Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 511 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN NÀNG AMIN

❊ ❊ ❊

Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, để khỏi phải nhắc lại những điều mà bệ hạ đã rõ qua câu chuyện chị tôi vừa kể, tôi nói ngay rằng mẹ tôi sau khi tậu một cái nhà để sống riêng biệt cho qua những ngày góa bụa đã gả tôi cho một trong những người thừa kế giàu có nhất thành phố này. Tôi được mang theo làm của hồi môn tất cả tài sản mà thân phụ tôi để lại cho tôi.

Lấy nhau chưa được một năm thì chồng tôi mất, để lại cho tôi toàn bộ gia tài trị giá tới chín mươi chín nghìn đồng xơcanh. Lợi tức của riêng số tiền ấy cũng đã thừa đủ cho tôi sống một cách khá đàng hoàng, tuy nhiên, sáu tháng tang chồng vừa đoạn, tôi cho sắm mười bộ áo quần lộng lẫy khác nhau, tốn tới một nghìn đồng xơcanh một bộ. Đến cuối năm thì tôi bắt đầu chưng diện.

Một hôm, tôi ở nhà một mình, đang bận công việc trong gia đình thì được báo có một bà cụ muốn nói chuyện với tôi. Tôi cho mời vào. Đấy là một người tuổi đã khá cao. Bà cụ cúi hôn mặt đất để chào tôi, rồi vẫn quỳ mà nói: “Thưa bà, xin bà tha thứ cho tôi dám đường đột đến quấy rầy bà. Chính vì tin chắc vào lòng nhân hậu của bà cho nên tôi mới dám tự tiện như vậy. Thưa bà đáng kính, tôi xin nói rằng tôi có một đứa con gái mồ côi bố, hôm nay cháu lấy chồng, cháu và tôi đều là người nơi khác đến. Chúng tôi không hề quen biết ai trong thành phố này. Điều đó làm cho chúng tôi bối rối, bởi vì chúng tôi muốn tỏ cho họ hàng đông đúc bên thông gia của tôi thấy rằng chúng tôi không phải loại người khố rách áo ôm mà cũng có ít nhiều địa vị trong xã hội. Thưa bà nhân hậu, chính vì vậy mà nếu bà có lòng tốt cho chúng tôi được vinh hạnh đón tiếp bà trong lễ cưới của cháu, chúng tôi sẽ còn đội ơn bà. Có thể qua việc đó mà tỏ cho các bà họ hàng ở quê ra biết rằng, chúng tôi ở đây không phải bị coi như những kẻ cùng khổ, khi họ thấy một con người cao sang như bà lại hạ cố cho chúng tôi một vinh hạnh lớn lao. Nếu bà khước từ lời cầu xin của tôi thì than ôi! chúng tôi tủi nhục vô cùng, bởi vì không còn biết trông cậy vào đâu được nữa.”

Bà cụ tội nghiệp vừa nói vừa khóc, làm cho tôi đâm thương hại. Tôi nói: “Mẹ ạ, mẹ chớ có buồn. Tôi sẵn sàng vui lòng giúp mẹ điều mẹ nhờ. Mẹ hãy cho biết phải đi đến đâu, tôi cần có thời gian để mặc cho nó sạch sẽ một chút thôi.” Nghe tôi nói như vậy, bà cụ mừng rơn. Bà hôn chân tôi nhanh chóng đến nỗi không thể nào ngăn kịp. “Thưa bà nhân hậu, – cụ vừa nói vừa đứng lên – Thượng đế sẽ ban thưởng cho bà bởi lòng vàng bà đối với tôi. Thượng đế sẽ làm mãn nguyện bà như bà đã làm mãn nguyện chúng tôi. Giờ chưa đến lúc phiền đến bà. Tối nay mời bà đi theo tôi lúc nào tôi đến rước. Xin tạm biệt bà.”

Bà cụ vừa đi khỏi, tôi mặc bộ áo quần thích nhất, đeo một chuỗi ngọc lớn, vòng tay, nhẫn và một đôi hoa tai kim cương thuần khiết nhất, long lanh nhất. Tôi linh cảm thấy điều gì đó sắp xảy ra.

