Trong khi công chúa thay áo, ba hoàng tử rời phòng nàng đến quỳ lạy trước ngai vàng chào vua. Nhà vua đã được viên trưởng hoạn nô của công chúa trình bày, các hoàng tử đã trở về mà không báo trước và đã chữa khỏi bệnh cho công chúa bằng cách nào. Vua ôm hôn các con vui mừng khôn xiết, bởi cùng một lúc vừa thấy họ trở về vừa hay tin công chúa mà vua quý như chính con gái đẻ của mình, đã bình phục sức khỏe một cách kỳ diệu, sau khi tất cả các thầy lang đều đã bó tay.
Sau những lời chào hỏi, chúc tụng lẫn nhau như thường lệ, từng hoàng tử trình lên vua báu vật họ mang về. Hoàng tử Hutxanh trình tấm thảm, mà chàng đã cẩn thận mang theo khi ra khỏi buồng công chúa; hoàng tủ Ali, chiếc ống bằng ngà voi; và hoàng tử Atmét, quả táo nhân tạo. Sau khi mỗi người giới thiệu đặc tính báu vật của mình dâng tận tay cha, họ cùng xin Người cho biết, vật nào quý hơn cả. Và làm như vậy cũng tức là tuyên bố gả nàng công chúa Nurunniha cho ai, như lời hứa của Người đã hứa năm trước.
Vua nước Ấn Độ, sau khi hiền từ lắng tai nghe các hoàng tử trình bày hết mọi đặc tính hay ho của những báu vật họ mang về mà không ngắt lời, mà chính vua cũng đã nhìn thấy rõ qua việc họ cùng chữa bệnh cho công chúa, im lặng hồi lâu, như thể đang suy nghĩ xem nên trả lời thế nào. Cuối cùng, vua cất tiếng, nói lên những lời khôn khéo sau đây:
- Các con à, nếu cha có thể làm một cách công minh, thì cha đã tuyên bố con nào được rồi. Nhưng, tự các con hãy xem xét cha có thể làm như vậy được hay chăng. Hoàng tử Atmét à, đúng là công chúa cháu gái cha nhờ có quả táo nhân tạo con mang về mà lành bệnh; nhưng ta hỏi con, con có thể chữa bệnh cho em con được chăng nếu trước đó không nhờ có cái ống ngà voi của hoàng tử Ali cho biết em con đang mắc bệnh hiểm nghèo, và nếu không có tấm thảm của hoàng tử Hutxanh kịp đưa con về để cứu em con chóng vánh như vậy? Còn con, hoàng tử Ali à, nhờ có cái ống bằng ngà voi của con, ba anh em con mới được biết công chúa sắp qua đời, và như vậy, phải nhận rằng em con chịu ơn con nhiều lắm. Nhưng con cũng phải nhận rằng, biết như vậy cũng bằng vô ích thôi, nếu không có quả táo nhân tạo và tấm thảm bay. Và cuối cùng, hoàng tử Hutxanh con cả của ta ơi, công chúa sẽ là một người vong ân bội nghĩa nếu không tỏ rõ lòng chịu ơn con vì tấm thảm, nó rất cần thiết để cứu sống em. Nhưng, con cũng phải nhận rằng, nó sẽ chẳng có tác dụng gì vào chuyện ấy, nếu như không nhờ cái ống ngà voi của hoàng tử Ali cho biết rằng em con đang bị bệnh, và không có quả táo nhân tạo của hoàng tử Atmét để chữa cho em con lành. Như vậy là cả tấm thảm bay, cái ống ngà voi và quả táo nhân tạo, không vật nào có tác dụng hơn vật nào mà ngược lại, đều có phần đóng góp bằng nhau, cho nên cha không thể gả công chúa Nurunniha cho bất cứ một người nào. Và tự các con cũng thấy đấy, kết quả duy nhất mà các con mang về sau chuyến đi, là vinh hạnh được góp phần ngang nhau trong việc phục hồi sức khỏe cho công chúa.
Nếu quả đúng như vậy, – nhà vua nói tiếp – các con hẳn đều thấy rằng cha phải tìm một con đường khác để đi tới quyết định chọn một người nào đó trong ba con. Vì cũng còn lâu mới đến tối, cha muốn làm việc đó ngay bây giờ. Vậy thì các con hãy đi đi, hãy cầm lấy cung tên và đi ra ngoài thành phố, tới bãi quần ngựa. Cha cũng sửa soạn đi tới đó ngay; cha tuyên bố sẽ gả công chúa Nurunniha cho người nào trong các con bắn tên đi xa nhất.
