và mấy người kia ngồi trong một con thuyền, nhưng mấy cái hình hài nhào vào trong làn nước sâu ở phía bên kia và không bao giờ ngoi lên... Cậu có thích làm một thằng nhóc ngồi một mình trên mái vòm quan sát các dạng hình không phải con người không?... Thế nào?... He, he, he, he..."
Lão già đang trở nên kích động, và tôi bắt đầu run rẩy với sự lo sợ bất định. Lão đặt một bàn tay xương xẩu lên trên vai tôi, và như tôi thấy thì nó không hoàn toàn rung rung vì bỡn cợt.
“Nếu một đêm nọ cậu nhìn thấy thứ nằng nặng gì đấy khiêng ra khỏi thuyền của lão Obed đằng sau rạn san hô, và đến ngày hôm sau thì được biết rằng một thanh niên đã biến mất khỏi nhà thì sao? Hả? Từ đó đến nay có ai còn trông thấy tăm hơi Hiram Gilman nữa không? Có không? Nick Pierce nữa, Luelly Waite, Adoniram Saouthwick, Henry Garrison? Thế nào? He, he, he, he... Những hình hài sử dụng đôi bàn tay để nói chuyện bằng ngôn ngữ kí hiệu... đó là đối với những người có tay thật thôi... “Cậu ơi, ấy là lúc lão Obed lại bắt đầu ăn nên làm ra.
Thiên hạ thấy ba đứa con gái của lão đeo mấy món giống như vàng chưa ai từng thấy bao giờ, và khói bắt đầu bốc ra từ ống khói nhà máy. Những người khác cũng phất lên cá tôm bắt đầu ùn ùn kéo vào trong bến cảng, tha hồ đánh bắt, và có trời mới biết bọn tui bắt đầu chuyên chở hàng hoá to cỡ nào đến Newburyport, Arkham, và Boston. Đó là lúc lão Obed xoay xở cho tuyến đường sắt nhánh dẫn qua đây được mở. Một số ngư dân Kingsport hay tin về vụ cá tôm có nhiều và kéo đến rất đông, nhưng tất cả bọn họ đều biến mất. Không ai còn gặp lại họ nữa. Và đúng lúc ấy, dân bọn tui thành lập Bí Hội Dagon, với mua hội trường Hội Tam Điểm từ tay trang ấp Calvary... He, he, he! Matt Eliot là một thành viên Hội Tam Điểm và không muốn bán, nhưng đúng lúc ấy thì ông ta biến mất.
“Nhớ thế nè, không phải tui muốn nói là lão Obed quyết tâm muốn cho mọi thứ giống hệt như những gì xảy ra trên hòn đảo Kanak đó đâu. Tui nghĩ mới đầu lão không định pha trộn huyết thống hay nuôi dưỡng trẻ con để chúng xuống dưới nước và biến thành cá bất tử. Lão muốn chỗ vàng, và sẵn sàng trả một cái giá cao, tui đoán những người khác cũng lấy làm hài lòng một thời gian...
“Thế rồi đến năm 46, thị trấn bắt đầu tìm hiểu và suy nghĩ. Quá nhiều người bị mất tích – quá nhiều bài thuyết giáo ngông cuồng tại buổi gặp mặt Chủ Nhật – quá nhiều người bàn tán về rạn san hô ấy. Tui đoán mình cũng đã kể cho Uỷ viên Mowry kha khá những gì mình đã nhìn thấy từ trên mái vòm. Rồi tới đêm nọ, có một nhóm người bám theo đám của lão Obed để ra ngoài rạn san hô, và tui nghe thấy tiếng súng bắn giữa hai con thuyền. Ngày hôm sau lão Obed và ba mươi hai người khác đã bị tống vào nhà lao, tất cả mọi người đều băn khoăn không hiểu chuyện gì đang xảy ra và họ sẽ bị cáo buộc tội gì. Lạy Chúa, nếu có ai mà lường được trước... Hai tuần sau, khi đã lâu lắm rồi chẳng có gì được quẳng xuống dưới biển...”
