Sau Ấn Độ, chúng tôi đã đi khắp các vùng đồng bằng bao la của Masai Mara, Kenya, dành thời gian tại các thị trấn nhỏ ở Nam Phi và khám phá những khu ổ chuột chật chội ở Brazil. Thay vì đi theo lịch trình của hướng dẫn viên ở các khu di tích lịch sử, tôi có thói quen kết bạn với những người dân địa phương tầm tuổi mình và hỏi xem liệu tôi có thể ở làng của họ không. Yêu cầu đơn giản này đã đưa tôi ra xa khỏi con đường vạch sẵn và cho tôi cơ hội có được cái nhìn từ bên trong về đời sống của các cộng đồng nông thôn nơi đây. Tôi trở nên say sưa với việc tìm hiểu xem những người khác sống như thế nào. Đến khi Học kỳ Trên biển gần kết thúc, chúng tôi đã đi một vòng quanh thế giới và tôi thấy lòng mình như lửa đốt.
Khi tàu cập cảng Ft. Lauderdale, nơi gia đình chúng tôi đang đợi sẵn, ngay lập tức tôi bị choáng ngợp bởi thực tế người Mỹ to cao hơn nhiều so với những người mà tôi đã gặp ở nước ngoài. Hiếm khi tôi thấy một người thừa cân nào ở các nước đang phát triển, thế nhưng hơn một nửa số người đang vẫy tay trên bờ biển Floridia đều chẳng khác nào những người khổng lồ. Như Marcel Proust đã viết, “Hành trình khám phá thực sự không nằm ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà nằm ở chỗ có cái nhìn mới.” Trong suốt chuyến đi, tôi đã lo lắng mình sẽ bị sốc văn hóa khi đến những vùng đất xa lạ, thế nhưng hóa ra cú sốc văn hóa lớn nhất của tôi lại sắp xảy ra ở quê nhà.
Ma háo hức đưa tôi đến câu lạc bộ golf của bà ở Boca Lago và nhồi tôi bằng những đĩa đầy thịt ức, thịt viên, cá viên, sushi và súp gà – những món ngon tuyệt sau nhiều tháng trên tàu với bánh mì ôi và salad sũng sượt. Tôi muốn ăn hết, nhưng khi chúng tôi vứt chỗ thức ăn thừa vào thùng rác, tất cả những gì tôi có thể nghĩ tới là có biết bao nhiêu người phải đi ngủ với cái bụng đói meo ở những nơi mà tôi đã đặt chân qua.
Đêm đó anh trai tôi, Scott, nay đã trở thành người cổ súy cho những hộp đêm hàng đầu tại Atlanta, khăng khăng rằng chúng tôi nên đến hộp đêm ở South Beach để ăn mừng tôi trở về. Tôi thậm chí vừa mới đặt chân trở lại đất Mỹ chưa đến 10 tiếng đồng hồ, nhưng chúng tôi đã đến Skybar, một điểm nóng ở Miami. Những phụ nữ xinh đẹp, trong những bộ đồ bó sát, tay cầm pháo vẫy vẫy và nhảy múa xung quanh còn tay kia cầm những chai Dom Pérignon trị giá hàng 5.000 đô-la. Hành động của họ có nét tương đồng với những nghi lễ tôn giáo mà tôi đã thấy trong vài tháng qua một cách kỳ lạ, nhưng trong các buổi lễ Candomblé ở Brazil và trong các ngôi đền Cao Đài ở Việt Nam, mọi người ca ngợi cuộc sống chứ không phải những chai rượu. Tôi có thể thấy mình đang đánh giá những người xung quanh, một việc làm không hề công bằng bởi họ không thấy những gì tôi đã thấy, và tôi cũng không sống cuộc đời của họ.
Dẫu vậy, dù cố gắng thế nào, tôi biết cảm giác này sẽ không mất đi cho đến khi tôi lên đường đi du lịch bụi lần nữa. Tôi đã trưởng thành rất nhiều trong thời gian ở nước ngoài, nhưng có vẻ như cuộc sống ở nhà chẳng có gì đổi khác. Tôi cảm thấy như thể mình đang trở lại căn phòng ngủ thời thơ ấu; tôi biết mọi thứ rõ đến độ có thể lần tìm công tắc đèn trong bóng tối, nhưng tôi không còn phù hợp với những thứ xung quanh khi mọi thứ lộ ra dưới ánh sáng. Cha mẹ tôi trước đó luôn nói với tôi rằng, khi con đi du lịch, “cha mẹ sẽ ủng hộ con, nhưng không phải về tài chính đâu đấy,” vì vậy tôi ấp ủ một kế hoạch trở lại con đường rộng mở kia.
