Tôi thừa hưởng của gia đình tôi nhiều tài sản đáng kể. Nhưng tôi đã tiêu phí mất phần lớn qua các cuộc chơi bời trác táng thuở thanh niên. May sao tôi kịp tỉnh ra khỏi sự mê muội.
Suy nghĩ về những hành động của mình, tôi nhận ra rằng của cải giàu sang có thể tiêu tan, rồi chẳng mấy chốc mà cạn hết vốn liếng, nếu cứ kiểu làm ăn tồi như tôi hồi đó. Tôi còn nghĩ rằng, trong cuộc sống không nề nếp, tôi đã phung phí bậy bạ thời gian, vật quý báu nhất trên đời. Tôi còn hiểu ra, nghèo khó trong lúc tuổi tác già nua là điều tồi tệ và thảm thương nhất trong mọi điều khổ cực. Tôi nhớ lại những lời của Đấng Xalômông vĩ đại mà có lần tôi được nghe cha tôi dạy: “Thà chui vào nhà mồ còn đỡ chán hơn là sống trong cảnh nghèo khó.” Thấm thía tất những điều suy ngẫm đó, tôi thu vén những gì gia tài của mình còn lại, đưa ra chợ bán đấu giá tất cả. Sau đó, tôi kết bạn với mấy nhà buôn đường biển. Tôi hỏi ý kiến những người mà tôi cho là có thể giúp được mình những lời khuyên nhủ tốt. Cuối cùng, tôi quyết định làm cho số tiền bạc còn lại của mình sinh lợi. Một khi đã định bụng, tôi thực hiện ngay, không chút chậm trễ.
Tôi đến Banxôra, ở đấy tôi cùng nhiều nhà buôn đáp xuống một chiếc tàu cùng nhau góp tiền thuê chung.
Chúng tôi giương buồm, lên đường đi về vùng đông Ấn Độ qua vịnh Ba Tư. Vịnh này nằm ở giữa, bên phải là bờ biển xứ A Rập Hạnh Phúc, bên trái là bờ biển nước Ba Tư. Chỗ rộng nhất theo ý kiến chung, ước chừng bảy mươi hải lý. Ra khỏi vịnh ấy là vào biển của xứ Lơ Văng, cũng gọi là biển Ấn Độ, rộng bao la. Bờ biển phía bên này là duyên hải nước Abxini. Muốn đến quần đảo Vácvác thì phải đi bốn nghìn năm trăm hải lý. Lúc đầu tôi khó chịu vì cái chứng người ta gọi là say sóng. Nhưng sức khỏe tôi bình phục ngay. Và từ đó trở đi, không bao giờ tôi còn bị say sóng nữa.
Dọc đường, chúng tôi ghé vào nhiều đảo để mua bán và đổi chác hàng hóa. Một hôm, tàu chúng tôi đang giương buồm chạy thì gió lặng làm tàu dừng lại trước một hòn đảo nhỏ chỉ cao là là mặt nước, có màu xanh tươi phủ trông giống như một bãi cỏ. Thuyền trưởng cho hạ buồm ghé tàu vào hòn đảo, và cho phép những người đi tàu được lên bờ. Tôi cùng một số người lên đảo.
Nhưng, trong lúc chúng tôi đang mải mê ăn uống vui chơi và nghỉ ngơi cho đỡ mệt vì sóng biển, thì hòn đảo đột nhiên rung động làm mọi người bị chao đảo mạnh.
Người ở lại trên tàu trông thấy kêu lên gọi chúng tôi hãy mau mau lên tàu, không thì sẽ chết mất. Vì cái mà chúng tôi tưởng là hòn đảo ấy thật ra là lưng một con cá voi. Những người nhanh chân nhất xô lên xuồng. Những người khác nhảy xuống biển bơi. Còn tôi, tôi đang còn ở trên đảo, hay nói cho đúng hơn là trên lưng con cá voi ấy thì nó đã ngụp xuống biển. Tôi chỉ kịp có đủ thời gian bám vào một mảnh gỗ đưa từ dưới tàu lên để làm củi đun. Trong thời gian ấy, viên thuyền trưởng sau khi đã đón lên tàu những người trong chiếc xuồng và vớt thêm được mấy người nữa đang bơi, muốn lợi dụng cơn gió mạnh và thuận chiều vừa mới nổi lên, liền ra lệnh giương buồm. Tôi mất hết hy vọng có thể kịp bơi tới chiếc tàu.