Ngoài ra, cha không quên cảm ơn tất cả ba con nói chung và riêng từng con một, về những tặng phẩm mang về cho cha. Cha có rất nhiều báu vật, song không có một thứ nào có thể sánh với sự độc đáo của tấm thảm bay, cái ống ngà voi và quả táo nhân tạo. Ba vật này làm giàu thêm kho báu của cha, và sẽ cùng giữ vị trí hàng đầu. Cha sẽ giữ gìn trân trọng các vật đó không phải chỉ vì sự hiếu kỳ, mà còn vì tác dụng có lợi nhiều mặt của nó.
Ba hoàng tử chẳng có gì để thưa lại về quyết định vừa rồi của nhà vua. Khi họ bước ra khỏi cung, người ta đưa cho mỗi người một cái cung và một mũi tên. Các hoàng tử giao cung tên lại cho một trong số quan hầu của mình vừa tụ tập lại khi nghe tin họ đã trở về, rồi cùng nhau đến bãi quần ngựa, ở đây đã có một đám dân chúng theo xem, đông không thể nào kể xiết.
Nhà vua cũng không để mọi người phải chờ lâu. Vua vừa tới nơi, hoàng tử Hutxanh với tư cách con cả, cầm cung tên và bắt đầu. Kế đó là hoàng tử Ali, mũi tên của chàng bay xa hơn tên của hoàng tử Hutxanh. Hoàng tử Atmét bắn sau cùng, song mũi tên của chàng mất hút chẳng ai nhìn thấy đâu. Người ta xô tới, người ta tìm kiếm, nhưng cho dù cần mẫn đến mấy, và bản thân hoàng tử Atmét cũng chịu khó tìm nữa, vẫn không thấy mũi tên ở đâu, dù xa dù gần. Có thể nghĩ rằng chàng là người bắn đi xa nhất, và như vậy là xứng đáng được lấy công chúa Nurunniha. Tuy nhiên cần phải tìm cho thấy mũi tên thì mới coi như sự việc rõ ràng và chắc chắn. Chàng phân phô đến thế nào nhà vua vẫn một mực cho hoàng tử Ali thắng cuộc. Thế là nhà vua truyền cho chuẩn bị thật trọng thể, và ít lâu sau, lễ thành hôn được tổ chức hết mực huy hoàng.
Hoàng tử Hutxanh không dự lễ ấy. Vốn say mê công chúa Nurunniha rất chân thành, tha thiết chàng cảm thấy không đủ kiên nhẫn chịu đựng nỗi đau buồn thấy nàng thành thân với hoàng tử Ali, mà chàng cho là, so với mình, không xứng đáng hơn, cũng như không phải yêu nàng trọn vẹn hơn. Hơn nữa, chàng còn cảm thấy buồn chán đến nỗi rời bỏ triều đình, khước từ quyền thừa kế ngai vàng. Chàng bỏ đi tu theo một dòng tu có rất đông người theo, nổi tiếng về đạo đức mẫu mực, sống xa lánh cuộc đời.
Cùng một nguyên nhân giống như hoàng tử Hutxanh, hoàng tử Atmét không dự lễ thành hôn của hoàng tử Ali và công chúa Nurunniha. Nhưng chàng không từ bỏ cuộc đời như người anh cả. Vì không làm sao hiểu nổi do đâu mũi tên chàng bắn đi mất tăm, chàng quyết định giấu người nhà, một mình đi tìm, để tự mình khỏi áy náy. Chàng tới nơi đã nhặt được hai mũi tên của hoàng tử Hutxanh và hoàng tử Ali bắn. Từ chỗ ấy, cứ nhằm phía trước mà đi, mắt chăm chú nhìn sang bên trái bên phải, chàng đi thật xa mà vẫn không tìm thấy, sắp tới lúc nghĩ rằng mình đến vất vả vô ích mà thôi. Tuy nhiên, mặc dù không muốn, chàng vẫn tiếp tục bước đi đến tận những lèn đá rất cao, mà muốn đi xa hơn nữa thì chỉ có thể đi vòng chứ không vượt qua núi được. Những núi đá hiểm trở này ở vào một nơi cằn cỗi, cách nơi chàng bắt đầu ra đi chừng bốn dặm.
