Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 501 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN KHẤT SĨ THỨ BA, CON VUA

❊ ❊ ❊

Thưa bà rất đáng kính, chuyện tôi sắp kể đây khác xa những chuyện bà vừa mới nghe. Hai hoàng tử nói trước tôi mỗi người mất một con mắt do hậu quả đơn thuần của số phận họ. Còn tôi mất một con mắt là chỉ tại lỗi lầm của mình, tự mình gây nên tội và tự mình rước lấy tai họa vào thân, như bà sẽ rõ qua câu chuyện sau đây.

Tôi tên là Agíp, con của quốc vương Cátxíp. Sau khi cha tôi qua đời, tôi làm chủ tất cả đất nước của Người. Tôi đóng đô ngay trong kinh thành trước đây phụ vương tôi vẫn ở. Thành phố ấy nằm trên bờ biển. Nó có một bến tàu vào loại đẹp nhất và an toàn nhất. Nó có một công xưởng khá lớn đủ cung cấp thiết bị cho một trăm năm mươi chiến hạm luôn luôn sẵn sàng chiến đấu khi cần, và đủ để trang bị cho năm chục tàu chở hàng cùng chừng ấy tàu nhẹ để đi dạo mát và vui chơi trên mặt nước.

Vương quốc tôi còn gồm nhiều thành phố đẹp trên đất liền và nhiều hải đảo lớn hầu hết ở không quá xa tầm mắt của thủ đô.

Sau khi lên ngôi, tôi đi thăm các tỉnh. Sau đấy tôi cho vũ trang hạm đội chuẩn bị đi tuần du các đảo. Tôi muốn, bằng sự có mặt của mình, hòa họp nhân tâm trăm họ và động viên họ làm bổn phận người dân. Đi thăm các hải đảo về được ít lâu, tôi lại trở ra. Những chuyến đi đi về về ấy giúp tôi làm quen ít nhiều với nghề hàng hải và khiến tôi say mê đến nỗi tôi nhất định sẽ đi thám hiểm những nơi xa xôi ngoài hải phận của mình. Vì mục đích đó, tôi cho chuẩn bị chỉ mười chiếc tàu thôi, rồi xuống tàu và cho giương buồm khởi hành.

Chuyến đi của chúng tôi thuận lợi suốt bốn mươi ngày liền. Nhưng đến đêm thứ bốn mươi mốt, gió bắt đầu thổi ngược chiều rất dữ dội. Một cơn bão lớn nổi lên tưởng chừng như sắp nhận chìm chúng tôi. Tuy nhiên, đến tảng sáng, gió cũng dịu lại, mây tan dần, mặt trời ló ra làm cho thời tiết trở lại tốt. Chúng tôi ghé vào một hòn đảo, nghỉ lại hai ngày để lấy sức. Xong đâu đấy, chúng tôi lại ra khơi. Sau mười ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bắt đầu hy vọng trông thấy đất liền. Bởi vì cơn bão vừa qua đã làm cho tôi thay đổi ý định. Tôi đã ra lệnh cho quay trở về. Tôi chợt nhận ra người hoa tiêu lạc phương hướng, không biết tàu hiện đang ở vào đâu. Đúng như vậy, vào ngày thứ mười một thủy thủ được lệnh leo lên một ngọn cột buồm chính để nhận đường, báo xuống rằng bên phải cũng như bên trái chỉ có biển và biển đến tận chân mây, nhưng trước mặt, phía mũi con tàu, có một mảng đen lớn.

Nghe báo cáo, người hoa tiêu biến sắc. Một tay giật khăn đội đầu ném xuống sàn tàu, một tay đấm vào mặt, ông kêu lên: “Ôi! chúng ta nguy mất rồi, tâu bệ hạ! Không một ai trong chúng ta có thể thoát được tai họa này. Với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi cũng không đủ sức bảo vệ bệ hạ.” Y vừa nói vừa khóc òa lên như một kẻ biết chắc mình không có cách nào tránh khỏi chết. Nỗi tuyệt vọng của y gieo rắc sự kinh hãi trong cả con tàu.

Tôi hỏi do đâu y tuyệt vọng như vậy. Y đáp: “Than ôi tâu bệ hạ, cơn bão hôm trước đã làm cho chúng ta đi lạc quá xa, đến mức là nội trưa mai, chúng ta sẽ đến gần cái mảng đen ấy. Đó chẳng gì khác hơn là một quả núi, và quả núi đen ấy chính là một mỏ nam châm. Ngay từ lúc này đây nam châm đã bắt đầu hút cả hạm đội của bệ hạ, bởi vì trong cấu trúc của các con tàu có nhiều đinh và vật bằng sắt. Ngày mai, khi chúng ta chỉ còn một khoảng cách nào đó, sức hút của nam châm sẽ mãnh liệt đến nỗi hút nhổ tất cả đinh đóng trên các tàu. Đinh sẽ bay tới bám vào núi. Tàu bè sẽ tan rã và chìm xuống bể. Vì nam châm có đặc tính hút sắt và qua sức hút đó, mỗi ngày ngọn núi càng mạnh hơn lên. Ở phía ngọn núi ấy quay về phía biển phủ đầy những chiếc đinh của không biết bao nhiêu là tàu bè đã vì nó mà lâm nạn. Ngọn núi ấy, – người hoa tiêu nói tiếp – lại rất hiểm trở. Trên đỉnh núi có một tháp hình vòm bằng đồng nguyên chất đặt trên những chiếc cột cũng bằng kim loại ấy. Trên ngọn tháp ngất nghểu một con ngựa bằng đồng. Trên mình ngựa là một kỵ sĩ ngực che một tấm chì có khắc những chữ yểm bùa. Tâu bệ hạ, theo truyền thuyết thì cái tượng ấy là nguyên nhân chính gây nên tổn hại cho không biết bao nhiêu tàu bè, làm thiệt không biết bao nhiêu nhân mạng chết đuối ở chỗ này. Nó đang và sẽ vẫn là tai họa chết người cho tất cả những ai không may đến gần nó, cho tới lúc nào pho tượng ấy bị lật nhào.”

Người hoa tiêu nói xong lại khóc. Nước mắt của y làm cho tất cả thủy thủ trên tàu đều sa lệ. Bản thân tôi không tin là tôi sắp đến ngày tận số. Tuy vậy, mỗi người vẫn nghĩ tới cách bảo toàn tính mạng của mình bằng một cách thức nào đấy. Trong nỗi phân vân không biết chuyện gì rồi sẽ xảy ra, họ đều viết di chúc nói rõ rằng những ai sống sót sẽ được thừa kế tài sản của những kẻ đã qua đời.

Sáng hôm sau, chúng tôi nhìn thấy rất rõ quả núi đen, khiến cho những chuyện người ta kể về nó càng trở nên ghê gớm hơn cả lúc mới nghe. Đến trưa, chúng tôi tới khá gần. Đã bắt đầu thấy được điều người hoa tiêu nói hôm trước. Chúng tôi nhìn thấy những chiếc đinh và các vật khác bằng sắt bay về phía núi và chịu sức hút, cắm sâu vào núi, phát ra những tiếng ghê rợn. Các con tàu tan rã và chìm xuống đáy biển. Ở chỗ ấy, nước sâu đến nỗi ròng dây dò cũng không sao chạm tới đáy. Cả đội quân của tôi đều chết đuối. Do được Thượng đế đoái thương, tôi thoát chết. Tôi bám được vào một tấm ván và dạt vào chân núi. May mắn cho tôi là nơi tôi dạt vào có những bậc thang có thể trèo lên đỉnh núi mà không bị đau đớn gì lắm.

Trông thấy những bậc thang ấy, tôi rất mừng. Tôi tạ ơn Thượng đế (bởi vì bên phải bên trái, ngoài chỗ này ra không đâu có một nơi khả dĩ đặt được bàn chân để thoát chết). Tôi bắt đầu leo lên các bậc thang rất hẹp, thẳng đứng và khó đi đến nỗi chỉ cần gió thổi mạnh hơn một ít có thể tôi đã ngã lộn đầu xuống biển rồi. Cuối cùng tôi cũng leo được lên đến trên cao mà không xảy ra tai nạn gì. Tôi bước vào trong cái tháp hình vòm và quỳ xuống tạ ơn trời đất.

Tôi ngủ qua đêm dưới cái vòm ấy. Trong chiêm bao, một cụ già đáng kính hiện ra trước mắt tôi và bảo:

- Agíp hãy nghe đây. Khi nào con thức dậy, hãy đào đất ở dưới chân. Con sẽ tìm thấy một cái cung bằng đồng và ba mũi tên bằng chì được làm ra để giải thoát cho loài người khỏi biết bao khổ hạnh đang đe dọa họ. Con nhắm vào bức tượng mà phóng ba mũi tên ấy. Viên kỵ sĩ sẽ nhào xuống biển. Con ngựa nhào xuống bên cạnh con. Con sẽ chôn nó đúng vào chỗ con vừa đào lấy cung tên. Làm xong việc đó biển sẽ trương ra và dâng lên tận chân cái tháp, cao ngang ngọn núi. Khi biển đã dâng lên tới đấy rồi, con sẽ thấy một chiếc xuồng nhỏ cập bờ. Trên xuồng chỉ có độc một người mà con đã bắn đổ lộn nhào. Con hãy xuống xuồng đi cùng với nó và nhớ chớ có đọc đến tên Thượng đế. Cứ để mặc cho nó đưa con đi. Nó sẽ đưa con đi trong mười ngày vào một biển khác. Ở đấy con sẽ tìm được phương tiện để trở về nhà an toàn trót lọt, miễn là, như ta đã bảo, con chớ có đọc đến tên Thượng đế trong suốt cuộc hành trình.”