Thế là tôi bị dập vùi trong sóng biển, khi thì xô sang bên này, khi thì dạt sang phía kia, suốt ngày hôm ấy và cả đêm tiếp theo. Tôi giành với sóng để sống sót. Sáng hôm sau, tôi kiệt sức. Đã tuyệt vọng tưởng không thể nào thoát chết thì may mắn làm sao, một ngọn sóng xô tôi dạt lên một hòn đảo. Bờ biển cao và hiểm trở. Có lẽ tôi đã phải khó khăn lắm mới lên được tới bờ nếu không nhờ có mấy cái rễ cầy, mà hình như số phận đã dành ra đấy để cứu vớt tôi, giúp cho tôi có chỗ bấu víu. Tôi nằm dài ra mặt đất, và cứ như vậy gần như chết dở cho đến khi trời sáng hẳn và mặt trời lên.
Mặc dù người rất yếu mệt do phải vật lộn với sóng biển và trong bụng không có một chút gì kể từ ngày hôm trước, tôi vẫn cố lê đi tìm vài ngọn cỏ có thể ăn được. Tôi tìm được vài ba thứ, và may mắn gặp một con suối nước rất ngọt, góp phần làm cho tôi lại sức.
Sức khỏe trở lại rồi, tôi bước đi trên đảo, không theo đường sá nhất định nào. Tôi đi vào một đường đồng bằng đẹp và thấy một con ngựa đang gặm cỏ. Tôi bước về phía ấy, vừa sợ vừa mừng, bởi vì không rõ mình đến đấy để chuốc lấy cái chết vào thân hay là sẽ tìm được một cơ hội bảo toàn tính mệnh. Đến gần, tôi nhận rõ đấy là một con ngựa cái, buộc vào một cái cọc. Vẻ đẹp của nó làm cho tôi chú ý. Song trong khi đang ngắm, tôi nghe có tiếng đàn ông nói đâu đây, dường như ở dưới mặt đất. Một lát sau người ấy xuất hiện, tiến tới phía tôi và hỏi tôi là ai. Tôi kể lại chuyện không may của mình. Người ấy liền cầm tay tôi dắt vào trong một cái hang ở đấy có nhiều người khác nữa. Họ đều ngạc nhiên lúc trông thấy tôi, chẳng kém gì tôi kinh lạ khi trông thấy họ.
Tôi ăn mấy thức ăn do những người đó đưa cho. Tôi hỏi họ làm gì ở nơi có vẻ hoang vắng thế này. Họ đáp họ là những người chăn ngựa của vua Miragiơ[1] chúa tể đảo này. Mỗi năm cứ vào mùa này, họ quen lệ đưa các ngựa cái của vua đến đây và buộc vào cọc theo cách tôi vừa trông thấy kia để chờ một con hải mã từ dưới biển lên phủ. Sau khi phủ, hải mã thường ăn thịt ngựa cái. Nhưng bằng cách la hét thật to, họ sẽ đuổi nó trở về biển cả. Con ngựa cái thụ thai sẽ được đưa về nhà. Ngựa con do chúng đẻ ra, gọi là ngựa biển, sẽ để dành riêng cho nhà vua dùng. Họ nói thêm rằng họ định qua ngày hôm sau sẽ trở về. Nếu tôi đến chậm một ngày chắc chắn là tôi sẽ bỏ mạng ở đây, bởi vì dân cư ở rất xa, và tôi không thể nào tìm đến được tới nơi nếu không có người dẫn đường.
Trong khi họ đang nói chuyện với tôi như vậy, thì con hải mã từ biển lên. Đúng như lời họ nói, nó phủ lên con ngựa cái và sau đấy chuẩn bị ăn thịt con này. Nhưng nghe thấy những tiếng ầm ĩ do những người chăn ngựa gây nên, hải mã phải bỏ mồi trở xuống biển.
Ngày hôm sau, những người đó trên đường trở về thủ phủ của hòn đảo, mang theo đoàn ngựa cái. Tôi đi theo họ. Vừa đến nơi, tôi được gọi vào chầu vua Miragiơ. Vua hỏi tôi là ai và do đâu tôi đến được vương quốc này. Sau khi nghe tôi trình bày tường tận, nhà vua tỏ lời chia buồn với tôi về điều bất hạnh. Người ra lệnh cho triều thần săn sóc tôi và cung cấp cho tôi tất cả những thức gì cần thiết. Mệnh lệnh của vua được thực hiện chu đáo. Tôi chỉ còn biết ca ngợi lòng hào hiệp của nhà vua và sự nghiêm túc của bầy tôi Người trong việc thi hành mệnh lệnh.