Tới gần dãy núi đá, hoàng tử Atmét chọt trông thấy một mũi tên. Nhặt lên, xem xét, chàng cực kỳ ngạc nhiên thấy đúng là mũi tên mình đã bắn. “Đúng nó đây rồi, -chàng nghĩ thầm – nhưng không riêng ta mà bất kỳ người nào sống trên đời này cũng không đủ sức bắn tên đi xa như vậy.” Vì thấy nó nằm ngang chứ không cắm mũi vào đất, chàng nghĩ hẳn nó va vào đá và rồi bay trở lại. Chàng lại tự bảo: “Hẳn có điều gì bí ẩn trong một việc kỳ dị thế này, và điều bí ẩn ấy chỉ có thể có lợi cho ta mà thôi. Số mệnh, sau khi làm cho ta đau khổ bằng cách tước đoạt mất một người mà ta hy vọng sẽ làm nên hạnh phúc cả đời mình, nay có lẽ dành một vật khác để an ủi ta chăng.”
Suy nghĩ như vậy rồi, vì dãy núi đá chỗ thì nhô ra chỗ thì thụt vào thành hẻm, hoàng tử liền đi sâu vào một trong những hẻm ấy. Đưa mắt nhìn các ngóc ngách, chợt chàng trông thấy một cánh cửa bằng sắt, có vẻ như không khóa. Chàng sợ cánh cửa đóng chặt, nhưng vừa đẩy, nó đã mở vào bên trong, để hiện ra một lối xuống thoai thoải, không có bậc cấp. Chàng theo đó đi xuống, tay vẫn cầm mũi tên. Chàng ngỡ mình sắp vào một nơi tối om, nhưng chẳng mấy chốc lại có ánh sáng, khác hẳn thứ ánh sáng ngoài trời. Đi chừng năm, sáu mươi bước vào một quãng rộng, chàng nhận thấy một tòa lâu đài tráng lệ, mà chàng cũng chẳng kịp có thời giờ để ngắm nghía cách kiến trúc rất đẹp. Quả vậy, vừa lúc ấy, một người đàn bà vẻ người và dáng đi đường bệ, đẹp đến mức những xiêm y sang trọng nàng đang mặc cùng những ngọc ngà châu báu đang đeo trên người cũng chẳng làm tôn thêm được một chút gì, bước ra tiền sảnh, theo sau là một đám đông phụ nữ cũng đẹp cũng sang đến khó phân biệt ai là bà chủ.
Vừa trông thấy người đàn bà, hoàng tử Atmét rảo bước tới định làm lễ chào. Về phần nàng, thấy chàng bước tới, nàng vội cất cao giọng chào trước:
- Thưa hoàng tử Atmét, mời chàng tiến vào, chúng tôi xin nghênh tiếp.
Hoàng tử không khỏi kinh ngạc khi nghe gọi đúng tên mình ở một xứ chưa bao giờ mình nghe ai nói tới, tuy là ở sát bên kinh đô của phụ vương, chàng không hiểu do đâu người đàn bà không quen này lại biết chàng. Cuối cùng, tới gần, chàng quỳ gối thi lễ rồi đứng lên nói:
- Thưa bà, tôi sợ mình đã thiếu cẩn trọng khi, vì hiếu kỳ, mà dấn bước vào một nơi chưa quen biết, xin hết lòng cảm tạ bà đã ngỏ lời hoan nghênh. Nhưng không rõ tôi có thiếu lịch sự hay không, khi dám hỏi do đâu bà biết tôi, mà bà vừa gọi đúng tên, trong khi mãi đến bây giờ tôi mới được biết bà, dù chúng ta ở khá gần nhau?
- Thưa hoàng tử, – người đàn bà đáp – xin mời chàng quá bộ vào phòng khách, để cho chàng cũng như tôi cùng được thoải mái hơn. Rồi tôi sẽ trả lời câu hỏi của chàng.
Nói xong, nàng tiến lên trước, dẫn chàng vào một phòng khách. Cách kiến trúc kỳ diệu, trần uốn thành vòm được trang trí bằng vàng và sơn màu thanh thiên, bàn ghế cực kỳ quý giá; tất cả những thứ đó đối với chàng mới mẻ và đáng phục đến nỗi chàng thốt lên là chưa bao giờ nhìn thấy một phòng khách đẹp thế này, và không sao tin được là có một nơi nào khác sánh bằng. Nàng nói:
- Tuy vậy, tôi xin thưa rằng đây là căn buồng kém nhất trong cung của tôi. Hẳn chàng sẽ đồng ý như vậy sau khi xem qua tất cả các phòng.