Cụ già nói với tôi như vậy. Vừa tỉnh giấc tôi vội đứng lên, hết sức vui mừng với những điều mộng báo. Tôi làm ngay điều cụ già dặn. Tôi đào lấy chiếc cung và các mũi tên lên, rồi nhắm bức tượng bắn. Đến mũi tên thứ ba, tượng nhào xuống biển, con ngựa ngã xuống cạnh tôi. Tôi chôn nó vào chỗ đã đào lấy chiếc cung và các mũi tên. Trong khoảng thời gian ấy biển bắt đầu trương lên từ từ. Khi mặt biển dâng lên đến chân cái tháp cao hình vòm, ngang ngọn núi, tôi thấy đằng xa, trên mặt biển có một cái xuồng tiến về phía mình. Tôi tạ ơn Thượng đế khi thấy mọi việc xảy ra khớp với những điều nghe trong mộng. Chiếc xuồng cập bờ. Tôi nhìn thấy người bằng đồng giống hệt cụ già trong mộng đã nói. Tôi bước xuống xuồng và tránh không đọc tên Thượng đế hoặc thốt ra một lời nào khác. Tôi ngồi xuống. Con người bằng đồng chèo xuồng ra xa quả núi. Nó chèo liên tục cho đến ngày thứ chín. Nhiều hòn đảo hiện ra làm cho tôi tin chắc mình sắp thoát sự hiểm nghèo. Nỗi mừng vui thái quá làm tôi quên bẵng điều cấm đoán. Tôi thốt lên: “Nhờ ơn Thượng đế! Cảm tạ Thượng đế!”

Tôi chưa dứt lời thì chiếc xuống đã chìm xuống đáy biển cùng với con người bằng đồng. Tôi nổi trên mặt nước. Suốt ngày hôm đó, tôi cố bơi về phía bờ mà tôi cho là gần hơn cả. Tiếp đó là một đêm tối om. Tôi không còn biết mình đang ở đâu cho nên cứ bơi bừa. Cuối cùng kiệt sức, tôi không còn hy vọng thoát chết thì gió bỗng thổi mạnh lên. Một con sóng cao tựa quả núi hắt tôi lên một bãi cát rồi rút ra, để tôi nằm lại đó. Tôi vội vàng chạy sâu hơn vào đất liền tránh một con sóng khác có thể vào cuốn mình ra chăng. Việc đầu tiên của tôi là cởi quần áo, vắt kiệt nước rồi trải ra mặt cát còn giữ hơi nóng mặt trời ban ngày, để hòng cho khô.

Ngày hôm sau, nắng làm cho áo quần tôi chẳng mấy chốc khô hẳn. Tôi mặc áo và đi sâu vào trong đảo để tìm xem mình đang ở đâu. Đi chưa được bao lâu tôi nhận ra là mình đang ở trên một đảo hoang nhỏ khá đẹp mắt, có nhiều loại cây ăn quả và cây dại. Nhưng đảo cách đất liền khá xa. Điều này làm giảm đi rất nhiều nỗi mừng vừa thoát được nạn đắm tàu. Tuy nhiên, tôi lại phó thác vào Thượng đế, tin rằng Người sẽ định đoạt số phận mình, khi nhìn thấy một chiếc tàu nhỏ giương buồm từ đất liền nhằm vào hòn đảo tôi đang ở, chạy hết tốc lực.

Tin chắc rằng thế nào chiếc tàu cũng sẽ đến buông neo ở đây, và chưa biết rõ những người đi trên đó là bạn hay là thù, tôi nghĩ mình chưa nên ra mặt ngay. Tôi trèo lên một cây khá rậm rạp, từ đấy có thể tha hồ quan sát họ mà không sợ xảy ra việc gì. Chiếc tàu ghé vào một eo nhỏ. Mười tên nô lệ lên bờ mang theo một cái thuổng và các dụng cụ đào đất. Họ đi vào chính giữa đảo. Tôi nhìn thấy họ dừng lại và cuốc xới một lát. Qua cử chỉ của họ, tôi đoán họ đang nâng một cánh cửa nắp lên. Sau đó họ trở lại chiếc tàu, bốc dỡ nhiều thức ăn và giường ghế, rồi mỗi tên vác một thứ đến chỗ chúng vừa cuốc và đi lọt xuống. Tôi hiểu rằng ở đấy có một cái hầm ngầm. Tôi nhìn thấy họ trở lại chiếc tàu một lần nữa, rồi lát sau lên bờ với một cụ già dẫn theo một thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi trông rất khôi ngô. Và khi họ trở lên và đóng cửa nắp lại, phủ kín đất rồi đi về phía eo biển, nơi chiếc tàu buông neo, tôi nhận ra chàng thiếu niên không cùng đi với họ. Từ đấy tôi kết luận là chàng ở lại dưới hầm ngầm. Ý nghĩ đó làm cho tôi cực kỳ kinh ngạc.

Cụ già và các tên nô lệ xuống tàu. Tàu giương buồm lên đường trở về đất liền. Khi con tàu đã đi xa, các thủy thủ không thể nhìn thấy mình được nữa, tôi vội tụt xuống gốc cây và vội vàng đến nơi vừa trông thấy họ cuốc. Tôi đào bới cho tới khi tìm được phiến đá vuông rộng mỗi bề chừng hai, ba bộ. Tôi lật lên và thấy nó che lối xuống một cầu thang cũng xây bằng đá. Tôi bước xuống và thấy mình ở trong một căn phòng rộng trải thảm, có kê một chiếc sập. Trên sập trải một tấm thảm khác và có những chiếc gối tựa bọc vải đắt tiền. Chàng thiếu niên ngồi ở đấy tay cầm chiếc quạt. Tôi nhận rõ những vật ấy, cũng như những trái cây và các lọ hoa để bên cạnh chàng, nhờ ánh sáng của hai cây nến chiếu rọi.

Chàng thiếu niên hoảng hốt khi nhìn thấy tôi. Nhưng để làm yên lòng chàng, vừa bước vào tôi đã nói: “Thưa ngài, cho dù ngài là ai, cũng xin đừng sợ hãi. Một nhà vua và hoàng tử như tôi đây không thể gây nên cho ngài bất cứ điều xúc phạm nào. Ngược lại, có lẽ chính vận may của ngài đã xui khiến tôi có mặt ở nơi đây để cứu ngài ra khỏi nấm mồ, mà hình như người ta đã chôn sống ngài vì những lý do tôi không rõ. Nhưng, điều làm tôi bối rối và không thể nào hiểu nổi (bởi vì xin nói với ngài: Tôi đã chứng kiến tất cả những gì xảy ra từ khi ngài đến hòn đảo này) là hình như ngài vui lòng để cho chôn sống nơi đây mà không hề kháng cự.”

Yên tâm vì lời ấy, chàng thiếu niên tươi cười mời tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi ngồi xuống, chàng liền nói: “Thưa hoàng tử, tôi xin nói để ngài rõ một điều sẽ làm cho ngài ngạc nhiên vì sự đặc biệt của nó. Cha tôi là một nhà buôn vàng ngọc rất giàu có, nhờ sức lao động và tài tháo vát trong nghề nghiệp. Người có một số đông nô lệ và những người giúp việc. Họ đi lại bằng đường biển trên những chiếc tàu của cha tôi để giữ mối liên lạc với các triều đình mà cha tôi cung cấp các đồ châu báu họ cần.

Cha tôi lập gia đình đã lâu mà chưa có con. Một hôm, người được báo mộng rằng sẽ sinh hạ một đứa con trai nhưng nó sẽ không sống được lâu. Điều đó làm cha tôi rất buồn khi tỉnh giấc. Mấy hôm sau, mẹ tôi cho biết là đã có thai, và tính ra thời gian mình thụ thai trùng họp với ngày cha tôi được báo mộng. Sau chín tháng mẹ tôi sinh ra tôi. Cả gia đình rất đỗi mừng vui. Cha tôi theo dõi sát giờ tôi ra đời và đi bói các nhà chiêm tinh. Họ nói: “Con trai cụ sẽ sống không gặp tai nạn gì cho đến năm mười lăm tuổi. Đến tuổi ấy, cậu sẽ phải trải qua một nỗi hiểm nguy có thể hại đến tính mạng và có lẽ cũng khó mà qua được. Tuy vậy, nếu nhờ ơn trên mà cậu qua khỏi cái hạn này, thì cậu sẽ sống rất lâu. Bởi vì đến thời gian đó – họ nói thêm – bức tượng kỵ sĩ bằng đồng trên đỉnh núi nam châm sẽ bị hoàng tử Agíp, con vua Cátxíp bắn đổ nhào xuống bể. Các ngôi sao chiếu mệnh chỉ rằng năm mươi ngày sau, con trai cụ sẽ bị chính hoàng tử ấy giết chết.”

Vì lời tiên đoán ấy phù hợp với điềm mộng của cha tôi, người xúc động và buồn bã vô cùng. Tuy vậy Người vẫn không lơ là việc giáo dục tôi thật chu đáo cho đến năm này đây, là năm tôi mười lăm tuổi. Hôm qua, cha tôi được tin tượng kỵ sĩ bằng đồng đã bị hoàng tử mà tôi vừa gọi tên ấy hất nhào xuống biển mười hôm trước. Tin ấy làm cho Người rơi không biết bao nhiêu nước mắt. Người hoảng hốt đến nỗi không còn ai nhận ra được cha tôi như lúc ngày thường nữa.