Vì là nhà buôn, tôi năng lui tới chỗ những người cùng nghề. Tôi đặc biệt tìm kiếm những khách nước ngoài ở đây, vừa để hỏi thăm tin tức về Bátđa, vừa để tìm một người nào khả dĩ cùng mình sau đây trở về kinh thành ấy. Kinh đô của nhà vua Miragiơ nằm trên bờ biển và có một hải cảng đẹp, ngày nào cũng có tàu buôn của nhiều nước trên thế giới tới cập bến. Tôi cũng giao du với các nhà bác học Ấn Độ và được chuyện trò với họ. Tuy vậy, những việc ấy không cản trở tôi đến chầu vua đều đặn, hoặc là thăm viếng các thống đốc và các tiểu vương, chư hầu của vua Miragiơ thường có dịp gần gũi với Người. Họ hỏi rất nhiều về đất nước tôi. Về phần mình, muốn hiểu biết phong tục và luật pháp nước họ, tôi hỏi họ tất cả những gì mà tôi cho là đáng tìm hiểu.
Dưới quyền vua Miragiơ có một hòn đảo tên là Cátxen. Người quả quyết với tôi rằng đêm nào ở đấy cũng nghe có tiếng trống đồng, làm cho các thủy thủ đồn rằng thần Đêgian[2] sống ở chốn này. Tôi nảy ra ý muốn chứng kiến điều kỳ lạ ấy. Trong một chuyến đi đến đấy, tôi nhìn thấy những con cá dài từ một trăm đến hai trăm cánh tay[3]. Chúng làm cho con người kinh hãi nhiều hơn là gây hại vì chúng nhát tới mức ta chỉ cần gõ vào tấm ván cho có tiếng động là chúng đã trốn chạy. Tôi còn trông thấy, những con cá khác chỉ dài bằng một cánh tay thôi, nhưng đầu trông giống như đầu con cú vọ.
Một hôm trên đường về, tôi đang đứng ở cảng, vừa lúc một chiếc tàu cập bến. Buông neo xong, người ta bắt đầu bốc dỡ hàng hóa. Các nhà buôn chủ hàng cho chuyển các thứ của mình về kho. Đưa mắt nhìn một vài kiện hàng và những chữ viết bên trên, xem thử những thứ đó là của ai, tôi chợt thấy tên tôi. Sau khi xem xét kỹ tôi không nghi ngờ gì nữa, đây chính là những kiện hàng tôi đã xếp lên tàu khi khởi hành ở Banxôra. Tôi còn nhận ra cả viên thuyền trưởng. Bởi tôi nghĩ rằng chắc ông cho là tôi đã chết, cho nên khi tôi đến gần và hỏi ông những kiện hàng trông thấy kia thuộc về ai, ông ta liền đáp: “Trước đây trên tàu chúng tôi có một nhà buôn ở Bátđa tên là Xinbát. Một hôm chúng tôi đến gần một nơi trông như hòn đảo. Ông ta cùng với nhiều hành khách lên chơi trên cái nơi tưởng là hòn đảo ấy, kỳ thực là một con cá voi khổng lồ đang ngủ là là mặt nước. Nó vừa cảm thấy hơi nóng do lửa người ta đốt trên lưng nó để nấu ăn thì cựa mình và lặn ngay xuống biển. Phần lớn những người đang ở trên lưng nó đều chết đuối. Ông Xinbát đáng thương cũng nằm trong số đó. Những kiện hàng kia là của ông ta. Tôi định bán đi, chờ đến bao giờ có dịp gặp một người trong gia đình ông ta thì sẽ trao lại cả vốn lẫn lãi.”
- Thưa thuyền trưởng, – tôi liền nói – chính tôi là Xinbát đây. Người ông tưởng là đã chết nhưng thật ra là không phải. Những kiện hàng kia chính là tài sản và hàng hóa của tôi.