Trời vừa tối, bà cụ đã trở lại nhà tôi, vẻ mặt rất hớn hở. Bà hôn tay tôi và nói: “Thưa bà quý mến, các bà có họ hàng với con rể tôi cũng đều là những phu nhân có danh vọng ở thành phố này. Họ đã tề tựu đông đủ. Lúc nào bà thấy tiện, xin mời bà đi. Tôi sẵn sàng dẫn đường hầu bà.” Bà cụ và tôi đi ngay. Bà cụ đi trước, tôi theo sau cùng với nhiều nữ tì ăn mặc sạch sẽ. Chúng tôi đến một phố khá rộng, vừa mới quét dọn và tưới nước, và dừng lại trước một cổng lớn có nhiều đèn lồng soi sáng dòng chữ lớn sau đây được thếp vàng: Đây là nơi trú ngụ vĩnh viễn của các lạc thú và mừng vui.

Bà cụ gõ cửa. Có người ra mở ngay.

Người ta dẫn tôi vào một gian phòng lớn ở mé cuối sân, ở đây tôi được một phụ nữ trẻ tuổi sắc đẹp vô song ra tiếp. Sau khi ôm hôn tôi và mời tôi ngồi xuống cạnh nàng, trên một chiếc sập có đặt chiếc ngai bằng gỗ quý nạm kim cương, nàng nói:

- Thưa bà, người ta mời bà đến đây để dự lễ cưới, nhưng tôi hy vọng rằng lễ cưới này sẽ khác hẳn lễ cưới mà bà hình dung. Tôi có một ông anh khôi ngô tuấn tú và tài giỏi hơn tất cả mọi người. Anh tôi quá say mê sắc đẹp của bà. Anh tôi sẽ rất đau khổ nếu không được bà đoái thương. Anh tôi biết rõ địa vị của bà trong xã hội. Tôi có thể quả quyết rằng địa vị của anh tôi không phải là không xứng đáng để kết bạn với bà. Thưa bà, nếu những lời cầu xin của tôi có chút ảnh hưởng nào thì tôi xin góp lời cùng với anh trai tôi mà van bà đừng từ chối lời cầu hôn của anh tôi!

Từ khi chồng tôi qua đời, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ tái giá. Nhưng tôi không đủ sức khước từ lời cầu xin của một con người xinh đẹp dường này. Tôi im lặng và đỏ mặt. Nàng hiểu tôi đã bằng lòng liền vỗ tay ra hiệu. Một cánh cửa lập tức mở ra. Một chàng trai trẻ bước vào, vẻ đường bệ và duyên dáng đến nỗi tôi tự cho mình rất may mắn mới chinh phục được một chàng trai hay như vậy. Chàng ngồi xuống cạnh tôi. Qua lời trò chuyện, tôi nhận thấy phẩm giá của chàng còn cao hơn nhiều so với những gì cô em gái chàng vừa nói với tôi.

Khi nhận thấy hai chúng tôi đã bằng lòng nhau, nàng vỗ tay một lần nữa. Một pháp quan bước vào làm giấy giá thú, ký tên rồi bảo bốn người làm chứng đi theo cùng ký vào. Điều duy nhất mà người chồng mới đòi hỏi ở tôi là không được cho bất cứ một người đàn ông nào ngoài chồng được nhìn thấy mặt hay trò chuyện với tôi. Chàng thề rằng, chỉ cần thực hiện một điều kiện ấy thôi, tôi sẽ có đầy đủ lý do để hài lòng về chàng. Cuộc hôn nhân của hai chúng tôi tiến hành và kết thúc theo cách ấy. Hóa ra tôi lại là vai chính của đám cưới mà chỉ có mình tôi được mời đến dự.

Một tháng sau lễ cưới, vì cần một loại vải, tôi xin phép chồng tôi ra phố để mua. Được chàng cho phép, tôi chọn bà cụ mà tôi đã nói đến, vốn là người nhà, và hai ả nô tì của tôi cùng đi.

Đi đến phố các nhà buôn, bà cụ thưa với tôi: “Thưa bà chủ, biết bà cần mua một tấm lụa, tôi xin đưa bà đến nhà một người buôn trẻ. Anh ta có đủ loại hàng, bà đỡ phải mất công đi hiệu này qua hiệu khác. Tôi xin quả quyết rằng bà sẽ tìm thấy ở hiệu anh ta những thứ không nơi nào có.” Tôi để mặc cho bà già dẫn đi, vào cửa hiệu của một nhà buôn trẻ, người trông cũng khôi ngô. Tôi ngồi xuống và sai bà cụ bảo anh ta cho xem những thứ lụa tốt nhất anh ta có. Bà cụ muốn tự tôi hỏi lấy, nhưng tôi nói cho bà rõ, tôi không được nói chuyện với một người đàn ông nào khác ngoài chồng mình, tôi không được phép làm trái điều đó.