Lão Zadok bấy giờ tỏ dấu hiệu hoảng hốt và kiệt sức. Tôi để lão giữ im lặng một lúc, mặc dù liếc nhìn đồng hồ một cách sợ hãi. Thuỷ triều đã thay đổi và đang dâng lên, tiếng sóng dường như đã khiến lão bừng tỉnh. Tôi lấy làm mừng vì cơn thuỷ triều đó đã đến, vì khi nước dâng cao, cái mùi tanh có khi cũng không đến nỗi quá tệ. Tôi lại một lần nữa dỏng tai lên nghe những lời thì thầm của lão.
“Cái đêm khủng khiếp ấy... Tui nhìn thấy chúng... Tui ở trên mái vòm... hàng đàn... hàng đống bọn chúng... trên khắp rạn san hô và bơi đến bến cảng, vào trong sông Manuxet... Lạy Chúa, chuyện xảy ra trên đường phố của Innsmouth đêm hôm ấy... chúng rung cửa nhà bọn tui, nhưng tía không mở... thế rồi ổng nhảy ra khỏi cửa sổ bếp cùng khẩu hoả mai để đi tìm Uỷ viên Mowry và xem mình có thể làm gì... Hàng đồng người chết và hấp hối... tiếng súng và tiếng la hét... gào la ở quảng trường cũ và quảng trường thị trấn với New Church Green... nhà lao được mở ra... tuyên bố... phản quốc... gọi là bệnh dịch khi người ngoài đến và thấy phân nửa số bọn tui bị mất tích... không còn ai ngoài những người chịu về phe lão Obed và mấy thứ kia hoặc chịu giữ im lặng... chẳng bao giờ hay tin gì từ tía của tui nữa..."
Lão già thở hổn hển và vã đầm đìa mồ hôi. Nắm tay của lão trên vai tôi siết chặt lại.
“Tất cả mọi thứ được dọn sạch vào buổi sáng – nhưng vẫn có những dấu vết... Lão Obed lên nắm quyền và nói mọi thứ sẽ thay đổi... một số người khác sẽ đến thờ phụng cùng với bọn tui vào giờ hội họp, và một số nhà sẽ phải tiếp khách... họ muốn pha trộn huyết thống như đã làm với dân Kanak, và lão không muốn ngăn cản chúng. Lão Obed mất trí rồi... chẳng khác nào một gã điên khi đả động đến chuyện ấy. Lão nói họ mang cá với kho báu đến cho bọn tui, và cần được có thứ mình muốn...
“Bề ngoài thì sẽ chẳng có gì khác biệt cả, chỉ có điều bọn tui cần phải tránh xa người lạ nếu biết khôn. Tất cả bọn tui đều phải thực hiện Lời thề Dagon, và về sau còn có Lời thể thứ hai và thứ ba mà một số người phải thực hiện nữa. Những người chịu giúp đỡ những việc đặc biệt sẽ nhận được các phần thưởng đặc biệt – vàng và các thứ tương tự... Ngang ngạnh cũng chỉ vô dụng mà thôi, vì bọn chúng có đến hàng triệu tên dưới đó. Chúng không muốn
LỜI HIỆU TRIỆU CỦA CTHULHU
199
trồi lên và xoá sổ loài người, nhưng nếu muốn và buộc phải làm vậy, chúng có thể làm việc ấy rất hiệu quả. Chúng ta không có những thứ bùa cổ để ngăn chặn chúng như đám dân ở Nam Thái Bình Dương, và dân Kanak chẳng bao giờ tiết lộ bí mật của mình.
“Nếu nộp đủ vật hiến tế với những món man rợ linh tinh và chịu chứa chấp chúng trong thị trấn khi chúng muốn, thì chúng sẽ để yên cho bọn tui. Sẽ không quấy rầy người lạ bởi vì thế có thể lộ tin ra ngoài – miễn là họ không tọc mạch. Tất cả đều tham gia giáo hội – Hội Dagon – và đám trẻ con sẽ không bao giờ chết, mà chỉ quay về với Đức Mẹ Hydra và Đức Cha Dagon, nguồn gốc một thời của tất cả chúng ta – lä! Iä! Cthulhu fhtagn! Phnglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah-nagl fhtagn...”