Thuyền trưởng nghe tôi nói vậy liền thốt lên: “Trời đất! Biết tin ai bây giờ? Con người thật không đáng tin nữa. Chính mắt tôi trông thấy Xinbát chết đuối, các hành khách trên tàu đều nhìn thấy như tôi, thế mà ông dám bảo chính ông là Xinbát? Cả gan làm sao! Nhìn bề ngoài, ông có vẻ một con người thật thà. Ấy thế mà ông lại trí trá khủng khiếp. Ông định chiếm đoạt những của cải không thuộc quyền sở hữu của mình ư?
- Xin ông hãy kiên nhẫn! – Tôi đáp lời thuyền trưởng – Xin hãy vui lòng nghe những điều tôi thưa với ông đây!
- Nào, ông muốn nói gì nào? Hãy nói đi, tôi xin nghe đây!
Tôi liền thuật lại tôi thoát chết bằng cách nào, tôi đã gặp những người chăn ngựa của vua Miragiơ và được họ đưa về triều đình ra sao.
Vừa nghe tôi nói, thuyền trưởng đã có vẻ nao núng. Chỉ lát sau, ông đã tin hẳn tôi không phải là một kẻ lừa đảo bởi vì có nhiều người cùng đi trên tàu ông cũng đến và đều nhận ra tôi. Họ chúc mừng và tỏ lòng vui thích được gặp lại. Cuối cùng, chính thuyền trưởng cũng nhận ra, ông bá lấy cổ tôi: “Tạ ơn Thượng đế đã cho ông may mắn thoát được một cơn hiểm nghèo to lớn như vậy! Tôi không có cách nào biểu lộ lòng vui mừng vô hạn được gặp lại ông. Tài sản của ông kia, ông hãy nhận lấy! Nó thuộc quyền ông, ông muốn làm gì xin hãy tùy ý.”
Tôi cảm ơn, ca ngợi sự trung hậu của thuyền trưởng. Để thừa nhận đức tính ấy, tôi xin ông nhận một vài thứ hàng hóa tôi biếu, song ông từ chối.
Tôi chọn những thứ quý nhất trong các kiện hàng của tôi, mang dâng tặng vua Miragiơ. Nhà vua vốn biết chuyện không may xảy đến cho tôi, liền hỏi tôi tìm đâu ra những vật hiếm như vậy. Tôi thuật lại do sự tình cờ như thế nào mà tôi thu hồi được của cải đã mất. Nhà vua cũng mừng cho tôi. Vua nhận tặng phẩm đồng thời cho lại tôi nhiều món quà có giá trị hơn nữa. Sau đó, tôi từ giã nhà vua và trở lại chiếc tàu cũ. Trước khi xuống tàu, tôi đổi những hàng hóa còn lại lấy hàng địa phương như trầm hương, đàn hương, long não, nhục đậu khấu, đinh hương, hồ tiêu và gừng. Tàu đi qua nhiều hòn đảo nữa, cuối cùng cập bến Banxôra. Tôi về thành phố này với hàng hóa trị giá khoảng một trăm nghìn đồng xơcanh.
Gia đình tôi ra đón. Tôi gặp lại người nhà, mừng vui hết sức, với tất cả tình cảm mãnh liệt và chân thành. Tôi mua nhiều nô lệ nam và nữ, tậu ruộng đất tốt và cho xây một ngôi nhà lớn. Tôi yên cư như vậy đó, định bụng sẽ quên tất cả những khổ ải đã trải qua, và hưởng thụ mọi niềm lạc thú ở đời cho đến già.
Xinbát ngừng lời ở đây, và truyền cho các nhạc công tiếp tục cuộc hòa nhạc mà ông đã làm gián đoạn khi kể lại câu chuyện của mình. Mọi người lại uống rượu và ăn cho đến chiều. Đến lúc chia tay, Xinbát sai mang đến một cái túi đựng một trăm đồng xơcanh đưa cho lão khuân vác và nói:
- Hinbát, bạn hãy cầm lấy, trở về nhà! Sáng mai xin trở lại đây nghe tôi kể nốt phần tiếp những cuộc phiêu bạt của tôi.
Lão khuân vác ra về, hết sức bối rối về vinh dự và món quà vừa nhận được. Lão thuật lại cho gia đình nghe. Vợ và các con lão đều cảm tạ Thượng đế đã ban cho điều tốt lành thông qua Xinbát.