Gã nhà buôn đưa cho tôi xem nhiều loại vải. Tôi thấy một loại vừa ý hơn cả, liền sai hỏi xem anh ta định giá bao nhiêu. Gã trả lời bà cụ: “Tôi không bán nó lấy vàng, lấy bạc. Tôi sẽ xin dâng làm quà tặng nếu nàng vui lòng cho tôi hôn một cái lên má.”

Tôi truyền cho bà cụ bảo gã rằng, gã nói như vậy là xấc xược quá lắm đấy. Nhưng bà cụ không vâng lệnh mà lại nói rằng điều gã nhà buôn đòi hỏi ấy thật ra có quan trọng gì lắm đâu, chỉ việc đưa má ra thôi, thế là xong một việc. Tôi thích được tấm lụa quá cho nên cũng quá nhẹ dạ nghe theo lời khuyên của bà già. Bà cụ và hai ả nô tì đứng ra đằng trước che để khỏi ai trông thấy và tôi bỏ tấm mạng che mặt ra. Nhưng gã nhà buôn không hôn mà lại cắn vào má tôi đến bật máu.

Tôi đau đớn và kinh ngạc quá đến nỗi ngã xuống ngất đi hồi lâu, đủ thời giờ cho gã nhà buôn đóng cửa hiệu và chạy trốn. Tôi tỉnh lại thấy má đầm đìa những máu. Bà cụ và hai ả nô tì đã chú ý kéo tấm mạng che vết thương để bà con chạy lại không nhìn thấy mà chỉ cho là chẳng qua tôi bị một cơn choáng mệt thôi.

Bà cụ đi theo tôi hết sức lo lắng về việc xảy ra, cố gắng trấn an tôi. “Thưa bà chủ, – bà nói – xin bà tha thứ cho, chính già này là kẻ gây nên tai họa ấy. Già đưa bà đến nhà gã buôn ấy, bởi vì gã là người cùng quê với già. Già có bao giờ ngờ được hắn ta dám cả gan làm việc độc ác như vậy. Nhưng xin bà chớ buồn, và đừng để mất thì giờ. Chúng ta hãy trở về nhà ngay. Già sẽ cho bà một thứ thuốc chữa khỏi hoàn toàn nội trong ba ngày, không để lại một dấu vết nhỏ nào.” Cơn ngất làm tôi yếu đến nỗi gần như không bước đi nổi nữa. Tuy vậy tôi cũng về được nhà. Nhưng vừa tới buồng riêng, tôi lại ngã xuống ngất đi một lần nữa. Trong thời gian ấy, bà cụ đắp thuốc cho tôi hồi tỉnh và lên giường nằm.

Đêm đến, chồng tôi về, chàng nhận thấy đầu tôi trùm kín liền hỏi tôi làm sao vậy. Tôi đáp tôi bị cơn nhức đầu, hy vọng chàng chỉ hỏi đến thế thôi. Nhưng chàng cầm một cây nến soi và khi nhìn thấy má tôi bị thương, chàng lại hỏi: “Do đâu có vết thương này?” Mặc dù tội của tôi không lấy gì làm to lắm tôi vẫn không thể nào dám thú thật. Tôi cho rằng thú nhận việc ấy với chồng là không biết giữ lễ. Tôi đáp, trong khi chàng cho phép đi mua vải, một người vác gỗ đi qua sát vào người tôi trong một phố khá chật hẹp, đến nỗi một cây cào xây xát mặt, nhưng không có gì đáng ngại.

Cái lý lẽ ấy làm chồng tôi nổi giận. Chàng nói:

- Hành động ấy không thể nào không nghiêm trị. Sáng mai, ta sẽ ra lệnh cho cảnh sát trưởng bắt tất cả bọn khuân vác vô lại ấy và cho treo cổ tất cả.

Sợ chính mình là nguyên nhân gây nên cái chết của bao người vô tội, tôi nói với chàng:

- Thưa chàng, em sẽ rất không vui lòng nếu điều bất công ấy xảy ra. Xin chàng chớ có làm. Em sẽ không đáng được tha thứ nếu tại mình gây ra tai họa đó.

- Vậy thì bà hãy trả lời thành thật cho tôi rõ, – chàng lại nói – vì sao có vết thương trên má bà?

Tôi đáp rằng ấy là do sự vô ý của một người bán chổi cưỡi trên lưng một con lừa. Gã đi sau tôi, đầu quay sang phía khác, con lừa của gã xô vào người tôi mạnh quá làm tôi ngã xuống đập má vào một mảnh chai. Chồng tôi liền nói: “Nếu quả đúng như vậy thì sáng mai mặt trời chưa mọc, tể tướng Giafa đã được thông báo về sự hỗn láo này. Ông ta sẽ cho xử tử tất cả bọn bán chổi.”

