Những ngày tiếp theo, Cóc cảm thấy buổi tham vấn tâm lý đó thật lạ lùng và đáng lo ngại. Nó nhận ra rằng bản thân mình đang nhớ lại những sự việc trong thời thơ ấu mà tưởng chừng như đã bị lãng quên từ rất lâu. Những sự kiện được nhớ kĩ cứ mãi lặp đi lặp lại trong tâm trí nó, và ký ức về cha mẹ cũng như ông bà tưởng chừng như chỉ vừa mới xảy ra gần đây thôi. Nó bước lên gác xép và tìm thấy một cuốn album cũ chứa những bức ảnh gia đình giờ đã ngả sang màu nâu đỏ. Chúng gợi lên một nỗi buồn sâu thẳm bên trong nó, không phải bởi những người trong ảnh đã không còn nữa, mà là bởi dường như nó chẳng được xuất hiện trong những tấm ảnh này. Cóc vẫn nhớ rõ người cha nghiêm nghị và khắt khe của mình, người luôn bơm vào đầu nó suy nghĩ rằng nó không đạt được tiêu chuẩn mà ông ấy đề ra và thậm chí là sẽ chẳng bao giờ đạt nổi. Nó nhớ lại thế giới to lớn gồm những người vĩ đại và thành công mà đối với chàng Cóc, họ đã đạt được những thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực khác nhau. Ông nội của nó đã thành lập một công ty sản xuất bia gia đình, sau đó là đến cha nó tiếp quản khi ông trở thành trụ cột gia đình. Chàng Cóc vẫn nhớ khi được dẫn đi xung quanh nhà máy bia lúc còn nhỏ, nó đã cảm thấy sợ hãi bởi những tiếng ồn, hơi nước và mùi của nơi đó. Nó biết rằng mọi người kỳ vọng nó sẽ làm việc ở nơi kinh khủng ấy trong tương lai, dù thậm chí ngay từ lúc đó nó đã biết mình sẽ không bao giờ làm được điều này.
Nó nhớ lại mẹ nó, một người phụ nữ thầm lặng luôn làm theo lời chồng mình như cách mà bà nghe lời bố bà. Ông ấy từng là một giáo sĩ lỗi lạc rồi sau đó trở thành một phó giám mục. Kể từ khi ấy, ông luôn được gọi là “ngài Giám mục”, ngay cả bởi chính con gái của ông. Chàng Cóc vẫn nhớ như in dáng người cao ráo và bề thế cùng với hình chữ thập lớn ở trước ngực ông, cả giọng điệu vừa ngạc nhiên vừa thích thú mỗi khi ông nói “Ồ, bánh ngọt!” lúc được phục vụ trà bánh nữa.
Cóc vẫn nhớ đôi khi mẹ của nó rất vui vẻ. Tuy vậy, nó cảm thấy bà luôn ý thức được sự đánh giá của chồng mình và sẽ liên tục cố gắng chú ý đến những dấu hiệu cho thấy ông không vừa lòng. Bởi vậy, bà thường không thể hiện nhiều tình cảm với chàng Cóc để tránh khiến chồng mình phật ý và làm vừa lòng quan điểm nghiêm khắc của ông. Nó nhớ rằng nó rất hiếm khi nhận được sự âu yếm từ mẹ.
Khi buổi tham vấn tâm lý tiếp theo sắp đến, chàng Cóc cảm nhận được những cảm xúc lẫn lộn mà nó chưa từng trải qua trước đây. Cảm giác rõ rệt nhất vẫn là buồn bã và chán nản khi nhớ lại thời thơ ấu vừa bất hạnh vừa cô đơn, dường như chẳng có sự xuất hiện của tình yêu thương và niềm hạnh phúc. Nhưng kể cả vậy, nó vẫn có thể nhớ lại những người, hay nói đúng hơn là những “nhân vật phụ”, những người đã bước vào cuộc đời nó một cách ngắn ngủi, vô tình khắc họa nên những hành vi và khơi dậy những cảm xúc để cho nó thấy được rằng vẫn còn có “những điều khác”.