Ngày hôm sau, Hinbát ăn vận sạch sẽ hơn hôm trước, trở lại nhà người đi biển hào phóng. Ông tươi cười tiếp đón lão với muôn nghìn cử chỉ thân ái. Các khách được mời đến đông đủ. Bàn tiệc dọn ra, mọi người ăn uống rất lâu. Tiệc tan, Xinbát lại cất lời thưa với tất cả: “Thưa quý ngài, xin quý ngài vui lòng nghe tiếp câu chuyện về những sự không may trong chuyến đi biển thứ hai của tôi. Nó còn xứng đáng với sự chú ý của quý vị hơn cả chuyến đi đầu.” Mọi người im lặng, Xinbát bắt đầu kể như sau:
CHUYẾN ĐI THỨ HAI CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN
Sau chuyến đi đầu tiên, tôi đã quyết định sẽ sống bình yên những ngày còn lại của đời mình ở Bátđa, như tôi đã được vinh dự thưa với các vị hôm qua. Nhưng chẳng bao lâu tôi đâm chán cuộc đời ăn không ngồi rồi. Sự ham muốn đi xa và buôn bán đường biển lại xâm chiếm lòng tôi. Tôi tìm mua những hàng hóa hợp với hướng buôn bán của mình, rồi lên đường một lần nữa cùng với các nhà buôn khác mà tôi quen biết và đã hiểu rõ tấm lòng ngay thật. Chúng tôi xuống một chiếc tàu tốt phó thác số phận mình cho Thượng đế, chúng tôi bắt đầu chuyến đi.Chúng tôi đi từ đảo này sang đảo khác và làm những cuộc đổi chác rất có lợi. Một hôm, tàu chúng tôi ghé vào một hòn đảo đầy cây ăn quả nhưng hoang vu. Chúng tôi đi hóng mát ở các bãi cỏ và men theo các con suối chảy qua bãi, mà không hề thấy một ngôi nhà hoặc một bóng người nào.
Trong lúc bọn chúng tôi người này hái hoa giải trí, người kia trảy quả làm vui, tôi lấy thức ăn và rượu nho mang theo. Tôi bày ra cạnh một dòng nước chảy giữa những cây to tỏa bóng mát. Ăn xong một bữa khá ngon lành, tôi buồn ngủ rũ cả người. Tôi không biết mình đã ngủ bao lâu, khi tỉnh dậy thì không còn chiếc tàu đậu ở bến nữa.
Rất ngạc nhiên, tôi đứng dậy nhìn khắp tứ phía. Chẳng còn thấy một nhà buôn nào lúc nãy cùng tôi lên hòn đảo này. Chỉ thấy xa xa thấp thoáng một con tàu giương buồm chạy, nhưng xa đến nỗi chỉ lát sau đã mất hút ngoài tầm mắt tôi.
Quý vị hãy tưởng tượng những ý nghĩ của tôi khi lâm vào một tình thế đáng buồn như vậy. Tôi tưởng có thể chết được vì đau khổ. Tôi thét lên những tiếng kinh khủng. Tôi bò lăn ra đất. Tôi nằm rất lâu như vậy, đầu óc thẫn thờ một mớ bòng bong những ý nghĩ chán ngán. Tôi trăm lần tự trách mình sao không chịu bằng lòng với chuyến đi đầu nó đáng làm cho tôi mãi mãi không còn ham muốn đi chuyến khác nữa. Nhưng mọi tiếc rẻ đều vô ích. Sự hối hận của tôi bấy giờ thật đã quá muộn màng.
Cuối cùng đành tuân theo ý Thượng đế vậy. Chẳng biết số phận mình rồi sẽ ra sao, tôi trèo lên một ngọn cây cao nhìn khắp bốn phía để xem thử có phát hiện được cái gì đưa lại chút hy vọng nào chăng. Nhìn ra phía biển, chỉ thấy có nước và trời. Nhưng nhìn về phía đất thấy có một vật gì trăng trắng. Tôi tụt xuống đất, thu góp những thức ăn còn lại, rồi đi về phía cái vật trắng ấy, vì nó ở quá xa cho nên tôi chưa nhận được rõ vật gì.
Đến một khoảng cách phải chăng, tôi nhận ra đấy là một cái khối hình cầu và to kỳ lạ. Tôi đến gần, sờ thấy nó nhẵn thín. Tôi đi vòng, xem có lối vào nào không nhưng chẳng thấy. Tôi đồ chừng không thể nào trèo lên được bởi vì nó trơn tuột. Chu vi của nó vào khoảng năm mươi bộ.
