Lời Hứa Về Một Cây Bút Chì

Lượt đọc: 295 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời tâm niệm 3. Hãy nhớ rằng ta có một mục đích

❊ ❊ ❊

Ánh nắng mặt trời chiếu vào cabin của tôi qua một cửa nóc nhỏ, nơi mà chỉ vài giờ trước đó, tôi đã được chứng kiến những cồn sóng cao hàng chục mét dậy lên như núi từ xa. Tôi mở mắt và thấy chiếc giường đang nằm bị ném văng chéo căn phòng mà giờ hỗn độn đến độ tôi không còn nhận ra nổi. Chiếc tủ quần áo nhỏ của tôi, với những ngăn kéo đã được tôi dán kín bằng băng dính để tránh phải nghe tiếng ngăn kéo đóng mở, đã lộn ngược. Quần áo và sách vở ngổn ngang khắp sàn. Chiếc máy ảnh Canon SD300 yêu dấu vỡ tung, nằm lăn lóc trên đất. Tôi nhìn sang phía người bạn cùng phòng của mình, Jaret, người thường rất lạc quan và luôn chăm chỉ ghi chép nhật ký. Mặt cậu ta tái nhợt và đầy vẻ thảng thốt. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng tôi biết đó không thể là chuyện tốt lành được.

Nhưng chí ít thì cơn đau đầu của tôi cũng đã biến mất.

Tôi quên mang theo thuốc Excedrin PM, do đó, đêm trước, khi bị cơn đau nửa đầu khủng khiếp hành hạ, tôi đã nuốt vội một viên Ambien để ngủ vùi. Tôi không lạ gì các loại thuốc an thần dễ ngủ bởi tôi luôn dùng chúng để chống lại những cơn mất ngủ từ thời trung học. Ambien không ru tôi ngủ mà khiến tôi ngủ say như chết.

“Chuyện quái gì đã xảy ra ở đây thế này?” tôi hỏi Jaret. Tôi cố đứng dậy, nhưng căn phòng đã nghiêng hẳn về một bên. Chúng tôi bám vào giường.

“Vài giờ qua thật khủng khiếp,” cậu ta nói, khuôn mặt lộ rõ vẻ hoảng sợ. Tôi không nhớ chi tiết, chỉ biết là cậu ta bị đánh thức lúc ba giờ sáng khi các vật nặng trượt khắp cabin – tủ, giường, bàn của chúng tôi – vậy nên cậu ta đã đi ra ngoài hành lang vì nghĩ ở đó an toàn nhất. Hầu hết những người ở cùng dãy cabin với chúng tôi đều làm vậy. Sau một giờ, Jaret trở về phòng cầu nguyện, viết nhật ký và xem tôi thế nào. Rõ ràng là trong khi trời gần như sập xuống thì viên Ambien quả là có tác dụng.

13 ngày trước đó, tôi đặt chân lên tàu MV Explorer, bắt đầu hải trình từ Vancouver, British Columbia, háo hức bắt đầu chương trình Học kỳ trên biển. Trong chuyến đi kéo dài 100 ngày này, chúng tôi sẽ đi vòng quanh thế giới, trực tiếp thưởng thức các nền văn hóa trên bốn châu lục. Đây sẽ là chuyến đi nhớ đời.

Nhưng ngay khi chúng tôi rời cảng, hướng về Hàn Quốc thì biển động. Các luồng áp thấp quét qua rìa phía bắc lạnh lẽo của Thái Bình Dương, khuấy động các vùng nước quanh chúng tôi. Vào mùa đông, những con tàu cũ kỹ của Học kỳ trên biển thường chọn hải trình từ đông sang tây, đắt hơn nhưng lại an toàn hơn, trong khi chiếc tàu mới mà chúng tôi đang đi lại thử vượt qua Bắc Thái Bình Dương.