Điều này chủ yếu xảy ra vào mỗi dịp Giáng Sinh, khi mọi người bày tỏ sự kính trọng hằng năm bằng cách mua quà và hy vọng sẽ nhận lại những chai rượu thẫm màu được đem lên từ các hầm ủ rượu. Nó vẫn còn nhớ người cô đứng tuổi với chiếc mũ rộng vành gắn đầy ghim mũ mà nó cảm tưởng như chúng có thể đi xuyên qua đầu bà vậy. Cả anh chàng kỳ lạ vui tính luôn thích bày ra những trò lố bịch nữa; có lần khi chỉ có anh chàng kỳ lạ ấy và chàng Cóc, anh ta đã nổ phát rắm của mình ngay trước sự kinh ngạc của nó. Tiếp đến là người chú lớn tuổi cùng chiếc đồng hồ vàng lúc nào cũng được vắt vẻo quanh chiếc bụng bự của ông, người luôn cho chàng Cóc đồng xu một bảng rồi bóp đùi cậu chàng theo một cách ghê rợn.
Và ẩn sâu trong những kí ức đang ùa về nơi tâm trí chàng Cóc là một nỗi tức giận cứ lớn dần lên nhưng có phần bất lực. Bất lực, đó là bởi nó không chắc mình tức giận với ai hay tức giận vì điều gì.
Kết quả là nó lại cảm thấy tội lỗi vì đã tức giận! Bởi trong thâm tâm, chàng Cóc hiểu rõ, dù nó sẽ chẳng kể những điều này với ông Diệc đâu, rằng nó vô cùng căm phẫn cha mẹ mình. Tuy thế, cơn tức giận này cho nó thấy những vấn đề mà nó đang gặp khó khăn khi phải giải quyết. Có lẽ cha mẹ chàng Cóc đã cố gắng hết lòng vì nó khi nó còn nhỏ để giờ đây, chàng Cóc có thể ở trong một ngôi nhà nguy nga mà nó được thừa hưởng lại từ họ. Họ cũng đảm bảo rằng chàng Cóc sẽ được chu cấp không chỉ dừng lại ở mức đủ. Điều khiến việc tức giận họ trở nên khó khăn hơn nữa là cả cha và mẹ chàng Cóc đều đã qua đời được một thời gian rồi! Vì thế nên nếu như chàng Cóc cảm thấy tức giận cha mẹ mình là một điều vô cùng khó khăn khi họ còn sống, thì giờ đây điều này tưởng chừng như không thể! Thế nhưng cảm giác căm phẫn vẫn đang còn đó. Bởi vậy, xuất hiện trước nhà ông Diệc và bấm chuông cửa là một chàng Cóc tràn đầy xúc động, nó ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc của mình trong căn phòng tham vấn.
“Chào buổi sáng, Cóc.” ông Diệc nói. “Tuần vừa qua của cậu thế nào?”
“Tôi không chắc lắm,” chàng Cóc khẽ trả lời. “Tôi sợ rằng mình lại bắt đầu cảm thấy trầm cảm và điều này khiến tôi lo lắng, bởi tôi cứ nghĩ rằng mình đang trở nên ổn hơn rồi.”
“Cậu nghĩ lý do nào khiến cậu cảm thấy như vậy?” Ông Diệc hỏi.
“Tôi nghĩ là do bài tập về nhà mà ông đã yêu cầu tôi làm,” chàng Cóc đáp lời. “Việc nhớ lại thời thơ ấu của mình là một việc vô cùng đau khổ và điều ấy khiến tôi cảm thấy buồn.” Thế rồi lần đầu tiên trong một khoảng thời gian dài, chàng Cóc bắt đầu bật khóc. Ông Diệc đưa cho nó hộp khăn giấy và nó rút một tờ để lau nước mắt. Nó lấy thêm một tờ nữa rồi xì mũi thật mạnh. Sau khi cả hai ngừng lại một lúc, ông Diệc hỏi nó đã cảm thấy ổn hơn chưa.
“Vâng!” chàng Cóc đáp. “Thật bất ngờ là rồi.”