Nàng bước vào phòng khách, ngồi lên một trường kỷ, mời chàng ngồi xuống bên cạnh, rồi nói:
- Thưa hoàng tử, chàng ngạc nhiên sao tôi biết chàng mà chàng lại chưa biết tôi. Một khi chàng đã rõ tôi là ai thì sẽ không còn lấy làm lạ nữa. Hẳn chàng chẳng lạ chi một điều, mà tôn giáo của chàng hằng dạy bảo, ấy là trên thế gian này có người mà cũng có cả thần linh. Tôi là con gái của một trong những thần linh nổi tiếng và có pháp thuật cao cường nhất. Tên tôi là Pari Banu. Như vậy, hẳn chàng hết ngạc nhiên vì sao tôi biết chàng, phụ vương chàng, các hoàng tử và cả công chúa Nurunniha. Tôi biết rõ mối tình cũng như chuyến đi của chàng, mà tôi có thể thuật lại đúng mọi chi tiết, vì chính tôi đã sai người mang bán quả táo nhân tạo mà chàng mua được ở Xamacăng, cũng như tấm thảm bay mà hoàng tử Hutxanh tậu ở Bixnaga, cùng cái ống bằng ngà voi mà hoàng tử Ali mang về từ Sirazơ. Chừng ấy đủ để chàng hiểu rằng không có việc gì liên quan tới chàng mà tôi không hay biết. Duy có mỗi điều tôi nói thêm, là tôi thấy chàng xứng đáng với một số mệnh được hưởng hạnh phúc lớn hơn là kết hôn cùng công chúa Nurunniha. Để được như vậy, lúc chàng bắn mũi tên mà chàng đang cầm ở tay kia, tôi có mặt ở trường bắn. Biết trước nó không thể bay xa hơn mũi tên của hoàng tử Hutxanh bắn, tôi đã hất tung nó lên trời và đẩy nó bay tới tận núi đá, ở chỗ chàng vừa tìm lại được. Giờ chỉ còn tùy thuộc ở chàng có lợi dụng cơ hội đó để được hạnh phúc hơn hay không mà thôi.
Vì tiên nữ Pari Banu nói câu cuối này với một giọng khác hẳn, vừa nói vừa âu yếm nhìn hoàng tử Atmét rồi đỏ mặt ngó xuống, chàng chẳng khó khăn gì mà không hiểu được nàng nói đến hạnh phúc nào. Chàng nhận ra ngay, giờ đây công chúa Nurunniha không còn có thể thuộc về mình nữa, mà tiên nữ Pari Banu thì vô vàn hơn hẳn về nhan sắc, xiêm y, đồ trang sức cũng như trí thông minh siêu việt và của cải vô biên. Chỉ nhìn qua sự tráng lệ của cung điện này đã đủ rõ. Chàng cảm tạ cái lúc chợt nảy ra ý nghĩ đi tìm lại một lần thứ hai mũi tên đã bắn. Chợt cảm thấy dấy lên trong lòng tình cảm ấm nồng đối với người mới gặp, chàng nói:
- Tôi sẽ tự cho mình là người trần thế hạnh phúc nhất trên đời, nếu như suốt đời được làm kẻ nô lệ của bà, được mãi mãi ngắm dung nhan kiều diễm đang làm tôi mê mẩn. Xin hãy tha thứ cho tôi dám bạo gan ngỏ lời khẩn cầu ấy, và xin chớ khước từ không cho một hoàng tử tha thiết với bà như tôi được tiếp cận.
- Thưa hoàng tử, xưa nay tôi vẫn được cha mẹ cho phép hoàn toàn làm chủ mọi quyết định của mình. Vì vậy tôi không nhận hoàng tử tiếp cận gia đình tôi như một người nô lệ, mà như chủ nhân của con người tôi, của tất cả những gì tôi có và có thể có, nếu chàng đồng ý thề lấy tôi làm vợ. Tôi hy vọng chàng không cho rằng tôi là phụ nữ mà nói điều ấy ra trước, là thiếu tế nhị. Tôi đã nói là tôi được làm chủ mọi quyết định của mình. Xin nói thêm, các tiên nữ xử sự với đàn ông không giống như thái độ thường tình của đàn bà nơi trần giới, ở đó phụ nữ vốn không có thói quen tỏ tình trước, cho rằng làm như vậy là một điều đáng hổ thẹn. Các tiên nữ chúng tôi thì nghĩ thế nào tự mình nói ra trước thế ấy, và người ta phải biết ơn chúng tôi về việc đó.
Hoàng tử Atmét lặng yên không đáp lời tiên nữ vừa nói. Chàng nghĩ không có cách gì tỏ rõ lòng cảm kích sâu sắc của mình hơn là tiến tới hôn gấu áo nàng. Tiên nữ không để cho chàng kịp làm. Nàng chìa tay cho chàng hôn. Chàng liền nắm lấy, siết chặt và đặt môi lên. Tiên nữ hỏi:
- Hoàng tử Atmét, chàng có đồng ý thề, cũng như em thề không, là chúng ta sẽ thành hôn?