- Nhân danh Thượng đế, – tôi ngắt lời chàng – em van chàng hãy tha thứ cho họ; họ không phải là thủ phạm đâu!

- Thế là thế nào, thưa bà? – chồng tôi thét. – Tôi nên tin lời nào? Bà hãy nói đi, ta muốn nghe sự thật từ miệng bà!

- Thưa ngài, em bị cơn chóng mặt và ngã xuống; sự việc có như vậy thôi.

Nghe đến đây, chồng tôi không còn kiên nhẫn được nữa, chàng thét lên: “A, những lời dối trá làm ta mất quá nhiều thời giờ rồi!” Chàng vỗ tay, ba tên nô lệ bước vào. “Chúng mày hãy lôi nó ra khỏi giường, – chàng nói – và căng ra chính giữa!” Bọn nô lệ thi hành mệnh lệnh. Trong khi một tên giữ đầu một tên giữ chân tôi, chàng sai tên thứ ba đi lấy một thanh gươm. Khi nó đưa đến, chàng bảo: “Chém đi! Hãy chặt người nó ra làm hai đoạn, rồi mang xác nó ném xuống sông Tigrơ làm mồi cho cá! Đấy là sự trừng phạt của ta đối với những kẻ được ta tin yêu nhưng lại bội bạc.” Thấy tên nô lệ do dự chưa vâng lệnh ngay, chàng nói tiếp: “Hãy chém đi chứ, tại sao mày dừng lại? Mày chờ đợi gì?”

- Thưa bà, – tên nô lệ lúc ấy liền bảo tôi – bà chỉ còn sống được giây lát nữa thôi. Bà hãy xem còn muốn được làm điều gì trước khi chết không?

Tôi xin được nói một lời. Lời yêu cầu ấy được chấp thuận. Tôi ngẩng đầu, âu yếm nhìn chồng và nói với chàng: “Than ôi! Cảnh ngộ em mới bi thảm làm sao! Em phải chết trong những ngày đẹp nhất của đời mình!” Tôi muốn nói nữa, nhưng nước mắt và hơi nấc làm tôi nghẹn lời. Điều đó không làm chồng tôi xúc động. Trái lại chàng còn mắng mỏ, tôi nghĩ có nói thêm nữa cũng vô ích thôi. Tôi đành chuyển sang cầu khẩn. Nhưng chàng vẫn không nghe, và truyền cho tên nô lệ cứ thi hành phận sự. Vừa lúc ấy bà cụ vốn là vú nuôi của chồng tôi chạy vào. Bà phủ phục dưới chân chàng và cố gắng khuyên giải: “Con ơi, xin con hãy nể công già đã nuôi nấng và dạy dỗ con, hãy vì già mà tha tội cho nàng. Con hãy nhớ sát nhân giả tử. Con sẽ làm hủy hoại thanh danh con và mất sự kính trọng của mọi người đối với con. Người ta sẽ chẳng ngần ngại gì mà chẳng nói vào nói ra về một cơn nóng giận gây nên cuộc đổ máu này!”

Bà cụ nói những lời đó với giọng hết sức xúc động, kèm theo nước mắt ròng ròng, gây ấn tượng mạnh mẽ đến chồng tôi. Chàng bảo vú già:

- Đã vậy thì, vì nể u, ta tha cho nó sống. Nhưng ta muốn rằng nó sẽ mang những dấu vết khiến nó đời đời phải nhớ tới tội lỗi của mình.

Nói đến đấy, chàng truyền cho một tên nô lệ cầm một chiếc roi xếp, lấy toàn lực quất vào hai bên sườn và trên ngực tôi không biết bao nhiêu roi. Chiếc roi ấy bóc da bóc thịt tôi đến nỗi tôi mê man bất tỉnh. Sau đấy, trong cơn giận dữ, chàng lại sai chính những tên nô lệ ấy mang tôi đến vứt vào một ngôi nhà. May ở đấy có bà cụ hết lòng chăm sóc chạy chữa cho tôi. Tôi nằm liệt giường bốn tháng. Cuối cùng tôi khỏi, nhưng những vết sẹo mà bệ hạ nhìn thấy hôm qua vẫn còn lại từ bấy đến giờ ngoài ý muốn của tôi.