Lão Zadok đang nhanh chóng rơi vào tràng nói sảng, và tôi nín thở. Lão già tội nghiệp – chỗ rượu của lão, cộng với lòng căm thù với sự suy đồi, xa lạ, và bệnh tật xung quanh mình đã đẩy bộ não sáng tạo, giàu trí tưởng tượng kia đến nước ảo giác thảm thương biết nhường nào! Bây giờ lão bắt đầu rên rỉ, và những giọt nước mắt đang tuôn rơi trên cặp má nhăn nheo của lão chảy vào sâu trong bộ râu của lão.
“Chúa ơi, những thứ tui đã chứng kiến từ hồi tui mười lăm tuổi – Mene, mene, tekel, upharsin! – những người bị mất tích, và những người tự sát – những người tiết lộ chuyện tại Arkham, Ipswich hay những nơi tương tự đều bị coi là điên, giống như cậu đang nghĩ về tui ngay bây giờ đây này – nhưng lạy Chúa, những thứ tui đã chứng kiến... Đáng lẽ chúng đã giết tui từ lâu vì những gì tui biết rồi, chỉ có điều tui đã thực hiện Lời thề Dagon thứ nhất và thứ hai với lão Obed, thế nên tui được bảo vệ, trừ khi một bồi thẩm đoàn bọn chúng chứng minh tôi đã nói lộ ra gì một cách cố ý và có chủ đích... nhưng tui không thể Lời thề thứ ba – tui thà chết còn hơn...
“Mọi chuyện thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn trong thời Nội Chiến, khi những đứa trẻ sinh ra từ năm 46 bắt đầu lớn lên – một số đứa trong đám bọn chúng. Tui rất sợ – không bao giờ còn tọc mạch gì nữa sau cái đêm kinh khủng đó, và cả đời chưa bao giờ tận mắt trông thấy bất kì ai trong số... chúng. Ý là, tui chưa bao giờ thấy tên thuẩn huyết nào. Tui đi tham chiến, và nếu có gan hay đầu óc thì tui đã không bao giờ quay trở lại, mà sống xa nơi đây.
Nhưng người ta viết thư cho tui, bảo là mọi thứ không đến nỗi nào. Tui đoán đó là bởi sau năm 63 thì chính phủ bắt trai tráng trong thị trấn đi quân dịch hết. Sau cuộc chiến thì lại tồi tệ như cũ. Mọi người bắt đầu sa sút – nhà máy và hàng quán đóng cửa – công việc vận chuyển ngưng hoạt động và bến cảng ách tắc – đường sắt bị bỏ bê – nhưng còn chúng... chúng không bao giờ ngừng bơi ra bơi vào dòng sông đó từ rạn san hô của quỷ Satan bị nguyền rủa kia – và càng ngày càng có thêm nhiều cửa số gác mái bị bít ván kín lại, và ngày một có thêm nhiều tiếng ồn được nghe thấy trong các ngôi nhà đáng lẽ phải không có người ở...
“Người dân bên ngoài có các giai thoại về bọn tui trông kiểu mấy câu cậu hỏi thì chắc cậu đã nghe nhiều rồi – các giai thoại về những thứ họ thỉnh thoảng nhìn thấy, và về cái mớ trang sức kì quái vẫn đến từ đâu đó và không tan chảy hẳn – nhưng chẳng có gì cụ thể hết. Sẽ không ai tin gì cả. Họ gọi mấy thứ giống như vàng đó là kho báu hải tặc, và cho rằng dân Innsmouth có máu ngoại lai hay bị bệnh gì đó. Với cả, những người sống ở đây đuổi hết có thể những người lạ, và khuyến khích những người còn lại đừng có quá tò mò, đặc biệt là vào khoảng ban đêm. Lũ thú sợ chúng – ngựa tệ hơn lừa – nhưng khi có ô tô thì mọi thứ lại ổn.