“Cậu thấy đấy,” ông Diệc nói tiếp, “có một lý do hiện hữu và rõ ràng cho nỗi buồn mà bây giờ cậu đang mang. Cậu nhớ lại những khoảng thời gian chẳng mấy vui vẻ và phản ứng tự nhiên của cậu là buồn bã và ủ dột, thế nên cậu bật khóc. Cậu có đồng tình với sự lý giải này không?”
“Tôi nghĩ vậy” chàng Cóc sụt sịt. “Nhưng tôi không thích mình mít ướt như thế.”
“Chắc chắn là vậy rồi,” ông Diệc trả lời. “Nhưng nếu cậu muốn thấu hiểu bản thân mình hơn, cậu cần phải đối mặt với những cảm xúc của cậu và hiểu rõ chúng. Còn nếu cậu cố gắng chối bỏ chúng dù là ngó lơ hay đè nén, thì hậu quả cũng giống như cơ thể cậu bị cắt cụt đi một phần nào đó vậy. Nếu một bộ phận thiết yếu trong cơ thể cậu bị cắt bỏ thì đến một mức độ nào đó, cậu sẽ trở thành người khuyết tật.”
“Vậy điều đó có nghĩa là khóc lóc cũng không sao cả?” Chàng Cóc hỏi. “Tôi nhớ cha tôi luôn rất nghiêm khắc về điều đó. Mỗi khi tôi khóc, ông ấy sẽ nói, Thôi mít ướt ngay, không thì tao nổi cơn lôi đình lên với mày bây giờ, và đương nhiên tôi sẽ nín khóc.”
“Cậu có sự lựa chọn mà,” ông Diệc nói một cách vô cùng nghiêm túc. “Liệu cậu sẽ tuân theo giọng nói của người cha đã khuất hay sẽ cho phép bản thân mình được nắm quyền kiểm soát?”
“Cách nói này có thẳng thắn quá không?” Cóc tỏ vẻ khó chịu. “Suy cho cùng, tôi chỉ băn khoăn về việc có nên khóc hay không thôi mà. Có vẻ như việc nhắc đến giọng nói của người cha đã khuất là hơi quá bi đát, ông có nghĩ thế không?”
“Có thể là vậy,” ông Diệc đáp. “Nhưng chúng ta đang giải quyết những sự kiện bi đát. Một câu hỏi dù rất đơn giản của cậu thôi cũng cho thấy những vấn đề quan trọng có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sự học hỏi, thậm chí là cả cuộc đời sau này của cậu.”
Giờ thì chàng Cóc bắt đầu cực kỳ chăm chú. Những giọt nước mắt còn đọng lại trên khoé mắt đã dần khô, lúc này nó đang hoàn toàn tập trung và chủ động lắng nghe.
“Ông hãy nói tiếp đi, ông Diệc,” chàng Cóc lên tiếng. “Tôi đang lắng nghe đây.”
“Tốt lắm,” ông Diệc trả lời. “Trong buổi tham vấn ngày hôm nay, một lần nữa tôi sẽ đảm nhận vai trò người giảng dạy để cung cấp cho cậu thêm nhiều cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân. Cậu còn nhớ cuộc thảo luận của chúng ta về trạng thái Cái tôi trẻ em được tạo nên từ Đứa trẻ tự nhiên và Đứa trẻ thích nghi tuần trước chứ?”
“Chắc chắn rồi,” Cóc đáp. “Nó ảnh hưởng sâu sắc đến tôi và tôi hy vọng chúng ta có thể nói thêm về điều này trong ngày hôm nay. Hiện giờ tôi đã sẵn sàng.”
“Tôi cũng tin là thế,” ông Diệc nói. “Vậy chúng ta cùng bắt đầu nhé. Cóc à, ai là người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong tuổi thơ cậu?”
“Dễ thôi,” chàng Cóc trả lời. “Tất nhiên là cha mẹ tôi rồi. Ngoài ra còn có cả ông bà nữa.”
“Hãy tập trung vào cha mẹ cậu trước. Cha cậu là kiểu người như thế nào?”