Vừa đi lại và ra khỏi nhà được, tôi muốn trở về nhà chồng cũ. Nhưng đến nơi, tôi chỉ nhìn thấy một bãi đất trống. Chồng tôi trong cơn giận, không chỉ bằng lòng sai người triệt hạ nó mà còn san bằng tất cả dãy phố có nhà tôi. Sự cường bạo chưa từng thấy thật đấy, song tôi biết kiện ai? Người gây ra chuyện đã tính trước nên đã giấu tên, tôi không có cách gì biết rõ. Vả chăng, cho dù tôi có biết, thì tôi cũng phải thấy rằng, cách thức đối xử ấy chẳng phải bắt nguồn từ một quyền lực tuyệt đối đó sao? Làm sao tôi dám đi thưa kiện?

Buồn bã, trong tay không còn có gì, tôi đành trở về với chị gái Zôbêít thân yêu của tôi, người mà bệ hạ vừa nghe thuật chuyện. Tôi kể cho chị tôi nghe chuyện mình bị hắt hủi. Chị tiếp đón tôi với tấm lòng nhân hậu và nói: “Cuộc đời là như thế đấy, thông thường nó tước đoạt của ta tài sản, bạn bè hoặc người yêu, hoặc tất cả những thứ đó cùng một lúc.”

Đồng thời để chứng minh điều vừa nói, chị kể cho tôi nghe về cái chết của hoàng tử trẻ do sự ghen tuông của hai người chị ruột của chị gây nên. Chị lại kể cho tôi nghe tiếp chuyện hai người này bị hóa kiếp thành chó như thế nào. Sau khi hết lời an ủi vỗ về tôi, chị giới thiệu chị gái tôi cũng đã về đây ở với chị từ sau khi mẹ tôi qua đời.

Thế là, sau khi tạ ơn Thượng đế đã cho chị em chúng tôi đoàn tụ, chúng tôi quyết định ở vậy cùng nhau, từ nay không bao giờ xa nhau. Chúng tôi sống cuộc đời thanh bình như vậy đã lâu. Vì tôi được giao việc chi tiêu trong gia đình, tôi lấy làm thích thú tự mình đi mua sắm những thức ăn vật dụng cần thiết. Hôm qua, đi mua hàng, tôi nhờ một gã khuân vác đầu óc thông minh và tính tình dễ mến, đưa về nhà. Chúng tôi giữ anh lại chuyện vãn cho vui. Vào chập tối có ba khất sĩ đến xin chúng tôi cho nghỉ nhờ đến sáng hôm sau. Chúng tôi tiếp họ với một điều kiện mà họ chấp thuận. Sau khi được mời dùng bữa, họ mừng chúng tôi một bản hòa tấu theo cách của họ, thì chợt nghe tiếng gõ cửa. Đấy là ba nhà buôn ở Mútxun, người nào trông cũng rất chững chạc. Họ cũng yêu cầu chúng tôi một điều như các khất sĩ. Chúng tôi cũng đồng ý với cùng điều kiện ấy. Nhưng không một ai chịu tôn trọng điều kiện cả. Tuy nhiên. Mặc dù chúng tôi có đủ tư cách cũng như quyền lực trừng phạt họ về việc đó, chúng tôi chỉ đòi hỏi họ kể cho nghe chuyện về đời mình. Chúng tôi cũng chỉ hạn chế sự trả thù vào cái việc là sau đấy mời họ ra khỏi nhà, không cho phép họ được nghỉ nhờ cho đến sáng như họ yêu cầu lúc mới đến mà thôi.”

Hoàng đế Harun An-Rasít rất hài lòng về việc mình đã rõ cả những điều muốn biết. Vua công khai bày tỏ sự thích thú đối với những chuyện vừa nghe kể.

Sự hiếu kỳ đã được thỏa mãn, hoàng đế muốn tỏ rõ quyền uy và lòng hào hiệp của mình đối với ba khất sĩ hoàng tử và sự nhân từ đối với ba thiếu phụ. Không thông qua vai trò của tể tướng như thường lệ, vua tự mình truyền với nàng Zôbêít: “Thưa bà, bà tiên mà thoạt đầu bà phải tuân theo một luật lệ khắt khe, bà tiên ấy có nói cho bà rõ chỗ ở hay là có hứa hẹn sẽ lại gặp bà để khôi phục nguyên hình cho hai con chó cái kia không?”

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – nàng Zôbêít đáp – tôi quên chưa tâu để bệ hạ rõ là bà tiên ấy có trao cho tôi một nắm tóc nhỏ. Bà dặn rằng một ngày nào đó có thể tôi sẽ cần đến sự có mặt của bà. Lúc ấy tôi chỉ cần đốt cháy hai sợi tóc là bà sẽ đến ngay tức khắc, cho dù bà đang ở bên kia dãy núi Côcadơ.