Dựa vào lời tiên đoán của các nhà chiêm tinh, cha tôi tìm cách đánh lừa ngôi sao chiếu mệnh của tôi, để cứu cho tôi khỏi bị giết chết. Từ lâu, Người đã cẩn thận cho xây sẵn nơi ở này, phòng khi được tin bức tượng bị lật nhào thì sẽ đưa tôi đến ẩn cho qua năm mươi ngày. Bởi vậy, khi nghe tin bức tượng đó đổ cách đây mười ngày, Người vội vàng đưa tôi đến ẩn náu nơi đây, và hứa bốn mươi ngày nữa sẽ trở lại đón. Về phần tôi, – chàng thiếu niên nói tiếp – tôi chẳng tin hoàng tử Agíp lại đến tìm tôi mãi ở dưới lòng đất tại một hòn đảo hoang vu thế này. Thưa ngài, đấy là tất cả những điều tôi thưa cùng ngài.”

Trong khi con trai nhà buôn bán vàng ngọc kể chuyện cậu ta, tôi giễu thầm các nhà chiêm tinh đã tiên đoán là tôi sẽ giết cậu. Tôi tin chắc lời tiên đoán ấy sẽ không bao giờ thành hiện thực. Bởi vì chàng vừa dứt lời, tôi đã sôi nổi nói ngay:

- Thưa ngài thân mến, xin ngài hãy tin tưởng ở lòng nhân từ của Thượng đế và chớ nên sợ hãi điều gì. Ngài hãy cho rằng chuyện ấy chỉ là một món nợ phải trả và từ giờ phút này ngài đã trả xong. Tôi rất sung sướng, sau khi đắm tàu, được có mặt đúng lúc ở đây để bảo vệ ngài chống những kẻ muốn hại ngài. Tôi sẽ không rời xa ngài suốt bốn mươi ngày sắp tới mà những lời tiên đoán của bọn bói toán đã làm cho ngài lo lắng. Trong thời gian ấy, tôi sẽ đỡ đần ngài mọi công việc tôi có thể làm. Sau đó, tôi sẽ lợi dụng dịp tốt để trở về đất liền trên chiếc tàu của ngài, nếu được thân sinh ngài và ngài cho phép. Khi đã về đến nước nhà, tôi sẽ không quên ơn ngài. Tôi sẽ xin cố gắng tỏ rõ lòng biết ơn một cách xứng đáng.”

Những lời nói của tôi làm con nhà buôn vàng ngọc yên tâm và tin cậy. Tôi tránh không nói chính mình là hoàng tử Agíp mà chàng đã sợ và rất lưu ý giữ gìn để không gây cho chàng chút ngờ vực nào. Chúng tôi hàn huyên cho đến tận đêm về nhiều chuyện. Tôi nhận thấy chàng thiếu niên khá thông minh. Chúng tôi cùng ăn những thức ăn trữ sẵn trong hầm. Chàng mang theo nhiều thức ăn đến nỗi giá có thêm nhiều khách khứa nữa chứ không phải mỗi mình tôi, bốn mươi ngày sau vẫn chưa ăn hết. Dùng bữa tối xong, chúng tôi tiếp tục chuyện trò một lúc rồi đi ngủ.

Sáng hôm sau khi chàng vừa tỉnh dậy, tôi đã mang đến một chậu nước. Chàng rửa mặt, tôi đi làm thức ăn và dọn ra khi đến bữa. Sau bữa ăn, tôi nghĩ ra một trò chơi gì đấy để giải trí không chỉ trong ngày hôm ấy mà cả những ngày hôm sau. Tôi sửa soạn bữa chiều cũng giống như làm bữa ăn sáng. Chúng tôi ăn rồi đi ngủ y như ngày hôm trước.

Thời gian làm cho chúng tôi thân nhau. Tôi nhận thấy chàng rất mến tôi. Về phần mình, tôi cũng mến yêu chàng nồng nhiệt đến nỗi nhiều lần tôi tự bảo những nhà chiêm tinh đã tiên đoán với cha chàng rằng con trai cụ sẽ bị chết vì bàn tay tôi quả là những tên bịp bợm. Làm sao tôi có thể phạm một hành động độc ác như vậy. Tóm lại thưa bà, chúng tôi đã sống ba mươi chín ngày hết sức dễ chịu trong cái hầm ngầm dưới đất.

Ngày thứ bốn mươi đến. Sáng sớm vừa tỉnh dậy, chàng thiếu niên đã nói với tôi, giọng sôi nổi như không nén được nỗi mừng vui: “Thưa hoàng tử, hôm nay thế là đến ngày thứ bốn mươi rồi mà tôi chưa chết, đó là nhờ ơn Thượng đế và nhờ có ngài làm bạn. Chẳng bao lâu nữa, cha tôi sẽ không quên cảm tạ ngài và cung cấp cho ngài đủ phương tiện và tiện nghi cần thiết để ngài trở về quý quốc. Nhưng trong khi chờ đợi, – chàng nói thêm – tôi xin ngài vui lòng đem giúp tôi ít nước nóng và cho vào cái bồn tắm tôi có mang theo. Tôi muốn tắm rửa toàn thân và thay áo quần để đón cha tôi cho đàng hoàng.”

Tôi đặt nước lên bếp và chờ cho nước ấm, tôi cho vào đầy cái bồn, tôi tự tay tắm rửa kỳ cọ cho chàng. Tắm xong, chàng lên nằm trên chiếc giường mà tôi đã sắp sẵn. Tôi đắp chăn cho chàng. Sau khi nghỉ ngơi và ngủ một chốc, chàng nói: “Thưa hoàng tử, xin ngài vui lòng mang lại đây giúp tôi một quả dưa hấu và đường, tôi muốn ăn một ít cho mát.”

Tôi chọn quả tốt nhất trong số dưa hấu còn lại, đặt lên một cái đĩa, và vì không thấy có dao để bổ, tôi hỏi chàng có biết dao để đâu không, chàng đáp: “Có một con, để ở cái đầu cột phía trên đầu chỗ tôi kìa.” Quả nhiên tôi nhìn thấy một con dao. Nhưng bởi quá vội vàng thành ra khi cầm được con dao trong tay thì chân lại vướng vào chăn, tôi ngã xuống và không may đè lên người chàng thiếu niên. Lưỡi dao đâm thọc vào tim chàng, chàng chết ngay lúc ấy.

Trông thấy cảnh tượng đó, tôi thét lên những tiếng khủng khiếp. Tôi tự đấm vào đầu, vào mặt, vào ngực mình. Tôi xé toạc áo quần và lăn lộn ra đất, đau đớn và hối hận không thể nào tả xiết. “Than ôi! – Tôi kêu lên. – chỉ còn mấy giờ nữa thôi là chàng thoát khỏi cơn hiểm nghèo khiến chàng phải đi tìm nơi ẩn náu. Và trong khi chính ta cũng tin rằng nỗi nguy hiểm đã qua rồi thì ta lại trở thành kẻ sát hại chàng, làm cho lời tiên đoán biến thành sự thật. Nhưng, hỡi Thượng đế, – tôi ngẩng đầu đưa hai tay lên trời và nói tiếp – xin Người hãy tha tội cho con, nếu con đã là thủ phạm gây nên cái chết của chàng thì xin Thượng đế chớ để cho con sống lâu hơn nữa.”

Sau tai họa vừa xảy ra, có lẽ tôi đã đón nhận cái chết không chút sợ hãi. Nhưng điều dữ cũng như điều lành không bao giờ đến với ta như mong ước. Tuy vậy nghĩ rằng những giọt nước mắt và nỗi đau của mình cũng chẳng làm cho chàng thiếu niên sống lại được nào. Mà bốn mươi ngày lại sắp sửa trôi qua, tôi có thể bị thân phụ chàng bắt giữ. Tôi liền ra khỏi cái hầm ngầm và leo lên khỏi cầu thang. Tôi hạ phiến đá lớn lấp lối đi vào rồi phủ đất lên trên.

Làm vừa xong công việc đó, nhìn ra biển về phía đất liền, tôi trông thấy chiếc tàu đến đón chàng thiếu niên. Tôi suy nghĩ xem nên làm gì đây, rồi tự nhủ: “Nếu ta lộ mặt, chắc chắn cụ già sẽ cho bọn nô lệ bắt và giết chết ngay khi ông cụ nhìn thấy tình trạng con trai. Cho dù ta có biện bạch thế nào chăng nữa cũng không thể làm cho ông cụ tin là ta vô tội. Chi bằng tránh mặt đi, còn hơn là đưa thân ra mà chịu mối căm hờn của ông cụ.”

Gần hầm ngầm có một cây to cành lá rậm rịt, tôi thấy có thể nấp ở đấy được. Tôi trèo lên, và vừa loay hoay tìm được chỗ nấp sao cho khỏi bị trông thấy, thì chiếc tàu đã cập bến đúng vào chỗ nó từng ghé hôm nọ. Cụ già cùng bọn nô lệ lên bờ ngay, và đi về phía hầm ngầm với bộ điệu chứng tỏ họ có ít nhiều hy vọng. Nhưng khi trông thấy đất vừa mới xới lên, tất cả đều biến sắc, đặc biệt là cụ già. Họ nâng phiến đá lên rồi chui xuống. Họ gọi tên chàng thiếu niên. Không có tiếng đáp. Nỗi lo sợ của họ càng tăng thêm. Họ tìm kiếm và trông thấy chàng nằm dài trên giường, lưỡi dao cắm vào đúng giữa tim, bởi vì tôi đã không có đủ can đảm rút dao ra. Trước cảnh tượng ấy, họ thét lên những tiếng đau đớn. Những tiếng kêu ấy làm khuấy động cả những nỗi đau đớn của chính tôi. Cụ già ngã xuống bất tỉnh nhân sự. Để cho cụ được ra chỗ thoáng, bọn nô lệ bế cụ lên đưa ra khỏi hầm và đặt nằm xuống ngay dưới gốc cây tôi đang nấp.

Mặc dù được chăm sóc như vậy, người cha tội nghiệp vẫn mê man một lúc khá lâu, và nhiều khi đã làm cho bọn nô lệ tưởng cụ già khó lòng qua khỏi.