- Ôi! Thưa bà, – hoàng tử Atmét mừng rỡ nói – còn gì có thể làm cho tôi thích thú hơn việc đó. Vâng, hỡi bà hoàng của tôi, tôi xin thề hiến dâng trọn vẹn trái tim của tôi cho nàng.
- Nếu như vậy thì chàng là chồng em và em là vợ chàng. Trong tiên giới chúng tôi, các cuộc hôn nhân chỉ có vậy thôi, chẳng có nghi lễ gì khác. Nhưng nó dứt khoát và không bao giờ tan vỡ như ở dưới trần, dù ở dưới ấy, có thêm thắt nhiều nghi thức rườm rà. Bây giờ, – nàng nói tiếp, – trong khi người ta sửa soạn tiệc cưới của chúng mình tối hôm nay, mà không thì có vẻ suốt ngày chưa uống ăn gì, xin mời chàng dùng tạm một bữa nhẹ. Sau đó mời chàng đi xem thử ý kiến của em nói rằng căn phòng này là gian kém nhất trong nhà có đúng hay không.
Một vài người hầu của tiên nữ có mặt trong phòng khách lúc ấy, hiểu rõ ý muốn của chủ, liền đi ra, và lát sau trở lại mang vào một số món ăn nhẹ cùng rượu tuyệt vời.
Sau khi hoàng tử Atmét đã ăn uống vừa đủ rồi, tiên nữ Pari Banu dẫn chàng đi từ phòng này sang phòng khác, đâu đâu chàng cũng thấy kim cương, hồng ngọc, bích ngọc và đủ loại đá quý, được dùng cùng với ngọc trai, mã não, vân thạch, vân ban thạch và đủ loại cẩm thạch quý nhất, chưa nói tới bàn ghế, đồ đạc đắt tiền không thể nào ước lượng nổi, tất cả được sử dụng rộng rãi một cách kỳ lạ. Chàng thú thật chưa bao giờ được thấy một cảnh giống thế này.
Tiên nữ bảo chàng:
- Thưa hoàng tử, chàng ngợi ca quá đáng lâu đài của em, tuy nó cũng khá đẹp thật đấy, nhưng chàng sẽ nói như thế nào khi nhìn thấy cung điện của những vị đứng đầu các thần linh, nó đẹp hơn, rộng rãi hơn và huy hoàng hơn rất nhiều? Em cũng có thể mời chàng đi xem cảnh đẹp khu vườn của em. Nhưng xin để vào một dịp khác, trời sắp tối rồi, đã đến lúc chúng ta dùng bữa. Căn phòng tiên nữ Pari Banu mời chàng vào, đã bày sẵn tiệc, chính là gian cuối cùng chàng chưa xem trong lâu đài, nó không hề kém một phòng nào đã thấy. Vừa bước vào, chàng đã khâm phục ánh sáng của cơ man là đèn nến thoang thoảng mùi trầm hương, đèn tuy nhiều đấy nhưng không làm rối mắt vì được sắp xếp cân đối, nhìn rất thích. Một tủ lớn đựng chén bát toàn bằng vàng, mà sự gia công chế tác còn quý hơn cả chất liệu.
Nhiều tốp nữ ca sĩ, cô nào cũng đẹp như tiên và ăn mặc rất sang trọng bắt đầu vừa hát vừa đàn, du dương trầm bổng như chàng chưa từng được nghe bao giờ. Hai người ngồi vào bàn. Tiên nữ Pari Banu chú ý đưa từng món ngon nhất, lần lượt giới thiệu tên gọi và mời chàng dùng. Còn hoàng tử thì chưa bao giờ nghe nói tới tên gọi, và thấy món nào cũng tuyệt diệu, cứ luôn miệng khen, cho rằng các món ăn của thần tiên quả hơn những thức vẫn dùng nơi trần thế. Đến khi dùng rượu, chàng cũng ngỏ ý như vậy. Rồi tới lúc tráng miệng, thì loại trái cây hoặc bánh ngọt nào cũng không chê vào đâu được.
Sau bữa ăn, tiên nữ Pari Banu và hoàng tử Atmét rời bàn tiệc, bàn được dọn đi ngay tức khắc. Hai người ngồi xuống trường kỷ đầy tiện nghi, lưng tựa vào những chiếc gối bọc lụa hoa màu sắc rực rỡ, được thêu tay một cách cực kỳ tinh xảo. Lập tức một số rất đông thần linh và tiên nữ ùa vào phòng và bắt đầu một cuộc khiêu vũ kỳ lạ nhất. Họ cứ tiếp tục mãi như vậy cho tới khi tiên nữ Pari Banu cùng hoàng tử Atmét đứng lên. Thế là, vẫn tiếp tục nhảy múa, họ ra khỏi phòng, đi trước đôi vợ chồng mới cưới, đưa tới tận nơi sẽ động phòng hoa chúc. Họ xếp thành hai hàng trước cửa, để cho đôi vợ chồng mới cưới đi qua giữa mà vào buồng, sau đó họ rút lui để cho chàng rể và cô dâu nghỉ.