- Mớ tóc ấy đâu rồi, thưa bà? – Hoàng đế lại hỏi.

Nàng đáp, từ dạo ấy nàng vẫn chú ý luôn luôn mang theo bên người. Quả vậy, nàng lấy mớ tóc ra, rồi hè tấm rèm cửa che giữa nàng và vua, nàng đưa cho Người. Hoàng đế nói: “Thế thì chúng ta hãy mời bà tiên đến đây. Bà làm việc đó lúc này đúng hơn lúc nào hết. Ta muốn như vậy.”

Nàng Zôbêít đồng ý. Người ta mang lửa đến. Nàng bỏ vào đó cả món tóc. Lập tức cung điện rung chuyển. Bà tiên hiện ra trước mặt hoàng đế dưới dạng một người đàn bà ăn mặc tuyệt đẹp. “Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – bà tiên nói – tôi sẵn sàng tuân lệnh bệ hạ. Bà vừa gọi tôi đến đây từng giúp tôi một việc quan trọng. Để biểu lộ lòng biết ơn, tôi đã trả thù hộ bà ta về sự bất nghĩa của hai chị gái bằng cách hóa kiếp chúng thành chó. Nhưng nếu bệ hạ muốn, tôi sẽ trả lại nguyên hình cho họ.”

- Hỡi tiên nữ xinh đẹp, – hoàng đế nói – bà sẽ làm cho ta hết sức vui lòng. Bà hãy ban cho họ cái ơn ấy. Tiếp đấy ta sẽ kiếm cách an ủi họ sau một thời gian bị trừng phạt quá nặng nề. Nhưng trước hết, ta còn có một điều nữa yêu cầu bà, hãy giúp cho người đàn bà bị một ông chồng không rõ tính danh đối xử hết sức thô bạo kia. Vì bà tinh thông mọi sự, chắc bà không thể không biết việc này. Xin bà hãy vui lòng nói cho ta rõ tên đứa dã man nào đã không những cho nô lệ đánh đập nàng một cách tàn bạo mà còn tước đoạt rất bất công tất cả tài sản của nàng. Ta lấy làm lạ sao một hành động bất công, vô nhân đạo, xúc phạm đến uy danh ta như vậy mà ta không hề hay biết.

Bà tiên đáp:

- Để làm vui lòng bệ hạ, tôi sẽ cho hai con chó cái trở lại nguyên hình. Tôi sẽ chữa cho người đàn bà này khỏi hẳn các vết sẹo, không còn cái gì tỏ ra là nàng đã từng bị đánh đập bao giờ. Sau đấy tôi sẽ tâu bệ hạ rõ tên họ kẻ nào đã hành hạ nàng như thế.

Hoàng đế cho người đến nhà nàng Zôbêít tìm hai con chó cái. Khi chúng được dẫn tới, theo yêu cầu của bà tiên, người ta mang đến một cốc nước đầy. Bà niệm những lời không ai nghe rõ, rồi đổ nước lên người nàng Amin và lên hai con chó cái. Hai con chó biến thành hai người phụ nữ xinh đẹp khác thường. Các vết sẹo trên người nàng Amin cũng biến mất. Tiếp đó, bà tiên tâu cùng hoàng đế: “Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, bây giờ chỉ còn có việc nói để bệ hạ rõ ai là ông chồng mà bệ hạ muốn tìm. Người đó rất gần gũi với bệ hạ, bởi vì đó chính là thái tử Amanh, con trai cả của bệ hạ, anh trai của hoàng tử Amun. Vì say mê đắm đuối người đàn bà này khi được nghe truyền tụng về sắc đẹp của nàng, chàng đã kiếm ra một cái cớ đánh lừa nàng đến nhà và cưới nàng làm vợ. Về trận đòn chàng sai đánh nàng, ít nhiều chàng cũng đáng được tha thứ. Vợ chàng đã hơi quá dễ tính, và những lời nàng đưa ra để biện bạch lại có thể làm cho người ta nghĩ rằng nàng đã sai lầm nặng hơn là sự thực. Đấy là tất cả những gì tôi có thể nói để thỏa mãn sự hiếu kỳ của bệ hạ.”

Nói đến đây, bà tiên chào hoàng đế rồi biến mất.