Tuy nhiên, rồi ông cụ cũng hồi tỉnh sau cơn ngất khá lâu. Thế là bọn nô lệ đưa thi hài con trai ông cụ được mặc những bộ áo quần đẹp nhất ra. Đào mộ xong, họ hạ huyệt. Cụ già đầm đìa nước mắt, có hai tên nô lệ dìu, ném xuống một vài nắm đất đầu tiên, sau đó bọn nô lệ lấp kín huyệt.

Làm xong công việc ấy, họ mang bàn ghế và thức ăn còn lại dưới hầm ngầm lên và xếp xuống tàu. Sau đó cụ già không đứng vững nữa vì đau đớn quá, được đặt lên một cái cáng tạm và khiêng xuống tàu. Tàu giương buồm rời đảo và chẳng bao lâu đi khuất ngoài tầm mắt tôi.

Trên hoang đảo, chỉ còn lại một mình tôi. Đêm đến tôi xuống ngủ trong cái hầm không bị lấp. Ban ngày tôi đi lang thang quanh đảo. Khi nào thấy mệt thì dừng lại ở những chỗ sạch sẽ nhất để nghỉ ngơi.

Tôi sống cuộc đời chán chường ấy suốt một tháng. Sau thời gian ấy tôi nhận thấy biển co lại khá nhiều và hòn đảo thì vươn rộng thêm ra. Hình như đất liền nhích gần lại. Đúng như vậy, nước rút đến nỗi giữa đất liền và tôi chỉ còn một khoảng biển hẹp. Tôi lội qua vào đất liền, nước chỉ ngập đến nửa ống chân. Đi bộ trên bãi cát rất lâu, tôi rất mệt. Cuối cùng đến được một nơi đất rắn hơn, và đi cách bờ biển khá xa thì trông thấy tít tap đằng trước mặt hình như có một đám lửa lớn. Điều đó làm cho tôi vui lên một chút. Tôi tự bảo: may ra ta có thể gặp được người nào, không có lẽ lửa tự nó cháy lên. Nhưng càng đến gần tôi càng vỡ nhẽ là mình nhầm. Chỉ lát sau nữa, cái mà tôi cho là đám lửa ấy kỳ thực là một tòa lâu đài bằng đồng đỏ, ánh nắng rọi vào làm cho từ xa nom như bốc lửa.

Tôi dừng lại gần tòa lâu đài ấy và ngồi xuống, vừa để ngắm nghía cấu trúc tuyệt đẹp của nó vừa để lấy lại đôi chút hơi sức. Tôi chưa kịp quan sát thật kỹ lưỡng cho đáng với ngôi nhà tráng lệ thì chợt trông thấy mười chàng trẻ tuổi tuấn tú và có vẻ như vừa đi dạo mát trở về. Nhưng điều tôi cho là khá kỳ cục, là tất cả đều bị chột mắt bên phải. Họ đi theo một cụ già cao lớn và có vẻ đáng kính.

Tôi ngạc nhiên lạ lùng sao lại gặp bấy nhiêu người chột cùng một lúc và cùng mất đúng một bên mắt. Trong lúc tôi đang cố suy nghĩ, chuyện gì xảy ra làm cho họ tập hợp lại một nơi, thì họ đã đến gần và tỏ vẻ vui mừng được gặp tôi. Sau những lời chào hỏi ban đầu, họ hỏi tôi vì sao đến đấy. Tôi đáp câu chuyện của tôi khá dài dòng, nếu các vị vui lòng ngồi xuống tôi xin thỏa mãn điều các vị muốn biết. Họ ngồi xuống. Tôi kể cho họ nghe những việc đã xảy ra cho tôi từ ngày từ giã đất nước mình cho đến lúc bây giờ. Họ đều rất lấy làm ngạc nhiên về những chuyện đó.

Khi tôi kể xong, các ngài trẻ tuổi ấy mời tôi cùng họ vào trong lâu đài. Tôi nhận lời. Chúng tôi đi qua vô số là sảnh ngoài, phòng đợi, phòng riêng và phòng làm việc đồ đạc đều rất sạch sẽ, rồi đến một phòng khách lớn. Ở đây có mười chiếc bục nhỏ màu xanh tách biệt kê thành vòng tròn, vừa dùng để ngồi nghỉ ban ngày vừa để ngủ đêm. Chính giữa vòng tròn ấy là một chiếc bục thứ mười một, cùng màu sắc nhưng thấp hơn. Cụ già tôi đã nói đến ngồi lên chiếc bục ở giữa, còn các ngài trẻ tuổi ngồi những chiếc bục chung quanh.

Vì mỗi chiếc bục chỉ ngồi được một người, một chàng trẻ tuổi liền bảo tôi: “Bạn hãy ngồi xuống tấm thảm chính giữa, và chớ có hỏi han về bất cứ những gì có liên quan đến chúng tôi. Chớ có hỏi vì sao tất cả chúng tôi đều chột mắt bên phải. Bạn hãy bằng lòng chỉ nhìn xem thôi, không nên tò mò hơn nữa.”

Cụ già không ngồi yên lâu. Cụ đứng dậy và đi ra. Chỉ lát sau trở lại mang bữa cơm chiều cho mười chàng trẻ tuổi. Cụ chia khẩu phần riêng cho từng người. Cụ cũng đưa cho tôi một suất. Tôi bắt chước những người khác lặng lẽ ăn một mình. Đến cuối bữa ăn thì chính cụ già ấy mang cho mỗi người một cốc rượu. Mọi người cho câu chuyện của tôi kỳ lạ đến nỗi sau khi ăn xong, họ bắt tôi thuật lại lần nữa. Câu chuyện về tôi trở thành đầu đề bàn luận suốt cả phần lớn đêm ấy. Chợt nhớ ra đêm đã về khuya, một chàng bảo cụ già: “Bác thấy đã đến lúc đi ngủ, thế mà bác chưa đưa cho chúng tôi những thứ cần thiết để chúng tôi làm phận sự.” Nghe nói, cụ già liền đứng dậy đi vào một căn buồng rồi lần lượt mang ra mười cái chậu, tất cả đều phủ vải xanh. Cụ già đặt trước mặt mỗi chàng một cái chậu và một cây đuốc.

Họ mở chậu ra, bên trong đựng tro, than, bột và bồ hóng. Họ trộn lẫn những thứ ấy lại với nhau, rồi bắt đầu chà lên bôi nhọ nhem mặt mũi cho đến lúc nhìn phát khiếp. Sau khi bôi đen mặt mũi như vậy rồi, họ bắt đầu khóc lóc và vừa đấm đầu đấm ngực vừa luôn miệng kêu than: “Đây là kết quả của sự ăn không ngồi rồi và chơi bời trác táng của chúng tôi!”

Thưa bà, xin bà hãy hình dung sự bực bội của tôi suốt thời gian ấy. Biết bao nhiêu lần tôi đã định phá tan sự im lặng mà các ngài ấy buộc tôi phải giữ, để cất lời hỏi họ. Suốt đêm hôm ấy, tôi không thể nào ngủ được.

Ngày hôm sau vừa tỉnh giấc, khi chúng tôi ra ngoài trời để hít thở không khí, tôi hỏi họ: “Thưa quý ngài, tôi tuyên bố là tôi không chấp nhận cái luật lệ các ngài đề ra cho tôi hôm qua. Tôi không tuân thủ nó nữa đâu. Các ngài đều là những con người khôn ngoan và thông minh rất mực, điều đó đã rõ, ấy thế nhưng tôi lại trông thấy các ngài có những hành động mà trừ những kẻ mất trí ra, không ai có thể làm. Cho dù có tai họa nào xảy đến với tôi chăng nữa tôi cũng không thể cầm lòng không hỏi vì sao các ngài lại đi bôi tro, than và bồ hóng lên mặt, và sau nữa, vì sao tất cả các ngài chỉ có mỗi một con mắt? Chắc hẳn có một điều gì đó rất kỳ lạ gây nên. Bởi vậy tôi van các ngài hãy vui lòng nói cho tôi rõ!”

Đáp lại những lời van nài khẩn thiết như vậy, họ chỉ một mực nói là những điều tôi hỏi chẳng có quan hệ gì với tôi. Tôi chẳng có chút lợi ích gì ở đấy và hãy nghỉ yên. Ban ngày chúng tôi chuyện trò về những việc không đâu, rồi đêm đêm, sau khi ăn tối riêng rẽ, cụ già lại mang các chậu xanh đến, các chàng trẻ tuổi lại bôi mặt lọ lem, lại tự đấm mình mà kêu than: “Đây là kết quả của sự ăn không ngồi rồi và chơi bời trác táng của chúng tôi!” Ngày hôm sau và những ngày hôm sau nữa họ vẫn làm những hành động đó.

Cuối cùng không kìm nổi sự hiếu kỳ nữa, tôi yêu cầu họ một cách rất nghiêm chỉnh hoặc là nói cho tôi biết hoặc là chỉ cho tôi con đường để cho tôi có thể trở về nước nhà. Bởi vì tôi không thể nào ở lại với họ lâu hơn nữa, để tối nào cũng phải chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng như vậy mà không được phép tìm hiểu căn nguyên.

Thay mặt tất cả, một ngài trả lời tôi: “Xin ngài chớ ngạc nhiên về thái độ của chúng tôi đối với ngài. Nếu cho đến tận bây giờ chúng tôi chưa vâng theo những yêu cầu của ngài, chẳng qua là vì tình thân hữu và để tránh cho ngài nỗi buồn sẽ phải lâm vào tình trạng như chúng tôi đấy thôi. Nếu ngài muốn nếm qua cái số phận khốn khổ như số phận chúng tôi, xin ngài cứ việc nói ra, chúng tôi sẵn sàng làm thỏa những điều ngài mong muốn.” Tôi nói với họ rằng tôi quyết tâm chịu đựng đủ mọi điều. Ngài trai trẻ lại nói: “Một lần nữa chúng tôi khuyên ngài nên kiềm chế bớt sự tò mò, nó sẽ làm cho ngài thiệt mất con mắt bên phải đấy.”