Mỗi ngày trôi qua, con tàu lắc lư một mạnh hơn, các học viên bắt đầu nhai thuốc chống say như nhai kẹo để hạn chế những cơn nôn nao ở dạ dày. Tuy nhiên, tinh thần của chúng tôi vẫn ở mức cao. Chúng tôi lảo đảo sà từ lớp này vào lớp kia, và làm trò về “khả năng đi lại trên boong tàu chao đảo”. Khi những đĩa thức ăn cứ liên tục trượt khỏi bàn trong suốt bữa trưa, chúng tôi phá lên cười phấn khích. Đây quả là một cuộc phiêu lưu. Chúng tôi gồm 650 sinh viên đại học ra nước ngoài trên một con tàu có trọng tải 2.400 tấn, được trang bị động cơ đôi mạnh mẽ. Chúng tôi bất khả chiến bại.

Trên tàu không có ti vi, còn Internet thì cước rất đắt và chậm như rùa, vì vậy hằng đêm chúng tôi tự bày trò tiêu khiển để giải trí. Chúng tôi đọc cuốn cẩm nang du lịch nổi tiếng Lonely Planet (Hành tinh cô đơn), chơi những trò thời thơ ấu như Cờ tỷ phú và trò ghép chữ, ngồi tranh luận hàng giờ về các nghệ sĩ guitar và Thượng đế.

Cơn bão ngày một mạnh hơn, nhưng chúng tôi đặt niềm tin tuyệt đối vào thuyền trưởng Buzz, một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm với mái tóc muối tiêu và chất giọng lè nhè kiểu miền Nam. Khi thuyền trưởng Buzz đưa ra chỉ thị, chúng tôi lắng nghe. Và khi ông nói chúng tôi sẽ vượt qua cơn bão ngày càng mạnh này, chúng tôi tin ông.

Thuyền trưởng Buzz cập nhật cho chúng tôi về tình hình thời tiết và tọa độ hằng ngày của tàu. Lúc đó Google Maps chưa phổ biến, vì thế các học viên lo lắng chép lại kinh độ và vĩ độ vị trí hiện tại, sau đó sử dụng chúng để tìm ra vị trí của con tàu trên bản đồ giấy. Có một vị quản lý phụ trách đời sống của học viên, người mà chúng tôi chưa gặp mặt bao giờ, trao đổi với thuyền trưởng Buzz qua bộ đàm vào buổi chiều để cung cấp một loạt các thông tin cập nhật về các thủ tục và diễn biến trên tàu. Do giọng nói nhẹ nhàng của ông và tính chất công việc là “phát thanh viên” vào đêm muộn, nên chúng tôi bắt đầu gọi ông là Giọng hát Mỹ (the Voice). Thường thì sẽ có một âm lớn vang lên để thu hút sự chú ý của chúng tôi – bing bong – và sau đó là giọng ông Giọng hát Mỹ vang khắp tàu.

“Chào các bạn, mời các bạn đón nghe bản tin chiều,” giọng ông ngâm nga, dù đáng lẽ ông có thể nói, Các bạn đang lắng nghe Giọng hát Mỹ, chương trình phát thanh “nhiều nhạc hơn lời…” Nếu thuyền trưởng Buzz và ông Giọng hát Mỹ không lo lắng, thì chúng tôi cũng vậy.

Trong gần hai tuần, chúng tôi đã phải chịu đựng những con sóng bạc đầu liên tiếp và đồ đạc bị quăng quật khi con nước ngày càng trở nên hung hãn. Ngay trước khi mặt trời ló rạng vào ngày thứ 13 chúng tôi lênh đênh trên biển, tại vùng nước cách bờ biển Alaska khoảng 700 dặm, khi mà tôi vẫn ngủ như chết do tác dụng của thuốc Ambien, con tàu của chúng tôi đã bơi thẳng vào giữa ba cơn bão lớn. Ngay sau khi tôi thức dậy, tiếng ông Giọng hát Mỹ lách cách trên hệ thống loa.

Bing bong.

“Chào các bạn,” tiếng ông Giọng hát Mỹ vang lên mệt mỏi như thể cả đêm ông đã không ngủ. “Chúng ta đang gặp phải thời tiết vô cùng xấu, vì vậy chúng tôi yêu cầu tất cả mọi người mặc áo phao và ở yên trong phòng. Chúng ta đang gặp phải những con sóng cực lớn nên đây chỉ là một biện pháp phòng ngừa để đảm bảo sự an toàn của tất cả các bạn. Một lần nữa, chúng tôi yêu cầu các bạn mặc áo phao và ở yên trong phòng.”