Chàng Cóc không do dự mà trả lời ngay:“Nghiêm khắc và ngay thẳng. Tôi vẫn nhớ ông ấy luôn trách mắng tôi không bởi điều này thì cũng bởi điều khác. Cha thường nhìn tôi với ánh mắt đầy phản đối và nói, Theophilus, cha phải nói với con bao nhiêu lần nữa đây? Con không được làm điều đó!. Ông ấy luôn trách móc và chỉ trích tôi. Dần dần tôi bắt đầu chấp nhận rằng ông ấy luôn đúng còn tôi thì luôn phạm phải sai sót. Và vì vậy, có vẻ như những lần ông ấy trách mắng tôi đều vô cùng hợp lý.
“Ông ấy có bao giờ đánh cậu không?” Ông Diệc hỏi.
“Ồ, không đâu.” Cóc ngay lập tức trả lời. “Ông ấy còn không cần phải làm như vậy. Chỉ một cái nhìn từ cha tôi thôi là đã đủ lắm rồi! Và ông ấy không còn thể hiện tình cảm gì với tôi nữa, dù trước đó ông ấy cũng chẳng phải là một người quá tình cảm. Hình phạt nghiêm khắc nhất mà cha dành cho tôi là giọng nói lạnh lẽo của ông - Về phòng đi và đừng bước ra cho đến khi mày biết hối lỗi!.
Tôi nhớ có vài lần hiếm hoi ông ấy chơi với tôi, nhưng đều kết thúc chẳng mấy vui vẻ. Có lẽ bởi tôi quá khao khát nhận được yêu thương từ cha mình, đến mức tôi biến thành kẻ ngốc và làm những điều dại dột. Tôi còn nhớ một lần, ông ấy đã đẩy tôi ra khỏi lòng mình và nói với mẹ tôi - Tôi không thể chịu nổi khi nó cứ hành xử như thế - rồi bước ra khỏi phòng. Tôi chỉ biết bật khóc.”
Ngừng lại một chút, khi đôi mắt của chàng Cóc tuôn ra những giọt nước mắt chẳng thể kìm nén, ông Diệc mới lên tiếng: “Còn mẹ cậu thì sao?”
“Bà ấy lúc nào cũng phải chịu đựng sự khống chế của cha, nhưng tôi luôn cảm thấy gần gũi với bà hơn. Thỉnh thoảng bà có âu yếm tôi, nhưng không nhiều. Nếu tôi chạy đến tìm bà mỗi khi cha nổi giận, mẹ tôi sẽ nói, Đừng ngốc nghếch như vậy con yêu à, mẹ chắc chắn rằng cha con không có ý đó đâu.
Vì tôi là con một, nên tôi nghĩ bà luôn coi tôi như một đứa trẻ. Mẹ đã khiến tôi vô cùng xấu hổ ở trường khi tới thăm tôi vào Ngày hội Thể thao và nhất quyết một mực gọi tôi là ‘Theo bé nhỏ yêu dấu‘ trước mặt đám bạn, không chỉ vậy mà bà còn cố gắng chải tóc cho tôi.
“Mọi chuyện có khá hơn khi cậu lớn lên không?” Ông Diệc hỏi.
“Ồ không, hoàn toàn không.” Cóc đáp. “Ví dụ như khi tôi lên đại học và mời bạn ở lại, cha sẽ luôn bới móc ra điều gì đó để chỉ trích trong khi mẹ lại làm những điều khiến tôi xấu hổ. Có một lần bà hỏi, ngay trước mặt đám bạn bè tôi, rằng hôm đó tôi có mặc đồ lót sạch không! Có thể bây giờ nhắc lại thì thật buồn cười nhưng tôi có thể khẳng định với ông vào lúc đó nó chẳng hay ho chút nào.”
“Và” chàng Cóc nói tiếp, “để tôi kể một câu chuyện mà có thể ông sẽ thấy thú vị. Có một lần, không lâu trước khi mẹ tôi mất, tôi đã lấy hết dũng khí của mình và nói với bà: Mẹ, khi nào thì mẹ mới ngừng coi con như một đứa trẻ?. Ông biết bà ấy trả lời tôi như thế nào không?”
“Tôi nghĩ tôi có thể đoán được,” ông Diệc nói, “nhưng cậu hãy nói đi.”