- Không hề gì, – tôi đáp – tôi xin tuyên bố rằng nếu điều không may ấy xảy ra cho tôi, tôi sẽ không đổ tại các ngài gây nên, mà nhận là lỗi chỉ tại ở chính mình mà thôi.

Chàng lại cho tôi biết rằng, sau này nếu tôi đã bị mất đi một mắt, tôi sẽ không thể hy vọng được ở lại đây cùng với họ, giả dụ rằng tôi muốn như vậy, bởi vì họ đã đủ về số lượng rồi, không thể tăng thêm hơn nữa. Tôi đáp tôi sẽ lấy làm thích thú nếu được không bao giờ phải xa rời những con người trung hậu như họ. Nhưng nếu bắt buộc phải chia tay thì tôi cũng sẵn sàng phục tùng với bất cứ giá nào, tôi cũng mong họ đáp ứng cho điều tôi thỉnh cầu.

Mười ngài trai trẻ thấy lòng tôi không lay chuyển, liền bắt một con cừu, cắt tiết. Sau khi lột da, họ đưa cho tôi con dao họ vừa dùng và nói: “Ngài hãy cầm lấy con dao này, nó sẽ giúp ích cho ngài vào những dịp mà chúng tôi sắp nói để ngài rõ đây. Ngài sẽ khoác tấm da này lên người và chúng tôi sẽ khâu ngài trong đó. Sau đấy chúng tôi để ngài lại đây và bỏ đi. Lúc ấy một con chim rất to mà người ta gọi là đại bàng sẽ xuất hiện trên không. Tưởng ngài là một con cừu, nó sẽ sà xuống cắp và tha ngài lên tận chín tầng mây. Nhưng ngài đừng vì thế mà kinh hãi. Nó sẽ bay trở lại mặt đất và đặt ngài xuống đỉnh một ngọn núi. Vừa chạm đất, ngài hãy dùng dao rạch đứt da cừu và chui ra. Con đại bàng vừa trông thấy ngài, sẽ sợ hãi bay đi nơi khác, để cho ngài tự do. Ngài đừng dừng lại mà cứ đi mãi cho đến khi thấy một tòa lâu đài lớn kỳ diệu, phủ toàn vàng gấm, ngọc bích và các loại đá quý khác. Ngài hãy đến trước cái cổng thường xuyên bỏ ngỏ và cứ mạnh dạn bước vào. Tất cả chúng tôi có mặt ở đây, ai cũng đều đã từng ở trong lâu đài ấy cả. Chúng tôi không nói với ngài là đã trông thấy những gì hoặc điều gì đã xảy ra cho chúng tôi: tự ngài khắc biết. Điều chúng tôi có thể thưa với ngài là mỗi chúng tôi đều phải trả giá bằng con mắt bên phải. Cái hình phạt mà ngài từng chứng kiến ở đây là một việc chúng tôi buộc phải làm vì đã từng sống trong lâu đài ấy. Chuyện về từng người, chúng tôi ai cũng đầy rẫy những sự phiêu lưu kỳ lạ, mỗi người có thể chép thành một cuốn sách dày. Nhưng giờ đây chúng tôi không thể nói được nhiều hơn nữa.

Thưa bà, một trong số mười người chột mắt nói xong những điều mà tôi vừa thuật lại hầu bà, tôi liền chui luôn vào tấm da cừu, tay cầm con dao họ vừa đưa cho. Các ngài ấy vui lòng khâu kín tấm da lại, họ để tôi ở lại chỗ trống và trở vào phòng khách. Con đại bàng mà họ đã nói đến chẳng mấy chốc xuất hiện. Nó bổ nhào xuống, cắp tôi vào giữa các móng như cắp một con cừu rồi mang tôi lên đỉnh một ngọn núi cao.

Lúc cảm thấy chạm đất, tôi dùng con dao rạch đứt tấm da và chui ra. Con đại bàng vừa trông thấy người đã vội cất cánh bay đi. Con đại bàng ấy là một con chim trắng to lớn kỳ dị. Nói về sức lực thì nó khỏe đến mức có thể nhấc bổng cả một con voi từ dưới đồng bằng đưa lên tận núi cao để ăn thịt. Nôn nóng muốn chóng đến được tòa lâu đài, tôi không để mất một chút thì giờ. Tôi đi vội vã đến nỗi chỉ sau chưa đến nửa ngày đường đã tới nơi. Có thể nói là tôi thấy tòa lâu đài thực tế còn đẹp hơn cả người ta mô tả.

Cổng lớn để ngỏ. Tôi đi qua một cái sân vuông rộng chung quanh có chín mươi chín cửa ra vào làm bằng gỗ đàn hương và gỗ trầm và một cửa nữa bằng vàng không kể những cửa dẫn vào các cầu thang tráng lệ đưa lên những căn buồng trên gác hoặc những căn buồng khác nữa mà tôi chưa nhìn thấy. Trăm cánh cửa tôi vừa nói ấy đưa tới các khu vườn hoặc các nhà kho chứa đầy của quý, hoặc là đến những nơi xếp đầy rẫy những vật xem thật lạ lùng.

Thấy trước mặt có một cửa mở sẵn, tôi liền bước qua, đi vào một phòng khách. Trong phòng đã ngồi sẵn bốn mươi thiếu phụ xinh đẹp tuyệt trần quá mức tưởng tượng. Họ ăn mặc lộng lẫy. Thoạt trông thấy tôi, tất cả đều đứng lên. Không đợi tôi chào hỏi, họ tỏ ra rất vui và nói: “chàng trai quý mến, xin chúc mừng chàng, xin chúc mừng chàng.” Rồi một nàng cất lời nói thay cho tất cả: “Đã lâu lắm chúng em chờ đợi một chàng trai giống như chàng. Dáng điệu của chàng đủ cho chúng em thấy chàng có mọi phẩm cách chúng em mong ước. Chúng em hy vọng chàng không coi sự có mặt của chúng em là khó chịu và không xứng đáng với chàng.” Mặc dù tôi nhiều lần thoái thác, họ vẫn ép tôi ngồi xuống một chỗ hơi cao hơn chỗ họ ngồi. Khi tôi tỏ ý việc đó làm tôi phiền lòng thì họ nói: “Đấy là chỗ dành cho chàng. Lúc này đây chàng là đức vua, là ông chủ, là người phán xét chúng em. Còn chúng em là những nô lệ sẵn sàng nhận lệnh của chàng.”

Thưa bà, không có gì trên đời làm cho tôi ngạc nhiên bằng thái độ hăng hái và nồng nhiệt của những cô gái xinh đẹp ấy muốn phục vụ tôi đủ mọi việc. Một nàng mang nước nóng đến rửa chân cho tôi. Một cô khác rót nước hoa vào tay tôi. Những người này đưa đến đủ mọi thứ cần thiết cho tôi thay áo quần. Những người nọ lo dọn cho tôi một bữa lót dạ tuyệt vời. Những người khác thì tiến đến, cốc cầm tay, sẵn sàng rót cho tôi một thứ rượu kỳ thú. Tất cả những công việc đó được làm nhịp nhàng với một trật tự và sự phối hợp khéo léo, với những phong thái làm cho tôi say mê. Tôi uống rượu và ăn quà. Sau đó tất cả những thiếu phụ đến ngồi quanh xin tôi thuật lại cho nghe chuyến đi của tôi. Tôi kể chi tiết cho họ những việc đã xảy ra. Câu chuyện kéo dài cho đến tối. Chuyện kể xong, một vài người ngồi gần tôi nhất trong số bốn mươi thiếu phụ ấy ở lại cùng tôi chuyện trò, còn những người khác thấy trời đã tối, đứng dậy đi tìm nến. Họ mang đến rất nhiều cây nến và ánh nến thay thế một cách kỳ diệu ánh sáng ban ngày. Các chân đèn được bày biện cân đối quá mức mong ước.

Những nàng khác dọn ra bàn những trái cây khô, mứt và các món nhắm rượu, và mang xếp sẵn vào tủ rượu nhiều loại rượu vang và rượu ngọt, những người khác nữa thì mang nhạc cụ ra. Khi mọi việc đâu vào đấy, họ mời tôi ngồi vào bàn. Các nàng cũng cùng ngồi với tôi. Chúng tôi ăn uống khá lâu. Những người đàn sáo và ca sĩ đứng lên trình bày một bản hợp tấu êm dịu. Những cô khác bắt đầu trình diễn một loại vũ đạo. Họ nhảy múa từng đôi, hết cặp này đến cặp khác, một cách duyên dáng nhất trần đời.

Quá nửa đêm thì những tiết mục liên hoan ấy chấm dứt. Lúc ấy thiếu phụ cất lời nói với tôi: “chàng đã mệt vì chuyến đi đường hôm nay. Đã đến lúc mời chàng đi nghỉ. Buồng riêng của chàng đã sắp sẵn. Nhưng trước khi vào, xin chàng hãy chọn trong tất cả chúng em đây người nào chàng thích hơn cả để vào cùng ngủ với chàng.” Tôi đáp rằng tôi sẽ không lựa chọn như họ gợi ý. Tất cả các nàng đều xinh đẹp, tài hoa, đều xứng đáng cho tôi kính trọng và hầu hạ. Tôi sẽ không khiếm nhã tới mức chuộng người này hơn người kia.