Jaret và tôi nhìn nhau, cười gượng, chúng tôi lục tìm chiếc áo phao neon phiền phức trong tủ đồ. Vào đêm rời Vancouver, tất cả các học viên đã được tập hợp lại để tham gia diễn tập tại các “chốt tập trung” đã chỉ định, đây là nơi chúng tôi phải có mặt trong các trường hợp khẩn cấp. Ở đây, chúng tôi tập lên xuồng cứu sinh buộc phía ngoài thân tàu. Khoác áo phao lên người, chúng tôi nghịch ngợm bật đèn nhấp nháy trên áo và chọc cười nhau, vì chúng tôi ai cũng cố tỏ ra thật sành điệu trong đêm đầu tiên của cuộc hành trình. Tất cả chẳng khác nào hồi chúng tôi học năm thứ nhất đại học, chẳng ai chú ý tới những hướng dẫn được đưa ra.

Lần này không còn là một buổi diễn tập nữa, dù vậy chúng tôi vẫn không nghiêm túc lắng nghe hướng dẫn. Khi Jaret và tôi mặc xong áo phao, cả hai đứa đứng trên đệm, nhòm qua cửa sổ nóc để xem những con sóng trồi lên mỗi lúc một cao hơn. Chúng tôi chồm lên chồm xuống theo con tàu suốt một giờ, giống như những anh chàng cao bồi cưỡi trên một con ngựa chưa thuần ở hội chợ tiểu bang – cho đến khi chúng tôi cảm thấy cả con tàu rung lắc mạnh.

“Có chuyện rồi!” Jaret nói.

Khi đó, chúng tôi vẫn chưa biết gì, nhưng sự hợp lực của ba cơn bão đã tạo thành những đợt sóng cao hàng 20m nối tiếp nhau từ xa, lao rầm rập về phía con tàu của chúng tôi. Nó đập vào trụ tàu. Và khi một bức tường nước đổ ào xuống, nó đánh sập các cửa sổ chống đạn của phòng chỉ huy trên tàu và tràn vào máy cấp điện chính. Nước lạnh táp vào các bảng điều khiển điện tử, khiến các động cơ bị chết và thiết bị định vị bị sập.

Bing bong.

Tiếng ông Giọng hát Mỹ nghe như thể ông vừa dồn hết tốc lực cho cuộc chạy marathon. Ông hớp lấy hơi sau mỗi câu thông báo khẩn cấp.

“Mọi người chú ý! Hãy lập tức di chuyển lên tầng năm hoặc vị trí cao hơn! Không được đi thang máy! Hãy giúp phụ nữ và trẻ nhỏ lên cầu thang. Mặc áo phao và đến các chốt tập trung đã chỉ định ngay lập tức!”

Tôi thở hắt ra như có thứ gì đó chẹn vào ngực. Dịch trong dạ dày trào ngược lên cổ, chân tôi run rẩy và chẳng còn chút sức lực nào để đứng vững.

Theo những gì tôi có thể nhớ được từ cuộc diễn tập, những chiếc xuồng cứu sinh treo lủng lẳng ngoài thân tàu là cách duy nhất để chúng tôi có thể ra khỏi tàu. Dựa vào tình thế hiện nay, chúng tôi chẳng thể nào ra ngoài và leo được lên xuồng, và ngay cả khi có ra được, thì bất cứ chiếc xuồng hơi nào cũng sẽ bị lật úp gần như ngay lập tức. Gần như không có kế hoạch khả thi nào để thoát khỏi tình huống nguy cấp này.

Tôi nghĩ bụng, Mình chết chắc rồi! Chỉ trong hai giờ nữa thôi là mình sẽ chết chìm trong nước lạnh. Tôi suy sụp hoàn toàn. Sao có thể như vậy được kia chứ?

Con tàu này chắc chắn sẽ chìm, tôi nghĩ, mình chẳng thể làm gì để cứu vãn được cả. Tôi có thể thấy mình càng lúc càng hoảng loạn. Nhưng tại sao chứ? Chẳng lẽ thời gian mình ở đây có mục đích là thế này ư? Là chết giữa biển ư? Tôi nhắm mắt lại, cầu xin đấng tối cao mà tôi vẫn cầu nguyện mỗi ngày trả lời những câu hỏi ấy, và đột nhiên một cảm giác bình yên tràn ngập lòng tôi.