Lễ cưới lại tiếp tục ngày hôm sau, hay đúng hơn, những ngày tiếp sau hôm cưới là một lễ hội kéo dài liên miên, trong đó luôn luôn thay đổi món ăn các buổi yến tiệc, chương trình hòa nhạc, nhảy múa, diễn tuồng, trò chơi mỗi lần mỗi khác và mỗi kỳ lạ đến nỗi hoàng tử Atmét, cho dù có sống cả nghìn năm trong cuộc đời trần thế, cũng không thể nào tưởng tượng được hết ý định của tiên nữ không chỉ là biểu lộ với hoàng tử tình yêu chân thành và nồng nhiệt của mình. Nàng còn muốn qua đó cho chàng thấy rằng, chẳng có thể mong ước gì hơn thế này ở triều đình của phụ vương chàng cũng như bất cứ nơi nào trên trái đất, ấy là chưa nói tới sắc đẹp và vẻ kiều diễm của chính nàng. Vậy thì chàng sẽ chẳng có thể tìm ở đâu điều gì có thể so sánh với hạnh phúc chàng được hưởng bên cạnh nàng, do đó sẽ gắn bó trọn vẹn và không bao giờ rời xa nàng. Nàng thành công trong ý đồ đó. Tình yêu của hoàng tử không hề giảm bót sau khi lấy được nàng. Ngược lại, nó tăng lên tới mức cho dù nàng có thôi không yêu chàng nữa, thì chàng cũng không thể bớt yêu nàng.
Sau sáu tháng, hoàng tử Atmét, vốn là người xưa nay rất yêu kính vua cha, nảy ra ý rất mong muốn được biết tin tức của Người. Trong một buổi nói chuyện, chàng ngỏ ý với tiên nữ Pari Banu, xin được vắng nhà. Lời chàng làm tiên nữ hoảng hốt, nàng e rằng đấy chỉ là một cái cớ để chàng từ bỏ nàng mà đi mãi mãi.
- Em có làm điều gì khiến chàng không bằng lòng, mà chàng ngỏ lời như vậy? Có thể nào chàng không yêu em nữa, người vẫn yêu chàng tha thiết? Qua thái độ của em, hẳn chàng đã tin chắc điều đó chứ?
- Bà hoàng của tôi ơi, – hoàng tử Atmét đáp – tôi tuyệt đối tin tưởng tình yêu của nàng, và tự tôi sẽ làm cho mình không xứng đáng với mối tình ấy nếu không tỏ lòng cảm kích bằng một tình yêu tương ứng. Nếu nàng bị phật ý vì lời yêu cầu của tôi, thì xin nàng hãy tha thứ, tôi sẵn sàng sửa chữa sai lầm của mình. Tôi không ngỏ lời yêu cầu vừa rồi để làm phật lòng nàng, mà duy nhất chỉ vì kính yêu phụ vương tôi. Tôi biệt tích lâu thế này chắc hẳn Người buồn lắm. Tôi e rằng Người còn buồn phiền nhiều nữa vì có thể nghĩ rằng tôi không còn sống trên đời này. Tôi chỉ muốn làm cho cha tôi khỏi nỗi lo âu. Nhưng, nếu nàng không chấp nhận cho tôi an ủi Người, thì tôi cũng chiều theo ý nàng, trên đời không có việc gì tôi không sẵn sàng làm để vui lòng nàng.
Hoàng tử Atmét không che giấu tình cảm chân thành của mình đối với tiên nữ, đúng như chàng vừa thổ lộ. Chàng thôi không nài nỉ đi thăm phụ vương nữa. Tiên nữ tỏ ra cực kỳ hài lòng về sự tuân phục ấy. Tuy nhiên chàng không thể nào từ bỏ dứt khoát ước mong của mình. Chàng cố tình thỉnh thoảng lại nói cho nàng nghe về những điều tốt đẹp vua cha đã làm đối với mình, với niềm hy vọng là cuối cùng nàng sẽ nhượng bộ.