Sau khi làm nhiều việc khác nhau trong tháng Năm và tháng Sáu, tôi đã có đủ tiền để đi du lịch bụi dè sẻn hết tháng Bảy và tháng Tám. Cùng với anh bạn Luke, tôi bắt đầu từ châu Âu, ở đây chúng tôi sống nhờ vào những chiếc bánh mì kẹp giá rẻ tại những điểm nóng du lịch như Paris, Vienna và Prague. Ngoài ra, chúng tôi cũng đến thăm nhiều thành phố xa xôi hơn như Bratislava, Slovakia, Split và Croatia, chỉ để thỏa chí phiêu lưu khỏi những con đường đã vạch sẵn. Ở những khu vực xa xôi này, chúng tôi gặp được những con người vô cùng tốt bụng, sẵn lòng cho chúng tôi ở nhờ. Chẳng hạn, ở Dubrovnik, Croatia, chúng tôi đã ở nhà của một cặp vợ chồng lớn tuổi mà chúng tôi gặp tại trạm xe buýt. Sau khi nghe chúng tôi kể chúng tôi nhớ những bữa sáng nhà nấu ra sao, hai bác ấy đã bày sẵn bánh mì nóng, trứng và nước trái cây tươi trong bếp cho chúng tôi mỗi sáng. Những món chiêu đãi này khiến chúng tôi phấn chấn hẳn lên và nhận ra rằng ngay cả trên đường, ta vẫn có thể tìm thấy những con người dù xa lạ song có thể làm ta thấy thân thương chẳng khác gì người nhà. Các món ăn hẳn nhiên là ngon rồi, nhưng chính cử chỉ của họ mới khiến chúng tôi biết rằng lòng tốt không thể đong đếm bằng tiền. Cách duy nhất để đong đếm nó là đo sức nặng của lòng trắc ẩn mà bản thân hành động đó mang đến cho cuộc sống của người khác.
Sau thời gian ở châu Âu, tôi dành thời gian còn lại của mùa hè đi du lịch bụi ở Singapore, Thái Lan và Campuchia với Dennis, người bạn cùng tham gia SAS với tôi, và cậu bạn cùng phòng của cậu ấy ở đại học, Zach. Cảm giác vị lai mà Singapore mang lại và những bãi biển tuyệt đẹp ở Thái Lan đã không khiến tôi thất vọng. Ở Campuchia, chúng tôi được Scott Neeson đón tiếp, ông là một người Australia kiên cường, từng là nhà sản xuất phim, chịu trách nhiệm phát hành một số bộ phim kinh điển như Titanic và X-Men.
Cách đây vài năm, Scott đến Steung Meanchey, một bãi rác khét tiếng ở Phnom Penh, nơi hàng ngàn trẻ em nghèo nhất của vùng này phải sống trong cảnh nghèo khó. Sau khi nhận ra rằng sự giúp đỡ của mình chỉ như muối bỏ bể, Scott đã rời xa cuộc sống ở Hollywood. Ông đã bán nhà, bán xe Porsche và một mình đến Campuchia thành lập Quỹ Nhi đồng Campuchia (CCF, tổ chức chuyên cung cấp chỗ ở, cơ hội học tập, thực phẩm và các khóa đào tạo kỹ năng sinh tồn cho trẻ em ở những cộng đồng dân cư nghèo nhất.
Tổ chức này nhỏ, hoạt động nhanh gọn và được điều hành bởi một người mà tôi quen thân. Thỉnh thoảng tôi lại cùng Scott đi khắp Steung Meanchey. Mùi rác ở đây thật khủng khiếp, nhưng có vẻ ai cũng biết ông, và ông đã trò chuyện với rất nhiều gia đình về việc họ cần đưa con cái đến CCF để được chăm sóc y tế ra sao. Các dịch vụ mà ông cung cấp nhắm đến những đứa trẻ đặc biệt cần sự giúp đỡ, và ông cũng có mối quan hệ thân thiết với những người mà ông hỗ trợ.
Ông giải thích, ông có một đội ngũ nhân viên là người Campuchia, đây là điều tốt nhất cho những đứa trẻ mà họ hỗ trợ, nhưng ông cần người giúp gây quỹ ở Mỹ. Tôi ngay lập tức đồng ý trở thành điều phối viên gây quỹ đầu tiên cho Quỹ Nhi đồng Campuchia và hứa sẽ dành năm cuối đại học để giúp tổ chức mang lại cơ hội học tập cho thêm nhiều em nhỏ nữa.