Thiếu phụ ấy lại nói tiếp: “chúng em rất tin ở sự thẳng thắn của chàng, chúng em thấy rõ vì sợ chúng em sinh lòng ghen tuông với nhau cho nên chàng giữ ý. Nhưng mong rằng chàng chớ vì thế mà không lựa chọn. chúng em xin thề trước để chàng rõ là hạnh phúc của người mà chàng lựa chọn sẽ không làm cho ai ganh tị, bởi vì chúng em đã thoa thuận với nhau, hết người này đến lượt người khác ngày nào cũng có một người trong bọn chúng em được hưởng hạnh phúc. Sau bốn mươi ngày thì lặp lại từ đầu. Vậy nên chàng hãy tự do lựa chọn và chớ để phí thì giờ nghỉ ngơi mà chàng đang cần.”

Tôi đành phải nhượng bộ những lời khẩn khoản của họ. Tôi đưa tay cho thiếu phụ vừa nói thay tất cả chị em, nàng cầm tay tôi và người ta đưa chúng tôi vào căn buồng tráng lệ. Họ để hai chúng tôi ở đấy. Các thiếu phụ khác lui về buồng riêng của mình.

Sáng hôm sau, tôi vừa mặc quần áo, thì ba mươi chín thiếu phụ khác đã vào buồng. Tất cả đều ăn vận khác ngày hôm trước. Họ chào và hỏi thăm sức khỏe tôi. Sau đó họ dẫn tôi vào buồng tắm, tự tay tắm rửa cho tôi. Mặc dù tôi không đồng ý, họ vẫn giúp tôi đủ mọi việc cần thiết. Khi tôi tắm xong, họ mặc cho tôi bộ quần áo khác còn đẹp đẽ hơn bộ mặc hôm qua.

Suốt ngày, hầu như chúng tôi chỉ ngồi ở bàn ăn. Đến giờ đi ngủ, các nàng lại yêu cầu tôi chọn một người để làm bạn. Thưa bà, để bà đỡ chán tai vì nghe lặp đi lặp lại một chuyện ấy, tôi xin nói tóm tắt là tôi sống một năm ròng rã cùng bốn mươi thiếu nữ ấy, mỗi đêm ngủ với một người. Trong suốt thời gian ấy, cuộc đời nhung lụa không bị một nỗi buồn phiền nhỏ nhặt nào làm cho gián đoạn.

Cuối năm (không có gì làm cho tôi bất ngờ hơn) một buổi sáng, bốn mươi thiếu phụ ấy, đáng lẽ đến thăm và hỏi thăm sức khỏe của tôi như thường lệ, lại bước vào phòng, hai má người nào cũng đầm đìa nước mắt. Họ lần lượt đến ôm hôn tôi và âu yếm nói: “Vĩnh biệt, hoàng tử thân yêu, vĩnh biệt! Chúng em phải xa chàng thôi.”

Nước mắt các nàng làm tôi cảm động. Tôi van nài họ hãy cho tôi biết căn nguyên của nỗi buồn và của sự biệt ly mà họ vừa nói: “Nhân danh Thượng đế, các cô em xinh đẹp của ta ơi, hãy cho ta biết, ta có thể an ủi hoặc giúp ích được chút gì cho các cô em hay không?” Họ không trả lời thẳng mà lại nói: “Giá mà chúng em chưa bao giờ được trông thấy hoặc được quen biết chàng! Trước chàng, nhiều chàng trai đã hạ cố đến thăm chúng em. Nhưng không một ai có được cái duyên dáng, sự dịu hiền, tính vui vẻ và tư cách như chàng.” Nói xong họ lại khóc thảm thiết. Tôi lại hỏi: “Các cô em xinh đẹp của ta ơi, ta van các cô em chớ để cho ta âu sầu hơn nữa! Hãy cho ta biết vì sao các cô em đau buồn?”

- Hỡi ơi! – Họ đáp. – Còn có căn nguyên nào có thể làm cho chúng em buồn bã ngoài sự bắt buộc phải xa lìa chàng? Có lẽ chúng em sẽ chẳng bao giờ còn được gặp lại chàng nữa đâu! Tuy nhiên, nếu chàng muốn và nếu chàng vì chúng em mà có đủ nghị lực tự chủ bản thân thì cũng không phải là không có dịp gặp lại nhau lần nữa.

- Các cô em ơi, – tôi đáp – tôi chẳng hiểu tí gì về điều các cô em vừa nói. Xin các cô em hãy nói rõ ràng hơn!

Một nàng trả lời:

- Vậy thì, để làm vừa lòng chàng, chúng em xin thưa rõ: chúng em đều là công chúa, con vua. Chúng em cùng sống chung ở đây với niềm lạc thú mà chàng thấy đấy. Nhưng cứ hết mỗi năm, chúng em lại bắt buộc phải vắng mặt bốn mươi ngày để làm những phận sự cần thiết mà chúng em không được phép nói rõ. Sau đó chúng em trở lại lâu đài này. Hôm qua vừa hết năm. Hôm nay chúng em phải từ giã chàng. Đó là nguyên nhân làm cho chúng em buồn bã. Trước khi đi, chúng em để lại cho chàng mọi thứ chìa khóa, đặc biệt là chìa khóa một trăm cánh cửa, để giúp chàng có cách thỏa mãn sự hiếu kỳ và làm dịu bót nỗi cô đơn trong thời gian vắng chúng em. Nhưng, vì hạnh phúc của chàng và lợi ích đặc biệt của tất cả chúng ta, chúng em căn dặn chàng chớ có nên mở cánh cửa bằng vàng. Nếu chàng mở cánh cửa ấy ra, chúng em sẽ chẳng bao giờ được gặp lại chàng, chính nỗi lo về chuyện ấy đang làm cho chúng em càng thêm đau khổ. Chúng em hy vọng lời khuyên của chúng em sẽ có ích cho chàng. Nó quyết định sự yên tĩnh và hạnh phúc đời chàng. Xin chàng chú ý cho, nếu chàng chẳng giữ được sự hiếu kỳ không đúng đắn, chàng sẽ tự gây hại lớn cho mình. Bởi vậy chúng em van chàng chớ có phạm sai lầm ấy để cho chúng em được niềm an ủi rồi sẽ gặp lại chàng ở đây sau bốn mươi ngày xa cách. Chúng em ra đi có thể mang theo mình cái chìa khóa mở cánh cửa bằng vàng. Song làm như vậy sẽ là một điều xúc phạm đối với một hoàng tử như chàng, sẽ là hoài nghi tính kín đáo và sự biết kiềm chế của chàng.

Thưa bà, lời các công chúa xinh đẹp gây cho tôi một nỗi đau buồn thật sự. Tôi không quên bày tỏ với họ rằng sự vắng mặt của họ sẽ gây cho tôi nhiều ưu phiền. Tôi cảm ơn những lời khuyên bảo tốt lành của họ. Tôi quả quyết với họ rằng tôi sẽ chú ý lời khuyên bảo. Tôi còn có thể làm những việc còn khó khăn hơn thế nhiều để được cái hạnh phúc là sẽ sống những ngày còn lại của đời mình với những người đàn bà có phẩm cách hiếm thấy như họ.

Phút chia tay thật là lưu luyến. Tôi ôm hôn các nàng hết người này đến người khác. Sau đó họ ra đi để một mình tôi ở lại trên tòa lâu đài.

Niềm lạc thú được sống cùng với họ, thức ăn ngon, các buổi hòa nhạc, các trò vui làm tôi bận rộn suốt cả năm đến nỗi không còn thì giờ, cũng không có chút ham thích nào đi xem những điều kỳ thú có thể có trong lâu đài huyền ảo này. Tôi cũng không để ý đến cả bao nhiêu đồ vật tuyệt tác trông thấy hằng ngày, vì quá say mê sắc đẹp của các nàng và vì quá vui thích khi thấy các nàng chỉ có mỗi một điều chăm lo duy nhất là tìm cách làm đẹp lòng tôi. Tôi buồn rầu sâu sắc khi họ ra đi. Và mặc dù họ vắng mặt chỉ có bốn mươi ngày, tôi cảm thấy như sắp phải trải qua một thế kỷ không có các nàng. Tôi thầm hứa sẽ không quên lời khuyên bảo quan trọng của họ, sẽ không mở cánh cửa bằng vàng. Nhưng bởi vì chỉ trừ việc đó mà thôi, còn ra tôi được phép thỏa mãn sự tò mò, tôi liền cầm lấy cái chìa khóa thứ nhất trong những chìa khóa dùng để mở các cánh cửa đã được sắp xếp theo thứ tự.

Mở cửa thứ nhất, tôi đi vào một vườn cây ăn quả mà tôi nghĩ rằng trong khắp vũ trụ không có nơi nào có thể so sánh bằng.

Tôi cũng không chắc cái vườn ngọc uyển ở chốn thiên đường mà đạo Hồi chúng ta vẫn hứa hẹn cho con người khi sang thế giới bên kia có thể hơn được thế này hay không. Tính đối xứng, vẻ sạch sẽ, cách sắp xếp các cây trồng, sự phong phú và đa dạng của hàng nghìn loại quả tươi tốt xinh đẹp chưa hề biết đến bao giờ làm cho tôi rất thích mắt.

Thưa bà, tôi không thể bỏ qua không thưa để bà chú ý cho rằng cái vườn cây tuyệt diệu này được tưới nước theo một cách đặc biệt. Các mương nhỏ đào khéo léo và cân xứng, dẫn nước tưới dồi dào cho rễ những cây cần trổ lá đâm hoa. Các mương khác dẫn lượng nước ít hơn cho những cây đã đậu quả. Các mương khác nữa tưới với lượng nước còn ít hơn nữa cho những cây quả đang độ lớn. Còn những cây quả đã lớn đủ rồi, chỉ còn chờ chín thì nước tưới chỉ vừa vặn đủ thôi. Thế nhưng những trái cây này vẫn lớn hơn rất nhiều so với những quả thường thấy trong vườn chúng ta. Và cuối cùng, các con mương khác dẫn nước cho những cây quả đã chín vừa đủ độ ẩm cần thiết để giữ lại trên cây mà không làm nẫu quả vì quá mọng.