Với sự xác tín tuyệt đối, tôi tin chắc đây chưa phải là thời khắc cuối của mình. Đó là một cảm giác không giống bất cứ trải nghiệm nào của tôi trước đây. Tôi biết chắc mình còn nhiều việc phải làm trong thời gian ở đây, thay vì biến mất trong làn nước lạnh kia. “Chàng trai 21 tuổi bỏ mạng trên biển” sẽ không phải là câu chuyện về tôi. Sẽ không có những buổi cầu nguyện dưới ánh nến hoặc các quỹ học bổng lấy tên tôi. Tôi không chắc mục đích của mình là gì, nhưng tôi ngộ ra rằng nó tồn tại và vẫn chưa được thực hiện. Dù tôi sớm nghĩ đến cái chết, nhưng giờ đây, tôi chắc chắn mình sẽ sống sót.

Tôi chỉ cần tìm ra cách mà thôi.

Tôi nhìn qua cửa nóc một lần nữa để xem mình phải chống chọi lại thứ gì. Chúng tôi đã ở cách đất liền khoảng 700 dặm, đang lênh đênh trên biển Bắc Thái Bình Dương, trời lúc này đang giữa mùa đông – và chúng tôi đang phải vật lộn với những cồn sóng cao ngất. Tôi có khả năng bị hạ thân nhiệt, và một trong số ít những lời khuyên tôi còn nhớ được từ các cuộc diễn tập là mặc quần áo ấm, dài tay nếu đường cùng phải nhảy xuống nước. Tôi xỏ vội chiếc quần tập bóng rổ ở Đại học Brown và một cái áo tập có mũ vào người để giữ ấm. Vừa lúc đó, các bạn tôi, Dave và Reed lao vào phòng tôi.

Cha của Dave là một mục sư, vì lẽ đó chàng ta rất sùng đạo. Reed, một người gốc Texas, là một quý ông miền Nam đích thực. Còn Jaret lại là một tín hữu Kitô đến từ Stillwater, Oklahoma. Vì vậy, tôi không chỉ được đồng hành cùng những người anh em mới, mà còn được đồng hành cùng cả những người hào hiệp và truyền thống nữa.

“Ngoài kia hỗn loạn lắm, mọi người tụ tập thành từng nhóm lớn cầu nguyện, ai cũng nghĩ mình sắp chết,” Reed thông báo. Cậu ta và Dave hối thúc rằng dù có bất kể vấn đề gì xảy ra, thì nhiệm vụ của chúng tôi là phải thật mạnh mẽ, vững vàng khi hướng dẫn những người khác di chuyển lên cầu thang lên tầng năm và tầng sáu.

“Dù tình hình tồi tệ thế nào,” Reed nói, “bốn đứa bọn mình cũng phải thực sự bình tĩnh và tự tin rằng chúng ta sẽ vượt qua được chuyện này. Mọi người sẽ trông đợi bọn mình hướng dẫn, vì vậy phải ra vẻ thật mạnh mẽ.”

Trước khi đối mặt với sự hỗn loạn điên cuồng ở hành lang, tôi đổi sang mặc một chiếc áo nỉ dài tay, mỏng và chiếc quần kaki mỏng duy nhất tôi mang theo. Nếu muốn sống, tôi phải bơi; và nếu muốn bơi, tôi không thể mặc quần áo dày và dễ thấm nước.

Tôi nhìn thẳng vào gương, kéo áo lên để lộ hình xăm trên ngực. Hai năm trước, tôi đã xăm ngược các từ Ani Ma’amin, có nghĩa là “Tôi tin” trong tiếng Do Thái, lên ngực trái để tôi có thể nhìn thấy chúng đúng chiều trong gương mỗi ngày. Đó là hai từ đầu tiên trong một câu kinh cầu, quả quyết rằng nếu ta làm việc đúng đắn và hành động đúng đắn trong cuộc đời này, ta sẽ được cứu rỗi khi sang thế giới bên kia. Khi xăm những chữ này, tôi tôn thờ và tin vào quyền năng của đức tin trong việc chở che và dẫn lối một người đi qua những thời khắc đen tối nhất của cuộc đời, giờ đây niềm tin vào một quyền năng cao hơn thực sự là sợi dây cứu đắm duy nhất của tôi.