“Bà ấy nói: Mẹ sẽ ngừng coi con là một đứa trẻ nếu con thôi hành xử như một thằng nhóc! Dường như chẳng có câu trả lời chính đáng nào cho câu hỏi của tôi, vậy nên tôi rời khỏi phòng.”
“Chắc hẳn cậu đã rất tức giận vì điều này,” ông Diệc lên tiếng sau một hồi ngưng lại.
“Ồ không,” chàng Cóc trả lời. “Tôi chẳng bao giờ tức giận cả. Tôi không phải kiểu người ấy,” Nói đoạn, nó cười trừ.
“Vậy cậu đối mặt với những cảm xúc tức giận như thế nào?” Ông Diệc đặt câu hỏi.
Chàng Cóc ngồi thẳng lại và ấp úng: “Ờ, ừm, chính xác thì tức giận theo ý ông là gì?”
“Ôi, thôi nào Cóc,” ông Diệc nói với giọng thiếu kiên nhẫn. “Cậu biết tức giận là gì mà. Cậu đối mặt với nó ra sao? Lần cuối cậu tức giận là khi nào?”
Cóc cảm thấy vô cùng mơ hồ. Thứ nhất, nó không hề nghĩ tới việc tức giận tại thời điểm đó và thứ hai, nó luôn cảm thấy khó khăn để thừa nhận rằng mình đang tức giận dù ở thời điểm nào đi chăng nữa. Nó luôn cảm thấy như thể nó sẽ bị phạt nếu như có ai đó nhận ra rằng nó đang cáu giận. Kết quả là nó kìm nén cảm giác tức giận của mình lại và dùng cảm giác tội lỗi để thay thế. Nhưng tại sao ông Diệc lại đột nhiên tập trung vào chủ đề cụ thể này cơ chứ? Chỉ cần nghĩ đến cơn giận thôi cũng đã đủ để khiến cho chàng Cóc cảm thấy vô cùng lo lắng và muốn đổi chủ đề rồi; nhưng dù thế, ông Diệc vẫn đang nhìn chằm chằm vào nó chờ đợi một câu trả lời. Chàng Cóc cảm thấy mình chẳng còn cách nào khác ngoài tiếp tục chủ đề này.
“Thành thật mà nói, tôi không chắc lần cuối mình tức giận là khi nào. Nếu thực sự phải suy nghĩ thì gần như tôi chẳng bao giờ nổi giận. Có vẻ như tức giận sẽ chẳng giúp ích được gì và tôi cũng không nghĩ đấy là phong cách của tôi.” Nó nở một nụ cười để cho không khí bớt căng thẳng.
“Chà,” ông Diệc lên tiếng. “Tôi nghĩ sẽ có ích nếu cậu thực sự suy nghĩ về nó. Suy cho cùng, cậu cũng đã đồng ý rằng đây là một trong những cảm xúc cơ bản mà tất cả chúng ta đều có khi vừa mới được sinh ra. Hãy nhìn nhận theo cách này, Cóc ạ. Cậu nghĩ điều gì sẽ xảy đến nếu cậu tức giận khi còn bé?”
Chàng Cóc suy ngẫm về câu hỏi và nhớ tới cha mình, cao lớn, nghiêm khắc và luôn luôn cấm đoán. Đứng đằng sau ông, trong cái bóng hùng vĩ đó là hai người ông của Cóc, những người đàn ông có tính cách mạnh mẽ và thẳng thắn, ngay cả đến vẻ ngoài của họ cũng toát lên tiêu chuẩn đạo đức cao nhất. Cóc cảm thấy sức ảnh hưởng của họ đã chi phối cuộc đời mình, cũng giống như những bức chân dung của họ đang thống trị Thư phòng tại Lâu đài Cóc.
Chàng Cóc cất lời: “Tôi nghĩ mình vẫn còn nhớ những ngày ban đầu ấy, nhưng điều tôi nhớ hơn cả là cơn giận của cha mẹ chứ không phải của chính mình. Tôi luôn bị chỉ bảo rằng tôi phải làm gì. Cha luôn tức giận với tôi khi tôi không nghe lời.”