Tôi quan sát và ngắm nghía không biết chán nơi đẹp như vậy. Có lẽ tôi sẽ không chịu ra khỏi vườn, đầu óc tràn đầy những điều kỳ diệu. Tôi mở cánh cửa tiếp theo.

Lần này không phải là một vườn quả mà là một vườn hoa, cũng không kém phần đặc biệt. Bên trong mỗi bồn hoa rộng được tưới nước không phải theo cách vừa rồi mà còn công phu hơn nhiều để giữ cho mỗi loại hoa không phải hút nhiều lượng nước quá mức cần thiết. Hoa hồng, hoa nhài, hoa huệ, hoa thủy tiên, hoa dạ lan, hoa mẫu đơn, hoa uất kim, hoa mao hương, hoa cẩm chướng… Cơ man loại hoa mà giá ở vào những nơi khác thì chỉ nở theo mùa. Nhưng ở đây tất cả cùng nở rộ một lúc. Thật không có gì sảng khoái hơn hít thở không khí trong vườn này.

Tôi mở cánh cửa thứ ba, thấy một nhà nuôi chim rất rộng. Nền nhà lát cẩm thạch đủ các loại màu, loại đá quý nhất, hiếm nhất. Lồng chim làm bằng gỗ đàn hương và trầm hương. Trong lồng nhốt cơ man là chim họa mi, chim kim oanh, chim bạch yến, chim sơn ca và các loại khác có tiếng hót du dương hơn mà cả đời tôi chưa bao giờ nghe nói đến tên. Các lọ đựng thức ăn, nước uống cho chim đều bằng đá hoa vân và bằng mã não quý nhất.

Ngoài ra, nhà nuôi chim rất sạch sẽ. Chỉ nhìn kích thước ngôi nhà, tôi nghĩ cần phải có không ít hơn một trăm người chăm nom thì mới giữ cho nó luôn luôn được tinh tươm thế này. Tuy không hề thấy bóng người ở nơi đây cũng như trong các khu mà tôi đến thăm, trong vườn tuyệt không có một ngọn cỏ dại hay một vật thừa nhỏ nhặt nào làm chướng mắt người xem.

Mặt trời đã lặn. Tôi ra khỏi nhà, lòng còn say mê bởi tiếng líu lo của muôn hoa và chim chóc lúc ấy đang tranh nhau tìm chỗ đậu thuận tiện nhất để nghỉ đêm. Tôi trở về buồng riêng và định bụng sẽ mở tất cả các cánh cửa trong những ngày tới, trừ cửa thứ một trăm.

Ngày hôm sau, tôi đi mở cánh cửa thứ tư. Nếu những gì trông thấy ngày hôm trước có thể gây cho tôi sự ngạc nhiên, thì những vật thấy hôm nay làm cho tôi mê mẩn. Tôi đặt chân vào một cái sân rộng trước một tòa nhà kiến trúc tuyệt diệu, mà tôi sẽ không miêu tả lại hầu bà để tránh sự dài dòng. Tòa nhà ấy có bốn mươi cửa luôn luôn mở rộng, mỗi cửa dẫn tới một kho tàng. Trong số đó có nhiều kho tàng có giá trị lớn hơn kho tàng các vương quốc lớn nhất. Kho đầu tiên chứa những đống ngọc. Điều khó tin là những viên quý nhất lớn bằng quả trứng bồ câu trở lên lại nhiều hơn những viên cỡ bình thường. Trong kho tàng thứ hai, có kim cương, ngọc hồng và ngọc tía. Trong kho thứ ba, ngọc bích. Trong kho thứ tư, vàng bạc nén. Trong kho thứ năm, tiền đồng. Trong kho thứ sáu, bạc nén. Hai kho tiếp đó là tiền các loại. Các kho khác chứa ngọc tía, ngọc xanh, ngọc vàng, ngọc mắt mèo, ngọc lam, ngọc vân và tất cả các loại đá quý khác mà ta biết, không kể vân thạch, mã não trắng, mã não đỏ. Còn san hô thì xếp cả một kho đầy, không phải chỉ có cành thôi mà là cả những cây san hô nguyên vẹn.

Ngạc nhiên và khâm phục, tôi thốt lên, sau khi xem tất cả những vật báu đó: “Không, tất cả các kho tàng của tất cả các vua chúa trong vũ trụ tập trung lại một nơi, cũng không sánh được những kho báu này. Hạnh phúc thay cho ta được làm chủ tất cả của cải này cùng với bao nhiêu nàng công chúa yêu kiều!”

Thưa bà, tôi sẽ không dừng lại để kể chi tiết với bà tất cả những đồ vật hiếm có và quý báu khác mà tôi trông thấy những ngày tiếp sau. Tôi chỉ nói rằng cần đến không ít hơn ba mươi chín ngày mới mở hết chín mươi chín cái cửa và ngắm nghía tất cả những gì bày ra trước mắt. Chỉ còn lại mỗi một cánh cửa thứ một trăm, cấm không được mở nữa mà thôi.

Đã đến ngày thứ bốn mươi kể từ hôm các công chúa kiều diễm ra đi. Ngày hôm ấy nếu tôi có đủ nghị lực cần phải có để tự kiềm chế thì bây giờ tôi đã là con người sung sướng nhất trong tất cả loài người, chứ không phải là con người khốn khổ nhất. Còn một ngày nữa thôi là các công chúa trở lại. Niềm vui được gặp lại họ đáng ra phải hãm bớt sự tò mò của tôi. Nhưng do một sự yếu đuối mà tôi không bao giờ thôi hối hận, tôi đã sa vào sự quyến rũ của quỷ sứ nó không cho tôi yên ổn được một chút nào, nó buộc tôi tự dấn thân vào con đường khổ ải mà rồi mình sẽ phải trải qua. Tôi đã mở cánh cửa tai hại mà tôi đã hứa là sẽ không mở.

Vừa mới đưa chân định bước vào thì một mùi hương khá dễ chịu nhưng không hợp với tạng người tôi, làm cho tôi ngã xuống bất tỉnh. Tuy nhiên, tôi tỉnh dậy được. Đáng lẽ hiểu ra sự cảnh cáo ấy mà đóng cửa lại và không bao giờ còn ham muốn thỏa mãn sự tò mò của mình nữa, thì tôi lại vẫn cứ bước vào, sau khi đợi một lát cho khí trời làm loãng bớt mùi hương ấy đi một chút. Tôi không còn bị khó chịu vì cái mùi ấy nữa.

Đây là một nơi rộng rãi, mái có vòm tròn và nền rải rác những củ nghệ. Nhiều cây đuốc bằng vàng khối cắm nến tỏa sáng dậy mùi trầm hương và xạ hương. Ánh sáng được tăng thêm bởi ánh sáng những ngọn nến bằng vàng và bằng bạc mà dầu đốt được làm bằng nhiều loại hương trầm.

Giữa một số khá nhiều đồ đạc thu hút sự chú ý của tôi, tôi nhận thấy một con ngựa đen đẹp nhất, hoàn hảo nhất chưa ai từng thấy trên đời này. Tôi xích lại gần để ngắm nghía cho rõ hơn. Nó mang bộ yên cương bằng vàng khối, chạm trổ công phu. Máng thức ăn của nó một bên chứa lúa mạch đã xát vỏ và hạt vừng, một bên chứa nước hoa hồng. Tôi nắm dây cương kéo nó ra ngoài trời để xem cho rõ. Tôi trèo lên lưng và muốn thúc nó đi. Nó không nhúc nhích. Tôi cầm chiếc roi mềm nhặt được trong chuồng ngựa tráng lệ để đánh nó. Vừa cảm thấy ngọn roi chạm vào mình, nó đã cất tiếng hí ghê rợn. Rồi xòe đôi cánh lúc nãy tôi không nhìn thấy, nó bay bổng lên trời cao tít tap. Tôi chỉ còn nghĩ tới chuyện bám thật chắc vào con vật. Mặc dù khiếp đảm, tôi cưỡi ngựa cũng không đến nỗi tồi. Nó bay quay trở lại mặt đất, hạ xuống mái bằng một tòa lâu đài, vó chưa chạm đến đất nó đã tung mạnh, hất tôi ngã nhào ra đằng sau. Rồi nó đưa đuôi của nó chọc thủng mắt bên phải của tôi.

Tôi trở nên chột mắt bằng cách như vậy đấy thưa bà. Tôi mới nhớ lại rất rõ điều mà mười chàng trai trẻ đã nói trước với tôi. Con ngựa lại bay lên không trung và biến mất. Tôi đứng dậy, rất buồn rầu vì tai họa tự mình gây nên. Tôi đi trên mái bằng, một tay bưng con mắt rất đau đớn tôi tụt xuống và thấy mình ở trong một phòng khách có mười chiếc bục xếp thành vòng tròn, ở giữa là một chiếc thấp hơn. Tôi hiểu ra ngay, đây chính là tòa lâu đài nơi con đại bàng đã đến và cắp tôi đi dạo nọ.

Mười ngài trai trẻ chột mắt không có trong phòng khách. Tôi chờ, lát sau họ đến đông đủ cùng với cụ già. Họ không tỏ ra ngạc nhiên chút nào khi gặp lại tôi và thấy tôi đã chột mất một mắt. Họ nói: “Chúng tôi rất tiếc là không thể chúc mừng ngài trở về theo cách chúng tôi mong ước. Nhưng chúng tôi không phải là nguyên nhân gây nên tai họa cho ngài.”

- Tôi sẽ sai nếu dám trách móc các ngài về chuyện đó. – Tôi đáp. – Chính tôi đã tự chuốc lấy tai họa vào thân. Tôi xin nhận tất cả lỗi về phần mình.