Ani Ma’amin. Tôi lặp đi lặp lại hai từ này, cầu xin những người đang dõi theo tôi che chở, sau đó bước ra ngoài đối mặt với sự hỗn loạn.

Tôi nhập hội với Reed, Jaret và Dave tại các chốt, nỗ lực hết sức để giúp mọi người leo lên các tầng cao hơn trong khi chiếc tàu ngày càng lắc lư dữ dội. Khi mọi người đã an toàn ở trên tầng, tôi leo lên một khu vực kín, trên tầng thứ sáu và ngồi dựa lưng vào thang máy. Cứ hai học viên một nhóm, bắt đầu bám vào nhau như những con gấu ôm chặt nhau, với hy vọng rằng, khi chiếc tàu chồm lên, trọng lượng cơ thể sẽ giúp họ ở yên một chỗ. Tôi vòng tay thật chặt với một bạn gái kế bên, và ngồi sát Jaret và Reed. Phía bên trái tôi, một nhân viên tàu trên 40 tuổi, từng theo tàu MV Explorer nhiều năm, bắt đầu lảo đảo và khóc, một tay ông ghì chặt cuốn Kinh Thánh vào ngực, tay kia cầm chuỗi tràng hạt. Nếu ông ấy sợ đến thế, thì hẳn là hoàn cảnh lúc này thực sự tồi tệ lắm. Tôi nhắm mắt lại và mân mê hình xăm trên ngực.

Bing bong.

Là thuyền trưởng Buzz. Ông thông báo chúng tôi sẽ cần tiếp tục chịu đựng cơn bão, thủy thủ đoàn đang cố hết sức để sửa chữa những hư hỏng ở khu vực điều khiển khiến động cơ bị chết. Ông không đề cập đến việc ông cũng đã gửi tín hiệu cấp cứu đến lực lượng tuần dương và các đội cứu hộ đang trên đường đến.

Tiếng khóc, tiếng lầm rầm cầu nguyện và tiếng la hét vẫn tiếp tục khi chúng tôi ngồi chờ hướng dẫn. Tôi ngồi yên vị ở phía ngoài phòng ăn. Để khỏi bị văng khắp sàn, các học viên nắm lấy những chiếc cọc, thành lan can và ôm nhau – cầu trời con tàu đừng lật ngược. Tàu nghiêng sang một bên cho đến khi chúng tôi đúng là ở song song với mặt nước, rồi vật ngược sang phía còn lại, khiến dao kéo và bát đĩa vỡ xô loảng xoảng trên sàn bếp. Tôi không chắc còn gì đáng sợ hơn thế – mạng sống của chúng tôi đang phải phó mặc vào biển cả; qua những ô cửa sổ đầy nước hoặc những đám mây, chúng tôi biết mình nghiêng một góc bao nhiêu độ so với mặt biển.

Sau vài giờ, một nhóm học viên cho rằng chúng tôi cần phải tìm cách thoát ra khỏi tình cảnh chết người này. Chúng tôi biết mình phải lấy xuồng ra khỏi các cầu trục neo chặt ở phía ngoài. Có một cánh cửa gỗ dẫn ra một lối đi rộng khoảng ba mét với một lan can chắc chắn. Nếu bám chắc, chúng tôi có thể đi ra được phía xuồng cứu sinh chứ? Một người gợi ý chúng tôi nên thử xem sao. Một thủy thủ kéo cánh cửa, gió quất mạnh khiến nó mở toang.

“Đóng cửa lại! Đóng cửa lại!” các học viên khác hét lên.

Lúc này con tàu nghiêng hẳn sang một bên. Chúng tôi bị rơi vào thế như đang leo dốc. Cánh cửa mở lơ lửng ở phía dưới chúng tôi, trông giống như một miệng hố dẫn đến dòng nước chết người phía dưới. Các học viên bắt đầu trượt về phía cửa. Nếu ngã, họ sẽ lọt thỏm vào dòng nước biển lạnh cắt da cắt thịt phía dưới. Những tiếng la hét ngày càng to hơn.