Lúc ấy mặt trời đã sắp lặn. Không gian đột nhiên tối sầm lại như một đám mây dày bao phủ. Nhưng nếu tôi ngạc nhiên vì bóng tối ấy, thì lại càng kinh hoàng hơn nhiều khi nhận ra sở dĩ có bóng tối ấy là do một con chim to lớn dị kỳ đang sải cánh bay về phía tôi. Tôi chọt nhớ đến chuyện một loài chim gọi là đại bàng mà tôi thường nghe các thủy thủ nói tới. Và tôi hiểu ra cái khối hình cầu to mà tôi vừa ngắm nghía ấy chắc hẳn là trứng của con chim này. Quả nhiên nó sà xuống và phủ lên trên như để ấp. Trông thấy nó đến, tôi vội nép thật sát vào quả trứng, thành ra ngay trước mặt tôi là một chân của con chim, chân to bằng cả một thân cây cổ thụ. Tôi tháo tấm vải vốn dùng để quấn làm chiếc khăn đội đầu, buộc mình thật chặt vào cái chân đó, với hy vọng là ngày hôm sau khi con chim lại cất cánh, nó sẽ đưa tôi ra khỏi hoang đảo này.
Đúng như vậy. Sau một đêm trong tư thế đó, trời vừa sáng chim đã bay bổng lên đưa tôi vút lên cao đến nỗi không nhìn thấy mặt đất. Sau đấy đột nhiên nó lao xuống rất nhanh, làm cho tôi gần như mê man. Khi con đại bàng hạ cánh và lao xuống đất, tôi mau chóng rút nút buộc khăn tách mình ra khỏi chân nó. Vừa xong, nó đã mổ một con rắn thật dài, cắp lấy và bay vút đi luôn.
Nơi con chim để tôi lại, là một thung lũng rất sâu, bốn bề bao bọc núi cao đến nỗi đỉnh khuất trong mây. Núi non quá hiểm trở thành ra không có một lối nào có thể vượt được. Đây lại là một sự lúng túng mới cho tôi. So sánh chỗ này với cái hoang đảo mà tôi vừa rời khỏi, tôi thấy chẳng được lợi gì hơn trong sự đánh đổi này.
Đi trong thung lũng ấy, tôi nhận thấy nó rải rác những kim cương, nhiều viên to một cách kỳ lạ. Tôi ngắm những thứ đó thật thích mắt. Song chỉ lát sau tôi trông thấy đằng xa những vật làm giảm bớt rất nhiều niềm vui thích ấy, và không thể nhìn mà không khiếp đảm. Đấy là một bầy ngồn ngộn những con rắn to và dài đến mức không con nào không đủ sức nuốt chửng cả một con voi. Ban ngày, chúng nó về hang để lẩn trốn chim đại bàng, kẻ thù của chúng, chỉ đêm tối mới bò ra.
Suốt ngày tôi đi thất thểu trong thung lũng, thỉnh thoảng nghỉ ngơi ở những chỗ thuận tiện nhất. Tuy nhiên mặt trời sắp lặn. Tôi vội rút vào cái hang mà tôi cho là an toàn. Lối vào đã thấp lại hẹp, tôi còn lăn phiến đá khá lớn lấp lại, không để cho rắn chui lọt, nhưng lại không quá khít để có thể cho chút ánh sáng. Tôi ăn một phần thức ăn mang theo trong tiếng động của những con rắn bắt đầu xuất hiện. Tiếng rít ghê tởm của chúng gây cho tôi nỗi kinh hoàng không bờ bến. Và như các vị có thể hiểu, làm sao tôi có thể ngủ yên đêm ấy. Sáng ra, các con rắn bỏ đi. Tôi run rẩy ra khỏi hang. Tôi có thể nói rằng bước chân giẫm lên kim cương mà lòng không hề có chút ham muốn. Cuối cùng tôi ngồi xuống nghỉ lấy hơi. Mặc dù lo âu, nhưng vì suốt đêm qua không chợp mắt, tôi ngủ thiếp đi sau khi dùng thêm một bữa nữa với những thức ăn mang theo. Tôi vừa chạp đi thì một vật gì rơi xuống cạnh gây nên tiếng động mạnh làm tôi tỉnh giấc, đó là một tảng thịt tươi lớn. Cùng lúc ấy tôi nhìn thấy nhiều tảng thịt khác lăn từ trên đỉnh núi xuống ở nhiều chỗ khác nhau.