Đúng như hoàng tử Atmét suy đoán, giữa những cuộc vui nhân dịp lễ thành hôn của hoàng tử Ali lấy công chúa Nurunniha, vua nước Ấn Độ rất buồn phiền về sự ra đi của hai con trai. Vua vừa được biết quyết định của hoàng tử Hutxanh từ bỏ cuộc sống thế tục, cùng nơi chàng vui vẻ ẩn dật. Là một người cha tốt, vua vẫn cho rằng không có gì hạnh phúc hơn được các con quây quần chung quanh, nhất là những đứa con xứng đáng với tình thương yêu của mình. Vì vậy, vua những muốn hoàng tử ở lại triều đình, sớm hôm bên cạnh. Tuy nhiên vì không thể không tán thành con đường xuất gia mà hoàng tử đã tự chọn, vua đành kiên nhẫn chịu đựng sự vắng mặt của chàng. Riêng đối với hoàng tử Atmét, vua sai tìm đủ phương sách để biết được tin tức. Nhiều phái viên được cử về các tỉnh trong khắp nước, truyền cho các quan thống đốc nếu gặp thì giữ chàng lại và đưa chàng trở lại triều đình. Nhưng mọi phương sách đều không mang lại kết quả mong muốn. Nỗi buồn phiền của vua vì vậy không giảm bớt mà chỉ có tăng thêm.
Nhiều lần, vua tâm sự với tể tướng:
- Tể tướng à, khanh biết rằng Atmét là hoàng tử được ta thương yêu nhất, và khanh cũng không lạ gì những biện pháp mà ta đã cho thi hành để cố tìm cho được chàng, nhưng vô hiệu. Nếu khanh có lòng thì hãy chăm lo nhiều cho ta trong việc này.
Tể tướng vốn rất thân cận với nhà vua cũng như mẫn cán trong công việc cai quản đất nước. Trong khi nghĩ cách đỡ gánh nặng cho vua, chợt nhớ đến một phù thủy vẫn được nhiều người ca ngợi có lắm phép thần.
Ông khuyên vua nên mời phù thủy đến hỏi ý kiến. Được vua chấp nhận, tể tướng cho người đi mời, rồi tự mình dẫn đến hầu vua.
Vua nói:
- Sự phiền muộn của ta về nỗi vắng hoàng tử Atmét kể từ lễ thành hôn của hoàng tử Ali với công chúa Nurunniha, mọi người đều đã rõ, ta chắc bà cũng chẳng lạ. Với pháp thuật và tài nghệ của bà, bà có thể cho ta biết con trai ta hiện ra sao chăng? Nó còn sống không? Hiện đang ở đâu? Đang làm gì? Ta có hy vọng gặp lại hoàng tử Atmét nữa hay không?
Để thỏa mãn điều vua ngỏ lời, phù thủy đáp:
- Tâu bệ hạ, cho dù tôi có tài giỏi đến đâu, cũng không thể trả lời ngay tức khắc câu hỏi của Người. Nhưng nếu Người vui lòng cho phép hoãn tới ngày mai, tôi sẽ xin trình Người lời đáp.
Nhà vua đồng ý với thời hạn ấy, cho phù thủy về, với hứa sẽ trọng thưởng nếu lời đáp của phù thủy hợp với mong ước của mình.
Ngày hôm sau, phù thủy trở lại, tể tướng lại thân dẫn vào gặp vua lần thứ hai. Phù thủy tâu:
- Tâu bệ hạ, vâng lệnh Người, tôi đã hết sức dùng mọi phép thuật để tìm lời giải đáp, song chẳng biết được gì nhiều hơn là hoàng tử Atmét còn sống, đó là điều chắc chắn, Người có thể tin tưởng. Còn như hiện nay chàng đang ở nơi đâu, thì tôi chịu không thể tìm ra.
Vua nước Ấn Độ buộc phải bằng lòng với câu trả lời đó. Nó vẫn làm cho vua lo âu không kém trước bao nhiêu về số phận của con trai.