Chúng tôi ôm ghì lấy nhau để khỏi ngã, và khi con tàu lắc mình sang phía bên kia, một nhân viên trên tàu đã kịp nắm lấy tay nắm cửa và đóng nó lại. Chúng tôi ngã quỵ, kiệt sức.

Sau vài giờ, con tàu bớt lắc, thuyền trưởng Buzz cũng đã sửa được động cơ đầu tiên; năm giờ sau đó, động cơ thứ hai bắt đầu hoạt động trở lại. Các động cơ không chạy vo vo nhưng những đợt rung lắc giảm hẳn. Chúng tôi lạc quan hơn. Các nhân viên trên tàu bắt đầu phân phát bữa tối, và những ổ bánh mì được làm cách đây cả ngày giúp xoa dịu bao tử cũng như các dây thần kinh của chúng tôi. Cuối cùng, sau bảy tiếng đồng hồ chúng tôi phải khoác áo phao, ngài Giọng hát Mỹ đã trở lại.

Bing bong.

“Chào các bạn, bây giờ các bạn có thể trở về phòng mình an toàn. Xin hãy kiên nhẫn khi chúng tôi tìm hiểu phải làm gì với những sự kiện trong ngày hôm nay. Con tàu đang bị hư hỏng nặng, vì vậy hãy cẩn thận với những mảnh kính vương vãi xung quanh, và tiếp tục theo dõi thông tin cập nhật.”

Trên đường trở về phòng, tôi ngó nghiêng đống đổ nát trong sự sợ hãi và lo âu. Các kệ sách trong thư viện từng đặt những cuốn sách hướng dẫn du lịch của Frommer và các tập bản đồ thế giới giờ trống trơn hoặc chỉ còn lác đác một nửa. Bàn ghế vỡ ra từng mảnh, những vụn kính vỡ la liệt khắp sàn. Cây đàn piano lớn lâu đời ở Hội trường chính ở trong tư thế lật úp và hư hỏng nặng.

Tôi thoáng nghĩ đến cảnh những học viên run rẩy đứng lên nổi loạn – đập phá phòng mình, kêu gọi thuyền trưởng Buzz từ chức và yêu cầu chấm dứt Học kỳ trên biển. Thế nhưng, thay vào đó, các sự kiện trong ngày đã kéo tất cả chúng tôi lại gần nhau hơn. Nghịch cảnh thường gắn kết thay vì chia rẽ con người.

Không ai nói nhiều về cơn bão trong 24 giờ sau đó. Chúng tôi rơi vào trạng thái trầm tư mặc tưởng. Nếu có ai đó khóc, một người khác sẽ lại gần an ủi. Một số học viên lặng lẽ tự tổ chức nhau lại thành các nhóm sửa sang lại thư viện và thu gom kính vỡ. Số khác viết nhật ký hoặc gọi điện thoại vệ tinh về nhà để cha mẹ yên tâm rằng họ an toàn. Ngày hôm sau, tôi đi ngang qua hai sinh viên đang chơi cờ bàn và thấy người đi trước mình kêu lên, “Các cậu đang đùa tớ hả? Giờ này mà các cậu còn chơi trò Tàu chiến(2) này á? Không đùa đấy chứ?!” Tôi cười sặc sụa. Thật nhẹ nhõm khi nỗi lo lắng qua đi.

Vài ngày sau, chúng tôi thả neo ở Honolulu, bởi động cơ đã hư hỏng quá nặng để đi một mạch đến đích dự kiến ban đầu là Hàn Quốc. Ngay khi chân chạm đất liền, tôi đã quỳ gối xuống và hôn lên vỉa hè nóng bỏng. Trái tim tôi nhảy cẫng lên khi thấy các gia đình đang vẫy tay và các vũ công hula tươi cười rạng rỡ. Tôi đã an toàn.

Nhưng tôi cũng thay đổi hẳn bởi giờ đây tôi biết cuộc đời mình có một mục đích sống. Một điều rõ ràng nổi lên từ thảm kịch. Khi đối mặt với viễn cảnh về cái chết, có điều gì đó từ sâu bên trong đã vùng lên chiến đấu. Tôi ở đây là có nguyên do. Tôi mân mê hình xăm của mình một lần nữa, lần này là để cảm ơn, bởi con tàu MV Explorer đang lắc lư ở xa – tả tơi nhưng vẫn nổi.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.