Nhà vua vô cùng khâm phục và hài lòng về những biến đổi vừa xảy ra nhờ có mình. Vua liền có những cử chỉ mà muôn đời về sau người ta vẫn còn nhắc đến. Thoạt tiên, vua cho gọi hoàng tử Amanh đến và bảo là Người đã rõ đám cưới bí mật của chàng, vua nói cho chàng rõ nguyên nhân gây nên vết thương trên má nàng Amin.

Hoàng tử không chờ vua cha phán bảo, chàng xin nhận lại vợ ngay tức khắc.

Sau đấy, hoàng đế tuyên bố nhận Zôbêít làm vợ. Vua lại gợi ý ba chị em kia nên lấy ba khất sĩ con vua. Họ rất biết ơn và nhận cưới ba nàng. Hoàng đế ban cho mỗi chàng một tòa lâu đài tráng lệ trong thành phố Bátđa và cất nhắc họ lên giữ những trách nhiệm cao sang trong nước. Vua cho họ tham dự các công việc cơ mật của triều đình. Viên đệ nhất pháp quan thành phố Bátđa được triệu đến cùng với những người làm chứng, lập các giấy giá thú. Và hoàng đế Harun An-Rasít trứ danh, người mang lại hạnh phúc cho bấy nhiêu người đã trải qua những bước gian truân không sao tưởng tượng nổi, được mọi người vô cùng ca ngợi và hàm ơn.

CHUYỆN XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN

Nàng Sêhêrazát kể:

- Tâu bệ hạ, vẫn dưới triều đại hoàng đế Harun An-Rasít, ở Bátđa có một người khuân vác già tên là Hinbát.

Một hôm thời tiết oi nồng, lão vác một kiện hàng rất nặng đưa từ đầu này đến đầu kia thành phố, đã thấm mệt mà đường thì vẫn còn xa. Lão đến một phố gió thổi mát rượi, vỉa hè tưới nước hoa hồng. Không thể ước mong được chỗ nào dễ chịu hơn để mà nghỉ ngơi và lấy lại sức, lão đặt kiện hàng xuống đất rồi ngồi lên trên, ngay cạnh một tòa nhà lớn. Trong chốc lát, lão lấy làm thú vị là đã dừng lại nghỉ chân ở chỗ này. Không khí ngào ngạt hương trầm tỏa ra từ các cửa sổ tòa dinh thự, quyện với mùi thơm của nước hoa hồng. Ngoài những thứ đó, lão còn nghe thấy trong nhà vang lên tiếng hòa nhạc. Thêm vào đó là tiếng hát du dương của rất nhiều chim họa mi cùng nhiều loại chim chóc khác đặc sản vùng Bátđa. Nhạc điệu êm đềm quyện với khói thơm của nhiều loại thịt bốc lên, làm cho lão đoán chắc trong nhà đang có yến tiệc và liên hoan. Lão muốn biết ai ở tòa nhà này. Lão chưa rõ lắm bởi vì ít khi có dịp đi qua đây. Để thỏa tính tò mò, lão đến gần mấy người đầy tớ ăn mặc rất đẹp đứng ở cổng và hỏi một người: chủ nhân của dinh thự này tên là gì. “Ở kìa! – Người đầy tớ đáp. – Bác sống ở Bátđa mà không biết rằng đây là nhà ngài Xinbát người đi biển, nhà hàng hải nổi tiếng đã đi khắp bốn biển năm châu đó ư?”

Lão khuân vác đã từng nghe nói đến tài sản giàu có của Xinbát. Lão không khỏi ganh tị một con người mà điều kiện sống sung sướng trái ngược hẳn với hoàn cảnh thảm thương của lão. Đầu óc cay cú vì những suy nghĩ ấy, lão ngước mắt nhìn trời và nói khá to để cho mọi người có thể nghe được: “Hỡi Đấng tạo hóa thiêng liêng, xin hãy nhìn sự khác biệt giữa Xinbát và tôi đây. Ngày nào tôi cũng chịu đựng muôn nghìn gian lao khổ cực, thế mà vất vả lắm mới nuôi sống được bản thân và gia đình bằng bánh mì đen nuốt không nổi, trong khi ngài Xinbát may mắn kia thì tiêu phí vô vàn của cải và sống một cuộc đời nhung lụa. Ông ta đã làm gì để được cuộc đời êm đềm như vậy? Tôi đã làm gì để chịu cảnh khốn khổ thế này?”

Nói xong giẫm chân xuống đất thình thịch như thể một con người hoàn toàn mất trí vì khổ đau và tuyệt vọng.