- Nếu niềm an ủi của những người đau khổ là có được những kẻ giống mình, – họ lại nói – thì gương của chúng tôi đây có thể an ủi ngài được một phần nào. Những gì xảy ra cho ngài cũng đã từng xảy ra cho chúng tôi. Chúng tôi đã thưởng thức đủ mọi điều hoan lạc trong suốt một năm ròng. Có lẽ chúng tôi đã tiếp tục hưởng hạnh phúc ấy nếu không tò mò mở cánh cửa bằng vàng trong khi vắng mặt các nàng công chúa. Ngài đã không khôn ngoan hơn chúng tôi. Ngài đã chịu cùng hình phạt như chúng tôi. Chúng tôi rất muốn nhận ngài ở lại đây để cùng nhau thi hành cái hình phạt mà chúng tôi không rõ sẽ kéo dài bao lâu nữa. Nhưng ngài đã biết rõ những lý do không cho phép chúng tôi làm như vậy. Bởi vậy ngài hãy đi đi, hãy đến triều đình ở Bátđa. Ngài sẽ tìm thấy ở đấy Đấng thống lĩnh sẽ quyết định số phận của ngài.

Họ chỉ cho tôi đường đi, và tôi từ giã họ. Dọc đường, tôi cho cạo râu và chân mày, và mặc áo quần khất sĩ. Tôi đi bộ lâu lắm rồi. Cuối cùng đến thành phố này. Tôi gặp ở cổng thành các khất sĩ đồng đạo của tôi kia, cả ba anh em đều rất ngạc nhiên thấy cùng chột mắt bên phải. Nhưng chúng tôi không có đủ thời giờ để nói với nhau về cái điều bất hạnh chung ấy. Thưa bà chúng tôi chỉ có đủ thời giờ đến đây nài xin sự giúp đỡ được trú qua đêm, mà bà đã thuận cho một cách hào hiệp.”

Chàng khất sĩ thứ ba kể chuyện mình xong, nàng Zôbêít nói với chàng cùng hai đồng đạo: “Hãy đi đi, cả ba người đều được tự do, các ngài muốn đi đâu thì đi.” Nhưng một trong ba chàng đáp: “Thưa bà, xin bà thứ lỗi cho sự tò mò của chúng tôi và cho phép chúng tôi được nghe chuyện mà quý ông đây chưa kể.”

Lúc ấy thiếu phụ liền quay về phía hoàng đế, tể tướng Giafa và Mêrua mà nàng vẫn chưa biết là ai. Nàng bảo: “Đến lượt các ngài kể chuyện về mình, hãy nói đi.”

Tể tướng Giafa bao giờ cũng là người phát ngôn, trả lời nàng Zôbêít:

- Thưa bà, tuân lệnh bà, chúng tôi xin lặp lại những điều đã nói trước khi vào quý xá. Chúng tôi là những nhà buôn ở Mútxun, chúng tôi đến Bátđa để dạm bán hàng hóa hiện đang cất ở trong kho một cái trại mà chúng tôi trọ. Hôm nay chúng tôi cùng nhiều bạn đồng nghiệp ăn tối ở nhà một người buôn trong thành phố này. Ông ta sau khi chiêu đãi chúng tôi những món ăn thịnh soạn và các loại rượu tuyệt vời, đã cho gọi vũ công và vũ nữ, ca sĩ và nhạc công đến. Tiếng ồn ào do chúng tôi gây nên làm lính tuần tra kéo đến và bắt đi một số người trong đám tiệc. Về phần chúng tôi, may mắn chạy thoát. Nhưng bởi đã quá muộn, cổng vào trại đã đóng, chúng tôi không biết về đâu. Tình cờ đi ngang qua phố này, chúng tôi nghe nhà ta đang có tiếng vui chơi. Việc đó làm chúng tôi quyết định gõ cửa. Thưa bà, đấy là điều chúng tôi phải thuật lại theo lệnh bà.

Nghe xong những lời đó, Zôbêít có vẻ do dự chưa biết nên xử trí thế nào. Các khất sĩ nhận thấy, liền xin nàng hãy đối xử tốt với ba nhà buôn ở Mútxun như đã đối xử với ba chàng. Nàng nói: “Đã thế thì ta đồng ý, ta muốn rằng tất cả các người đều chịu ơn ta như nhau. Ta tha cho các người nhưng với điều kiện là tất cả các người ra khỏi nhà này ngay, rồi ai muốn đi đâu tùy ý.”

Zôbêít ra lệnh đó với một giọng buộc mọi người phải tuân theo. Hoàng đế, tể tướng, Mêrua, ba khất sĩ và gã khuân vác liền ra đi mà không cãi lại, bởi sự có mặt của bảy tên nô lệ vũ trang buộc họ phải nể vì. Khi họ đã ra khỏi nhà và cổng đã đóng lại rồi, hoàng đế hỏi các khất sĩ mà không để lộ mình là ai: “Các ngài là người lạ mà mới đến thành phố này, bây giờ trời lại chưa sáng, vậy các ngài định đi về hướng nào?”

- Thưa ngài, – họ đáp – đấy là điều đang làm cho chúng tôi băn khoăn.

- Mời các ngài đi theo chúng tôi! – Hoàng đế nói. -Chúng tôi sẽ giúp các ngài thoát khỏi khó khăn.

Nói xong, nhà vua dặn riêng tể tướng: “Hãy đưa họ về nhà tể tướng, và sáng sớm mai dẫn họ đến cho ta. Ta muốn sao chép câu chuyện của họ. Những chuyện ấy đáng được chép vào sử biên niên của triều đại ta.”

Tể tướng Giafa dẫn theo ba khất sĩ. Gã khuân vác về nhà, còn hoàng đế có Mêrua đi theo, trở lại hoàng cung. Người đi nằm nhưng không thể nào chạp mắt, đầu óc vẫn còn bị khuấy động bởi bao nhiêu chuyện dị kỳ vừa thấy và nghe. Điều nhà vua băn khoăn nhất muốn biết Zôbêít là ai. Vì đâu nàng ngược đãi hai con chó đen? Vì sao ngực Amin lại sứt sẹo? Cho đến sáng nhà vua vẫn còn loay hoay với những ý nghĩ ấy trong đầu. Người trở dậy, đến triều đường và ra lệnh thiết triều.

Hoàng đế ngồi lên ngai vàng. Lát sau tể tướng đến và chúc tụng nhà vua như thường lệ. Hoàng đế phán: “Tể tướng à, những công việc chúng ta xử lý hôm nay không có gì cấp bách lắm. Việc của ba người thiếu phụ và hai con chó đen kia còn khẩn thiết hơn nhiều. Đầu óc ta chưa thanh thản chừng nào ta chưa được biết đầy đủ về bấy nhiêu chuyện đã làm cho ta kinh ngạc. Khanh hãy đi đi, hãy triệu các bà ấy đến đây, đồng thời dẫn cả ba khất sĩ đến! Hãy đi ngay và nhớ rằng ta đang nóng lòng chờ đợi khanh trở về.”

Tể tướng đã biết rõ tính tình cương nghị và nóng nảy của nhà vua, vội vàng tuân lệnh. Ông đến nhà các thiếu phụ, trình bày với họ một cách thẳng thắn lệnh dẫn họ đến ra mắt hoàng đế mà không nói gì về những việc đã xảy ra tại nhà ba người đêm hôm trước. Ba thiếu phụ đeo mạng vào và đi theo tể tướng. Ông tạt qua nhà gọi ba khất sĩ. Ba chàng đã được báo rằng họ đã gặp hoàng đế và được nói chuyện với Người mà không hay.

Tể tướng dẫn tất cả vào cung. Ông làm xong nhiệm vụ được giao rất nhanh chóng, khiến hoàng đế hài lòng. Để giữ lễ tiết trước các quan trong triều đang có mặt lúc đó, nhà vua cho phép ba thiếu phụ đứng sau bức rèm che của cửa gian buồng dẫn tới hậu cung, và cho ba khất sĩ đứng cạnh mình. Ba chàng không dám thất lễ khi được biết mình đang ở trước mặt ai.

Các thiếu phụ yên vị. Hoàng đế quay về phía họ và nói: “Thưa các bà, khi ta nói cho các bà biết rằng đêm hôm qua ta cải trang làm nhà buôn, đã đến nhà các bà, chắc sẽ làm cho các bà lo sợ. Có thể các bà nghĩ rằng vì đã xúc phạm đến ta cho nên ta cho triệu các bà tới đây để trả hận. Các bà hãy yên tâm. Hãy tin rằng ta đã quên những việc đã xảy ra. Hơn nữa ta còn hài lòng về cách xử sự của các bà. Ta sẽ nhớ mãi thái độ ôn hòa của các bà khi chúng ta nhã làm điều thô lỗ. Hôm qua ta là nhà buôn ở Mútxun. Nhưng bây giờ ta là Harun An-Rasít, vị hoàng đế thứ năm của triều đại Abátxít quang vinh, đang trị vì thay Đấng tiên tri vĩ đại của chúng ta[1]. Tại sao mỗi bà sau khi đánh đập hành hạ hai con chó đen lại khóc lóc cùng với chúng? Ta cũng muốn biết tại sao ngực một bà lại đầy những vết sẹo?”

Mặc dù hoàng đế nói những lời vừa rồi rất rành mạch và ba thiếu phụ đều đã nghe rõ, tể tướng Giafa vẻ trịnh trọng vẫn không quên nhắc lại đầy đủ, theo đúng nghi thức trong triều.

Hoàng đế nói xong, Zôbêít tuân lệnh. Để thỏa mãn điều người đòi hỏi, nàng trình bày câu chuyện của nàng như sau:

❀ ❀ ❀

[1] Chỉ Môhamét, người sáng lập đạo Hồi (ND).

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.