“Vậy là,” ông Diệc đáp, “khi một đứa trẻ có cha mẹ nghiêm khắc và khắt khe, nó phải học cách đối phó với họ, thích nghi và điều chỉnh hành vi của mình để đương đầu với hoàn cảnh đó một cách tốt nhất. Đứa trẻ này sẽ làm gì?”
“Điều này có nghĩa chúng ta đã quay lại trạng thái Đứa trẻ thích nghi sao?” Chàng Cóc thắc mắc.
“Chính xác,” ông Diệc trả lời. “Chắc hẳn cậu còn nhớ, ở Đứa trẻ tự nhiên, mỗi chúng ta đều có những cảm xúc cơ sở tương ứng với các màu sắc sơ cấp trên bảng màu của người họa sĩ. Nhưng dần dần, chúng ta học cách thích nghi và điều chỉnh các hành vi tự nhiên này cho từng hoàn cảnh cụ thể, pha nhạt những sắc màu để vừa tồn tại vừa giữ gìn bản chất của riêng mình. Điều này có nghĩa là trong rất nhiều yếu tố, ta cần học cách đối phó với cơn giận gồm cơn giận của cha mẹ và cơn giận của chính bản thân mình. Cóc, cậu cảm thấy sao về điều này?”
“Khá là khó để có thể hình dung.” Cóc đáp lại một cách trầm ngâm. “Tôi đang suy ngẫm về quan điểm của ông, rằng cảm xúc cũng giống như màu sắc. Tôi đang cố gắng để hình dung về một bức tranh khắc họa cuộc vật lộn giữa đứa trẻ với những cảm xúc và tình cảm đang hình thành của mình, với cả chính cha mẹ nó nữa. Họ luôn có những cái nhìn kiên định giữa đúng và sai, đồng thời cũng vô cùng mạnh mẽ. Làm gì có đứa trẻ nào vượt qua được cuộc chiến này chứ?”
“Cậu có nghĩ trưởng thành luôn giống như một trận chiến không?” Ông Diệc hỏi.
“Chà, tôi nghĩ ít nhất là trong trường hợp của tôi,” Cóc trả lời. “Tôi nghĩ có một áp lực khổng lồ đã đè nặng lên tôi ngay từ khi tôi còn nhỏ, đồng thời tôi phải đối mặt với cha mẹ của mình và những người vô cùng khắt khe.” Nó ngưng lại một hồi và chỉ còn sự im lặng đang bao trùm lên tất thảy, đến khi tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tủ đứng ở góc phòng phá vỡ cái khoảng lặng ấy. Sau một hồi, chàng Cóc mới nhỏ giọng lên tiếng: “Tôi vẫn không thể hiểu, làm thế nào mà tôi đương đầu được với những điều này?”
“Để tìm ra đáp án,” ông Diệc trả lời, “hãy khai thác bộ não của cậu một cách hợp lý và để tôi hỏi cậu câu hỏi sau. Một người sẽ phản ứng như thế nào nếu anh ta bị ngược đãi, bị bắt nạt bởi ai đó khỏe hơn và không có cách nào để trốn thoát?”
Chàng Cóc nghĩ một hồi lâu rồi đáp: “Nếu người đó thực sự bất lực như vậy, họ cần học cách thích ứng với kẻ đàn áp ấy, không thì tôi nghĩ cuộc đời họ sẽ chẳng thể nào mà chịu đựng nổi.”
“Chính xác,” ông Diệc đồng tình. “Vậy không phải nó cũng tương tự như hồi chúng ta còn nhỏ sao, khi ta phải học cách tuân theo những yêu cầu và mong muốn khắt khe của cha mẹ mình?” Sau một lúc, chàng Cóc cũng gật đầu đồng ý với điều này. “Vậy thì,” ông Diệc tiếp tục, “cậu sẽ phải làm gì?”