Hinbát đang mải mê với những ý nghĩ sầu não ấy, thì một người hầu từ trong dinh ra, đến nắm cánh tay lão và nói: “Mời bác đi theo tôi vào đây. Ngài Xinbát chủ tôi muốn nói chuyện với bác.”

Hinbát không khỏi kinh ngạc về lời mời mọc đó. Sau những điều lão vừa thốt ra, lão có lý do để sợ rằng Xinbát sai mời lão vào nhà nhằm gây chuyện lôi thôi gì chăng. Bởi vậy lão muốn thoái thác, viện cớ là không thể bỏ hàng lại giữa phố mà đi. Nhưng người hầu của Xinbát quả quyết với lão rằng sẽ có người trông nom hộ. Anh ta hối thúc lão và buộc lòng lão phải chiều theo.

Người hầu đưa lão vào một gian phòng lớn. Ở đây đã có khá đông người ngồi quanh một bàn tiệc dọn đầy các loại thức ăn ngon. Ở chỗ ngồi danh dự là một nhân vật sang trọng, quắc thước, có bộ râu dài đáng kính. Sau ông là đám gia nhân tôi tớ lăng xăng hầu hạ. Nhân vật ấy chính là Xinbát. Lão khuân vác càng thêm bối rối khi trông thấy toàn là người sang trọng với cỗ bàn linh đình. Lão vừa vái chào vừa run.

Xinbát bảo lão đến gần, mời lão ngồi xuống bên phải mình. Ông tự tay lấy thức ăn mời lão ăn và rót mời lão uống một thứ rượu hảo hạng xếp đầy trong tủ rượu.

Cuối bữa khi nhận thấy khách khứa đã no say, Xinbát liền cất lời nói với Hinbát. Ông gọi lão khuân vác là “người anh em” theo phong tục của người A Rập khi nói chuyện thân mật với nhau. Ông hỏi lão người ở đâu, tên họ là chi và làm nghề nghiệp gì.

- Thưa ngài, tôi tên là Hinbát.

- Ta rất sung sướng được gặp người anh em. Ta tin rằng tất cả các vị có mặt ở đây hôm nay cũng đều vui thích về việc đó. Song ta muốn được nghe người anh em lặp lại câu vừa nói lúc nãy ở ngoài đường.

Nghe vậy, Hinbát vô cùng bối rối. Lão cúi đầu đáp:

- Thưa ngài, tôi xin thú thật là vì quá mệt nhọc cho nên có phát bẳn, lỡ lời bật ra mấy câu không được đúng đắn. Mong ngài hãy lượng tình tha thứ cho.

- Ồ, xin người anh em chớ nghĩ rằng ta bất công đến mức còn để bụng cái việc ấy! – Xinbát đáp. – Ta thông cảm với tình cảnh của bạn. Ta không những không trách móc mà còn phàn nàn cho bạn nữa.

Nhưng ta cần làm cho bạn thoát khỏi một sai lầm. Ta cho là hình như bạn cho rằng ta tạo nên được tất cả mọi tiện nghi và cuộc sống nhàn hạ mà bạn trông thấy đây không chút gian nan vất vả, không tốn sức lao động. Bạn chớ có nhầm. Ta chỉ đạt đến hoàn cảnh sung túc như ngày nay sau khi đã phải trải qua bao nhiêu năm tháng chịu đựng tất cả những nỗi khó nhọc về thể xác cũng như về tinh thần quá sức tưởng tượng của con người. Vâng, thưa các ngài, – ông nói với toàn thể khách dự tiệc – tôi có thể quả quyết với các ngài rằng những nỗi khó nhọc ấy kỳ lạ quá mức, đến nỗi có thể làm cho những kẻ hám của cải giàu sang nhất cũng phải tiêu tan cái ý muốn tai hại là vượt biển tìm vàng. Có lẽ các ngài chỉ được nghe một cách mơ hồ về những cuộc phiêu lưu quái dị và những nỗi hiểm nghèo tôi đã trải qua trên khắp bốn biển năm châu trong bảy chuyến đi của mình. Hôm nay gặp dịp tốt, tôi xin thuật lại trung thực để các ngài nghe. Tôi nghĩ các ngài sẽ không đến nỗi phải chán tai.

Vì Xinbát muốn kể chuyện của mình, đặc biệt cho lão khuân vác nghe, cho nên trước khi bắt đầu, ông truyền cho gia nhân mang kiện hàng của lão để lại ở giữa phố đến nơi lão có trách nhiệm phải đưa đến. Tiếp đó, ông kể chuyện mình bằng những lời lẽ như sau:

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.