“Năm 46, Thuyền trưởng Obed lấy một bà vợ hai mà không ai trong thị trấn từng thấy – một số người nói lão không muốn, nhưng bị những kẻ lão đã triệu đến ép buộc. Lão có ba đứa con với mụ – hai người biến mất khi còn trẻ, nhưng một cô con gái trông chẳng lạ thường gì và được học ở châu Âu. Obed cuối cùng cũng xoay xở dùng mưu để cho con nhỏ cưới một người ở Arkham, không hề nghi ngờ gì hết. Nhưng bây giờ không ai ở bên ngoài muốn dính dáng gì đến với dân Innsmouth.
Barnabas Marsh hiện điều hành nhà máy luyện vàng, là cháu trai từ người vợ đầu của lão Obed con trai của Onesiphorus, con trai trưởng của lão, nhưng mẹ gã Barnabas là một trong những người chẳng ai nhìn thấy ở bên ngoài bao giờ.
“Ngay bây giờ đây, Barnabas cũng sắp sửa thay đổi rùi. Không thể nhắm mắt được nữa, và hình dáng đã trở nên quái dị. Người ta bảo gã vẫn mặc quần áo, nhưng gã sẽ sớm xuống nước thôi. Có thể gã đã thử xuống rồi – đôi khi chúng xuống mấy đợt ngắn trước khi xuống hẳn. Không ai nhìn thấy gã ngoài đường gần mười năm nay rồi. Không biết cô vợ tội nghiệp của gã cảm thấy thế nào nữa – cô ta đến từ Ipswich, họ thiếu chút nữa là đã hành hình Barnabas khi gã tán tỉnh cô ta năm mươi năm có lẻ trước. Laoc Obed chết năm 78, và tất cả các thế hệ tiếp theo bây giờ đã mất rồi con bà vợ đầu đã chết, và những đứa còn lại... chỉ Chúa mới biết..."
Tiếng của dòng nước triều đang dâng giờ đã trở nên rất dai dẳng, và nó xem chừng dần dần khiến cho tâm trạng của lão già chuyển từ đau buồn sướt mướt sang sợ hãi đầy cảnh giác. Thỉnh thoảng lão dừng lại để một lần nữa lo lắng liếc ra sau vai hay về phía rạn san hô, và bất chấp câu chuyện của lão vô lí tột cùng, tôi không khỏi bắt đầu bị lây nỗi khiếp đảm mơ hồ của lão. Giọng lão Zadok bây giờ the thé hơn, và dường như đang cố gắng khơi dậy lòng can đảm của mình bằng cách nói lớn tiếng.
“Này, cậu, tại sao cậu không nói gì cả thế? Cậu có muốn sống trong một thị trấn như thế này, với tất cả mọi thứ thối rữa và chết dần chết mòn, và những con quái vật bị nhốt kín trườn bò, kêu, sủa và nhảy nhót loanh quanh trong các tầng hầm và căn gác đen ngòm khắp tứ phương tám hướng không? Hả? Cậu có muốn nghe tiếng hú hết đêm này sang đêm khác vọng ra từ các nhà thờ và Hội trường Hội Dagon, và biết kèm theo màn hú hét ấy là những gì đang được thực hiện không? Cậu có muốn nghe thứ gì đến từ rạn san hô khủng khiếp đó vào mỗi đêm Thánh Walpurgis và Halloween không? Hả? Nghĩ lão già này điên rồi hả? Thưa cậu, tui xin khẳng định với cậu rằng đó chưa phải là điều tệ nhất đâu!”
Bây giờ lão Zadok đã gào tướng hẳn lên, và cái chất điên cuồng trong giọng lão làm tôi cảm thấy lo âu hơn mức mình dám thừa nhận.
“Khốn kiếp, đừng ngồi đó nhìn tui theo cái kiểu như thế – tui khẳng định lão Obed Marsh đang ở dưới địa ngục, và phải ở im dưới đấy! He, he... dưới địa ngục, tui cam đoan đấy! Không thể bắt tui được – tui chưa làm gì cả mà cũng chưa cho ai biết gì cả...