Chàng Cóc nghĩ một hồi lâu. Trong thâm tâm, nó cảm thấy buồn và tủi thân ghê gớm khi nhớ lại những quãng thời gian xa cách ấy. Thế nhưng, dù đó là những chuyện đã xảy ra từ rất lâu rồi, những kỷ niệm và cảm xúc ấy vẫn còn hiện hữu trong tâm thức nó như thể chỉ vừa mới xảy ra ngày hôm qua thôi. Mặt khác, một phần trong nó cảm thấy cảnh giác và bị thách thức, nó có thể nghĩ tới những vấn đề này theo một cách khách quan mà không chịu ảnh hưởng bởi chúng.
“Tôi nghĩ rằng,” nó chậm rãi nói, “nếu ta buộc phải tuân theo một ai đó, điều này đồng nghĩa với việc tránh gây tranh cãi với họ, vậy nên ta cần làm theo những gì họ nói và đồng tình với họ.”
“Tốt lắm,” ông Diệc tán thành. “Tôi sẽ viết những điều này lại vì tôi nghĩ cậu đang dần khám phá được điều gì đó quan trọng.” Ông đi tới bảng lật rồi viết tiêu đề Hành vi tuân thủ, bên dưới viết thêm Đồng tình.
“Còn gì nữa không?” Ông hỏi tiếp.
Chàng Cóc ngẫm nghĩ một lúc. “Tôi nghĩ bên cạnh việc làm theo ý nguyện của cha mẹ, tôi cũng muốn làm hài lòng họ nữa. Tôi không chắc liệu mình có thành công làm điều đó hay không, nhưng tôi vẫn nhớ rõ rằng tôi muốn họ hài lòng và tự hào về tôi”. Nói tới đây, Cóc tiếp tục ngừng lại rồi chìm sâu vào trong suy nghĩ của mình. “Có lẽ đó là lý do tại sao tôi bắt đầu trở nên khoe mẽ. Dường như những gì tôi làm chưa bao giờ khiến họ cảm thấy hài lòng hay bị ấn tượng, thế nên tôi lại càng thực hiện nhiều hành động ngông cuồng và ngu ngốc để cố gắng thu hút sự chú ý của họ. Có phải vậy không, ông Diệc?”
Ông Diệc nhìn chàng Cóc chăm chú một hồi rồi nhận ra rằng, giọng nói và vẻ ngoài của chàng Cóc vào chính lúc ấy đã thực sự bổ sung cho lời nói của nó. Lý do là bởi nếu nhìn qua Cóc và nghe những điều Cóc nói, nó thực sự giống như một đứa trẻ đang vô cùng buồn bã. Nỗi buồn này tác động sâu sắc tới ông Diệc. Ông chỉ im lặng ngồi, chia sẻ những ký ức và trải nghiệm đau buồn cùng Cóc, như một người đang cố gắng thấu hiểu những cảm xúc mà ai đó đang phải trải qua nhiều nhất có thể. Điều này chính là đồng cảm. Chàng Cóc cảm nhận được sự ủng hộ và thấu hiểu vô hình này và chúng như củng cố tâm hồn cậu chàng từ tận sâu thẳm ở bên trong.
Sau một hồi, ông Diệc mở lời: “Tôi nghĩ cậu nói đúng, Cóc à, rồi lại tiếp tục im lặng ngồi bên cạnh cậu chàng trước sự đơn độc đang ngập tràn.
“Giờ thì,” sau một lúc quyết định đâu là thời điểm thích hợp để lên tiếng, ông Diệc cất lời, “chúng ta cùng tiếp tục nào. Trước đó cậu nói rằng cậu luôn muốn làm hài lòng cha mẹ mình, tôi có nên thêm điều này vào trong danh sách những hành vi tuân thủ của chúng ta không?”
“Ồ, có chứ,” Cóc tán thành, nghe giọng nó đã hào hứng hơn. “Và có một điều khác nữa mà ông có thể ghi thêm, đó là Hối lỗi. Tôi biết mình vẫn luôn làm điều này và khi còn nhỏ cũng vậy. Gần như trước lúc làm bất cứ điều gì, tôi cũng sẽ xin lỗi để cha tôi nguôi giận.
“Tại sao cậu không tự viết điều đó nhỉ?” Ông Diệc đề nghị.