Xưa nay, tôi vẫn cho chẳng qua là câu chuyện kể cho vui tai những điều mà nhiều lần được nghe các thủy thủ và những người khác nói về thung lũng kim cương. Và về chuyện một số nhà buôn tháo vát tìm cách lấy những viên ngọc quý ấy. Giờ tôi biết là họ nói đúng sự thật. Quả vậy, các nhà buôn ấy đến gần thung lũng này trong thời gian các chim ưng có con. Họ xả thịt, ném từng tảng lớn xuống thung lũng. Thịt rơi vào chỗ nào có kim cương thì kim cương dính vào. Chim ưng ở xứ này khỏe hơn nhiều so với những nơi khác. Chúng bổ nhào xuống những tảng thịt ấy, cắp mang về tổ trên đỉnh núi cao để làm mồi cho chim con. Thế là các nhà buôn chạy đến gần các tổ chim vừa chạy vừa la hét, xua chúng phải lánh đi để cho họ nhặt những viên kim cương dính vào tảng thịt. Họ phải dùng đến mẹo ấy, bởi vì không còn có cách nào khác để lấy kim cương từ dưới thung lũng sâu như vực thẳm không có lối nào xuống được.
Cho đến lúc ấy, tôi vẫn ngỡ là không thể có cách nào thoát ra khỏi cái thung lũng mà tôi đã coi như là mồ chôn mình. Nhưng tôi thay đổi ý kiến. Những điều vừa trông thấy gợi cho tôi nghĩ ra một cách để bảo toàn tính mạng.
Tôi bắt đầu nhặt những viên kim cương to nhất, bỏ đầy túi da vẫn dùng để đựng thức ăn mang theo. Sau đó tôi lấy tảng thịt trông có vẻ dài nhất buộc chặt xung quanh người bằng tấm vải vẫn cuộn làm khăn đội đầu. Trong hình dạng đó, tôi nằm sấp xuống đất, cái túi da buộc chặt vào thắt lưng sao cho không thể nào rơi được.
Tôi vừa mới nằm xuống trong tư thế ấy thì đàn chim ưng bay đến. Mỗi con cắp một tảng thịt mang đi. Con khỏe nhất cắp tôi cùng với tấm thịt cuộn quanh người, bay bổng lên tận tổ của nó trên đỉnh núi cao. Lúc ấy, các nhà buôn la hét to lên để cho chim sợ hãi. Khi con chim bắt buộc phải bỏ mồi lại rồi, một người chạy đến gần. Anh ta hốt hoảng khi trông thấy tôi. Tuy vậy, anh trấn tĩnh lại. Không hỏi do đâu tôi có mặt ở đây, anh lại bắt đầu sừng sộ, nói tại sao tôi chiếm đoạt tài sản của anh ta. Tôi đáp: “Bạn sẽ nói chuyện có tình cảm với tôi hơn nếu bạn biết rõ tôi hơn. Bạn hãy yên trí. Tôi có đủ số kim cương cho bạn và cho cả tôi nhiều hơn tất cả số của các nhà buôn kia cộng lại. Nếu họ có được viên nào thì cũng chỉ do ngẫu nhiên thôi, còn những viên tôi mang trong cái túi mà bạn trông thấy đây là do tự tôi đã chọn lấy được dưới thung lũng.” Vừa nói tôi vừa đưa cho anh ta xem.
Tôi chưa dứt lời thì những nhà buôn khác cũng xúm đến. Họ rất ngạc nhiên trông thấy tôi và càng ngạc nhiên hơn khi nghe tôi kể chuyện. Họ không những khen cái mẹo tôi nghĩ ra để tự cứu mình mà còn khâm phục hành động táo bạo quá mức mà tôi đã dám làm.
Họ đưa tôi về nơi họ cùng ở chung với nhau. Đến đây, tôi mở cái túi ra trước mặt họ. Mọi người đều kinh ngạc về cỡ lớn của các viên kim cương. Họ thú thật ở tất cả các triều đình mà họ đã từng được đến, chưa bao giờ họ trông thấy có một viên kim cương nào lớn gần bằng cỡ này.