Vì tôi sinh ra vào ngày Halloween, nên tôi lên kế hoạch tổ chức một lễ hội hóa trang như thường lệ vào dịp sinh nhật của mình, nhưng lần này tôi đề nghị mỗi khách mời quyên góp 10 đô-la tại cửa thay cho quà tặng. Bữa tiệc huy động được vài ngàn đô-la và là sự kiện đầu tiên trong nhiều sự kiện mà tôi muốn tổ chức để hỗ trợ CCF.
Dù bữa tiệc đầu tiên rất thành công, nhưng tôi đã gặp khó khăn khi lên kế hoạch cho sự kiện tiếp theo. Tôi không có bằng chứng chứng minh được rằng mình có liên hệ với CCF nên tôi không được hưởng chính sách giảm giá cho tổ chức phi lợi nhuận ở những địa điểm mà tôi định thuê. Khi tôi hỏi Scott cách chứng minh quan hệ của mình với CCF, ông đã gửi cho tôi tấm danh thiếp hai mặt của chính tôi qua mail. Một mặt của tấm danh thiếp có ghi tên tôi và chức danh “Điều phối viên gây quỹ” bằng tiếng Anh, mặt còn lại in thông tin tương tự bằng tiếng Khmer, ngôn ngữ chính ở Campuchia.
Đó chỉ là một thứ rất nhỏ, nhưng lại là món quà tuyệt vời nhất mà tôi từng nhận được. Tôi có cảm giác thuộc về nơi ấy. Tôi cảm thấy mình quan trọng. Khoản đầu tư 20 đô-la để làm ra những tấm danh thiếp này mang lại cho tôi ý thức giá trị và giúp tôi gây được hàng ngàn đô-la cho CCF trong vài năm sau đó. Chỉ nhờ một mảnh giấy, tôi đột nhiên có một danh tính mà tôi có thể tự hào.
Dù đã có ý thức mục đích rõ nét hơn bao giờ hết, nhưng cảm giác không ai hiểu mình vẫn bám riết tôi. Tôi đã biến đổi nhanh chóng và sâu sắc trong thời gian bốn năm đại học, và đôi khi tôi cảm thấy như thể cuộc sống của tôi còn xa mới đuổi kịp đích đến mà tâm trí đang dẫn lối cho tôi. Khi tôi ấp ủ kế hoạch thành lập một tổ chức phi lợi nhuận sau khi tốt nghiệp, cha mẹ, các thầy cô giáo và bạn bè đều cố gắng ngăn cản tôi. Tôi đã học hành cật lực để hoàn thành ba chuyên ngành kinh tế học, xã hội học và các tổ chức khu vực công và tư nhân, nên họ không muốn tôi phung phí nó. “Con nên làm ở cấp cao nhất trong lĩnh vực kinh doanh”, họ nói. “Như thế con mới có thể kiếm được thật nhiều tiền, rồi khi 40-50 tuổi thì dùng số tiền đó tài trợ cho một cái gì đó giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn.”
Tôi miễn cưỡng xuôi theo phân tích của họ. Tôi biết hồ sơ của mình đủ đẹp để mở nhiều cánh cửa cơ hội, vậy nên tôi bắt đầu nộp đơn xin vào những vị trí hấp dẫn nhất dành cho các sinh viên mới tốt nghiệp. Tuy vậy, trong thâm tâm, tôi biết giờ đây động lực thôi thúc tôi tiến bước đã hoàn toàn khác.
Số tiền kiếm được nhờ làm việc chăm chỉ suốt nhiều năm đã giúp tôi tích lũy được một khoản kha khá, nhưng mỗi khi nhìn vào ví, thứ quan trọng nhất đối với tôi lại là tấm danh thiếp CCF. Nó có ý nghĩa với tôi hơn cả những tờ đô-la bên cạnh bởi nó cho phép tôi thuộc về cái gì đó lớn lao hơn bản thân mình. Mục đích có thể nổi lên từ nhiều nơi khác nhau, nhưng nó thường xuất hiện nhiều hơn cả thông qua những điều nhỏ nhặt, cho phép chúng ta cảm thấy mình được kết nối với một tổng thể rộng lớn hơn.
Dù tôi sắp dấn thân vào thế giới doanh nghiệp, nhưng tấm danh thiếp CCF đã mang lại cho tôi cảm giác muốn khám phá thêm nữa. Tôi quyết định thực hiện thêm một chuyến đi dài ngày nữa đến các nước đang phát triển. Tôi xách ba lô, mang theo một cặp kính râm phi công và số tiền mặt đủ để sống bốn tháng ở Mỹ La-tinh.
Việc duy nhất còn lại cần làm là viết di chúc và leo lên máy bay hướng về phía nam.