“Ồ, có cậu hả, anh bạn trẻ? Chà, ngay cả nếu tui chưa cho ai biết gì, bây giờ tui sẽ kể đây! Cậu cứ ngồi im và nghe tui, cậu trẻ ạ – đây là điều tui chưa kể cho ai bao giờ hết... Tui đã nói rằng tui không đi tọc mạch sau đêm đó nữa nhưng tui vẫn cứ phát hiện ra nhiều thứ!
“Cậu muốn biết nỗi kinh hoàng thật sự là gì hả? Chà, là thế này đây – không phải là thứ lũ quỷ cá đã làm đâu, mà là điều chúng sẽ làm! Chúng đang mang những thứ từ nơi mình đến vào trong thị trấn – làm được mấy năm rồi, dạo gần đây thì hạn chế bớt. Mấy ngôi nhà ở phía Bắc dòng sông giữa phố Water và phố Main chứa đầy mấy thứ ấy – cả lũ quỷ lẫn những thứ chúng mang lên – và khi chúng đã sẵn sàng... Tui xin khẳng định, khi chúng đã sẵn sàng... đã bao giờ nghe đến một shoggoth chưa?...
“Này, cậu có nghe tui không? Tui xin khẳng định với cậu tui biết mấy thứ kia là gì – tui đã trông thấy chúng vào một đêm nọ, khi... Ê – AAAAA – A! Ế ÁAAAAAAA...”
Tiếng hét bất thình lình, chất chứa một nỗi hoảng loạn dã man đầy gớm guốc của lão già suýt nữa thì khiến tôi ngất đi. Mắt lão nhìn qua chỗ tôi, hướng về phía vùng biển hôi hám, lồi hẳn ra khỏi đầu lão; còn mặt lão thì đầy vẻ hãi hùng, chẳng khác nào một cái mặt nạ bi kịch Hy Lạp. Bàn tay xương xẩu của lão găm mạnh vào vai tôi, và lão đờ người như tượng trong khi tôi quay đầu lại để nhìn thứ lão đã trông thấy.
Tôi chẳng thấy gì hết. Chỉ có mỗi làn nước triều đang lên, cùng với thứ có thể là một gợn sóng lăn tăn, tách lẻ hơn so với những hàng sóng vỗ ngoài xa. Nhưng bây giờ lão Zadok lại lắc tôi, và tôi quay đầu trở lại, quan sát cảnh khuôn mặt đông cứng vì hãi sợ kia tan chảy thành một nùi hỗn độn với mí mắt giần giật và nướu lợi lẩm bẩm. Chẳng bao lâu sau, giọng lão quay trở lại – mặc dù là dưới dạng một tiếng thì thầm run rẩy.
“Ra khỏi đây ngay! Ra khỏi đây ngay! Chúng đã nhìn thấy ta rồi – nếu muốn sống thì hãy ra khỏi đây đi! Đừng chờ đợi gì cả... bây giờ chúng biết cả rồi... Chạy đi... nhanh lên... ra khỏi cái thị trấn này...”
Thêm một làn sóng nặng nề nữa ập vào khối xây gạch đá lỏng lẻo của cái cầu tàu một thời, và lại biến tiếng thì thầm của lão già điên thành một tiếng thét phi nhân tỉnh và sởn gai ốc nữa.
“Ê – AAAAAA!... HAAAAAAA!..."
Trước khi tôi kịp hoàn hồn, lão đã thả lỏng bàn tay nắm vai tôi ra và cắm đầu cắm cổ lao thẳng vào trong đất liền, về phía con phố, quành về hướng Bắc, chạy quanh bức tường nhà kho đổ nát. Tôi ngoái lại liếc về phía biển, nhưng chẳng có gì ở đó. Khi tôi đến phố Water và nhìn dọc theo về phía Bắc, không còn thấy bóng dáng lão Zadok Allen đâu nữa.