Tôi yêu cầu nhà buôn chủ cái tổ chim ưng mà tôi được mang đến (bởi vì mỗi người đều có tổ riêng của mình), tha hồ chọn lấy phần của ông, muốn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Ông ta chỉ cần một viên thôi, mà lại lấy trong số những viên không lớn lắm. Khi tôi giục ông ta hãy lấy thêm, đừng sợ làm tôi thiệt, ông ta đáp: “Không, tôi rất thỏa mãn với viên này rồi. Nó khá quý giá đủ cho tôi từ nay về sau đỡ phải vất vả, đỡ phải lặn lội chân trời góc bể hòng kiếm ra một cái vốn nho nhỏ.”
Tôi ngủ lại đêm ấy với các nhà buôn. Tôi lại kể một lần nữa câu chuyện của mình để thỏa mãn những người chưa được nghe. Tôi không làm sao kiềm chế được nỗi vui mừng khi nghĩ rằng mình đã thoát khỏi những nỗi gian nguy vừa kể hầu quý vị. Tôi cảm thấy như mình vừa trải qua một giấc mơ. Tôi tin là không còn có gì phải sợ hãi nữa.
Các nhà buôn ném thịt xuống thung lũng đã nhiều ngày rồi. Ai nấy đều có vẻ bằng lòng với số kim cương mình kiếm được. Vì vậy ngày hôm sau tất cả chúng tôi cùng lên đường. Chúng tôi đi qua các ngọn núi cao có những con rắn dài kỳ lạ, mà chúng tôi may mắn tránh được. Chúng tôi đến cái cảng đầu tiên, từ đấy sang đảo Rôha, nơi mọc thứ cây mà người ta chiết xuất chất long não. Có cây to và sum suê đến mức một trăm người có thể dễ dàng nấp dưới bóng nó. Nhựa để làm long não tiết ra từ một cái hốc ở phần trên của thân cây, chảy vào một cái bình rồi đông lại. Đó là thứ mà ta gọi là long não. Lấy hết nhựa, cây sẽ khô đi và chết.
Trên hòn đảo ấy có tê giác. Đó là những con vật bé hơn con voi nhưng lớn hơn con trâu. Nó có một cái sừng trên mũi, sừng dài bằng một cánh tay. Cái sừng ấy rất cứng và có ngấn ở giữa. Trên sừng có những vệt trắng giống hình mặt người. Tê giác đánh nhau với voi, lấy sừng chọc thủng bụng voi. Nó có thể nhấc bổng cả con voi đội lên đầu. Nhưng vì máu và mỡ voi chảy xuống làm mù mắt nó, nó ngã ra đất, thế là – điều này chắc sẽ làm cho các vị ngạc nhiên – chim đại bàng đến, giơ móng quắp nhấc bổng cả đôi, đưa về cho con nó ăn thịt.
Tôi sẽ không nói thêm nhiều điều đặc sắc khác nữa của hòn đảo ấy, sợ làm quý vị chán tai. Ở đó, tôi đổi một vài viên kim cương lấy nhiều hàng hóa tốt. Từ đấy, qua nhiều thành phố buôn bán trên đất liền, chúng tôi đến Banxôra, từ đó trở về Bátđa.
Trước hết, tôi bố thí rộng rãi cho những người nghèo. Rồi tôi hưởng thụ xứng đáng phần lớn còn lại của những của cải vô hạn mà tôi đã mang về nhờ kiếm được sau khi trải qua xiết bao khổ ải.
Xinbát thuật lại chuyến đi thứ hai của ông như vậy đấy. Ông sai đưa cho Hinbát một trăm đồng xơcanh nữa và mời lão ngày hôm sau đến nghe kể tiếp chuyến đi thứ ba.
Khách khứa ra về. Ngày hôm sau vào đúng giờ hẹn đến đông đủ, kể cả lão khuân vác hầu như đã quên đi cảnh nghèo đói trước đây của mình. Mọi người lại ngồi vào bàn tiệc. Và sau bữa ăn, Xinbát xin mọi người hãy lắng nghe để ông thuật lại chi tiết về chuyến đi thứ ba của ông:
❀ ❀ ❀
[1] Một ông vua nổi tiếng trong nhiều chuyện kể của người A Rập (ND).
[2] Theo tín ngưỡng của người A Rập, Đêgian là thần chống lại Thượng đế.
[3] Cánh tay, sải tay là những đơn vị đo chiều dài cổ. Một cánh tay dài khoảng nửa mét (ND).