Vậy là lần đầu tiên, chàng Cóc cầm chiếc bút màu lên và bổ sung Hối lỗi vào danh sách trên bảng. Rồi nó nhìn qua ông Diệc và nói: “Ông biết không, tôi bắt đầu nhận ra rằng danh sách này không chỉ mô tả quá khứ của tôi mà còn nói lên cả tôi ở hiện tại nữa. Những điều mà tôi học hỏi để làm theo trong quá khứ rất giống với cách mà tôi đang hành xử bây giờ. Tôi chẳng biết mình có nên ngạc nhiên về điều này hay không?”
“Tôi thì nghĩ rằng điều khiến cậu ngạc nhiên chính là nhận ra rất nhiều những hành vi của chúng ta khi trưởng thành đều được học từ thời thơ ấu của mình. Nhưng nếu thực sự nghĩ về nó, điều này thật ra khá rõ ràng. Những cảm xúc mãnh liệt nhất chúng ta có khi còn nhỏ chắc chắn sẽ trở thành cảm xúc mà ta thường xuyên trải qua khi trưởng thành. Có lẽ đây chính là ẩn ý của nhà thơ khi ông ấy viết Trẻ thơ là cha đẻ của con người. Và tôi cũng muốn thêm một điều nữa vào trong danh sách của chúng ta, nếu cậu đồng ý.”
“Điều gì vậy?” Cóc thắc mắc.
“Sự phụ thuộc,” ông Diệc đáp lời.
Ngừng lại một chút, chàng Cóc nói: “Ông chắc chứ? Ý tôi là, không phải đứa trẻ nào cũng phụ thuộc vào cha mẹ chúng sao? Chẳng phải đó là hành vi tự nhiên khi ta nhỏ bé và bất lực à?”
“Đúng vậy,” ông Diệc đáp. “Nhưng với hầu hết mọi người, bản chất của việc trưởng thành là giảm dần sự phụ thuộc rồi cuối cùng phá vỡ những ràng buộc của nó, trở thành một người độc lập và tự chủ. Chỉ có một số ít người thực sự làm được điều này, một số thực hiện được phần nào và số còn lại vẫn sống phụ thuộc trong suốt cả cuộc đời mình.”
“Nhưng điều đó thì có liên quan gì đến hành vi tuân thủ của chúng ta chứ?” Cóc băn khoăn hỏi.
“Ý của tôi là,” ông Diệc giải thích, “hành vi tuân thủ có thể khiến cho người ta coi sự phụ thuộc như một lối sống. Nói cách khác, họ chẳng bao giờ thực sự trưởng thành.”
“Ý ông là giống tôi phải không?” Cóc hỏi và cười khúc khích.
“Đúng, tôi nghĩ vậy đấy.” ông Diệc đáp, và đây là lần đầu tiên ông ấy bật cười. Tiếng cười của ông Diệc khá khô khan, nghe như thể đã lâu lắm rồi ông ấy không cười, nhưng đó là một tiếng cười chân thật và nó biến tiếng khúc khích khó chịu của chàng Cóc thành một tiếng cười thực sự.
“Xin thứ lỗi,” chàng Cóc nói, lấy tay lau mắt. “Chúng ta đang nghiêm túc nhưng đột nhiên mọi thứ lại trở nên lố bịch, thế nên tôi không thể nhịn được cười.”
“Không cần xin lỗi!” ông Diệc nói. “Dù sao thì đây cũng là lúc chúng ta nên kết thúc buổi tham vấn ngày hôm nay và thật tuyệt khi chúng ta kết thúc nó một cách vui vẻ!”
Lần này ông Diệc tiễn chàng Cóc ra tới cửa, ngay khi nó chuẩn bị rời đi, ông quay qua nó và nói: “Cóc à, tôi tin rằng cậu đang tiến bộ rất nhiều. Tuy vẫn có nhiều việc ta cần làm nhưng cậu đã đặt chân vững chắc lên con đường học hỏi và sẽ không bao giờ quay đầu lại.” Sau đó ông vẫy tay chào một cách thân thiện rồi đưa tay đóng cửa lại.
Cóc đi bộ về nhà dọc theo con đường bên bờ sông, và đây là lần đầu tiên nó cảm thấy hạnh phúc đến thế sau một thời gian dài.