Lại nói về hoàng tử Atmét. Chàng nói chuyện nhiều lần với tiên nữ Pari Banu về vua Ấn Độ dù không đả động tới mong ước của mình được về thăm cha, sự cố tình ấy vẫn làm cho tiên nữ hiểu ra thâm ý của chồng. Vậy là nàng nhận ra, qua sự tự kiềm chế và không muốn làm phật ý nàng, rõ ràng tình yêu của hoàng tử đối với mình là chân thành. Hơn nữa, nàng cũng nhận thấy mình quả thật bất công khi dùng quyền lực ngăn cản một con người thương yêu cha, buộc chàng cưỡng lại tình cảm tự nhiên của con người. Vì vậy nàng quyết định chấp thuận điều mà nàng thấy rõ chàng vẫn luôn luôn ước mong nồng nhiệt. Một hôm, nàng bảo với chồng:
- Thưa hoàng tử, trước đây chàng nói với em là muốn về thăm phụ vương chàng, khiến cho em lo âu chính đáng rằng đấy chỉ là cái cớ để biểu lộ lòng không chung thủy và ruồng bỏ em. Chính vì mỗi một nguyên nhân ấy mà em không chấp thuận. Nhưng, đến bây giờ qua hành động và lời nói của chàng, em đã hoàn toàn tin chắc ở sự chung thủy cũng như tình yêu nồng nàn của chàng. Vì vậy em thay đổi ý kiến và đồng ý để chàng về. Tuy nhiên cũng kèm theo một điều kiện, ấy là chàng không đi vắng quá lâu và mau mau trở về đây với em. Xin chàng chớ lấy làm phiền lòng về điều kiện đó, xin chớ cho rằng em nêu ra như vậy là chưa tin tưởng ở chàng, chẳng qua vì đã tin vào lòng thủy chung của chàng nên em mới dám nói ra thôi.
Hoàng tử Atmét muốn quỳ xuống dưới chân tiên nữ để biểu hiện rõ rệt hơn lòng biết ơn của mình, nhưng nàng đã kịp ngăn lại.
- Bà hoàng của tôi ơi, – chàng nói – tôi hiểu cái giá của ân huệ nàng vừa ban cho tôi. Thật không đủ lời lẽ để cảm tạ nàng thật xứng đáng như lòng tôi mong muốn. Mong nàng thấu hiểu cho tôi, tôi van nàng đấy. Xin nàng biết cho tôi là tôi hiểu rất rõ tâm trạng của nàng. Nàng có lý khi nghĩ rằng, tôi không chút phiền lòng khi thề sẽ làm đúng theo điều kiện của nàng. Ngược lại, tôi càng sẵn lòng thề, bởi vì từ nay tôi không thể sống nổi nếu không có nàng. Vậy thì tôi sẽ ra đi và sẽ mau mau trở lại. Nàng sẽ thấy rằng không phải tôi sợ lỗi lời thề nếu mình chậm trễ, mà chính là làm theo tiếng nói của trái tim mình muốn được trọn đời sống cùng nàng không xa cách. Và sau này, nếu thỉnh thoảng có phải tạm xa nàng, thì tự tôi cũng tìm cách làm sao tránh được nỗi buồn vì xa vắng nàng quá lâu.
Tiên nữ Pari Banu cực kỳ hài lòng về thái độ của hoàng tử Atmét. Nàng không còn chút ngờ vực như trước, khi nghĩ rằng việc chàng nôn nóng muốn về thăm vua cha chỉ là một cái cớ tốt đẹp rút bỏ lời thề.
Nàng bảo:
- Thưa hoàng tử, chàng muốn lên đường lúc nào xin tùy ý, nhưng xin vui lòng cho em được dặn đôi điều về cách xử sự thế nào trong chuyến đi này. Trước hết em nghĩ rằng chàng không nên nói với phụ vương chàng về đám cưới của hai ta cũng như em là ai, chàng hiện sống nơi đâu, đã ở chốn nào kể từ ngày xa cách. Chàng hãy xin Người chỉ nên bằng lòng biết chàng hiện đang hạnh phúc, chàng không có mong muốn nào hơn. Lý do duy nhất khiến chàng trở lại là để Người hết lo âu về số phận của chàng.
Cuối cùng, tiên nữ cấp cho chàng mười kỵ sĩ cùng với ngựa tốt và yên cương đầy đủ, để theo hầu. Khi mọi việc đã sẵn sàng, hoàng tử Atmét cáo biệt, ôm hôn vợ, và nhắc lại lời hứa sẽ trở về ngay. Người ta dẫn tới con ngựa dành riêng cho chàng. Không những được thắng yên cương lộng lẫy, nó còn đẹp hơn, có giá trị hơn bất cứ con nào trong đàn ngựa của vua Ấn Độ. Chàng lên ngựa từ biệt một lần nữa, khiến tiên nữ thật hài lòng, rồi ra roi.
Đường về kinh đô nước Ấn Độ chẳng xa xôi gì, hoàng tử Atmét chẳng mấy chốc đã tới nơi. Chàng vừa vào kinh thành, nhân dân vui mừng được gặp lại hoàng tử, nồng nhiệt hoan hô. Một số lớn tách ra khỏi đám đông, đi theo chàng đến tận cung vua. Nhà vua cực kỳ vui mừng ôm hôn con trai, và âu yếm trách chàng sao để cho mình phiền muộn vì vắng mặt quá lâu. Vua nói thêm:
- Sự vắng mặt của con càng làm cho cha đau khổ, vì sau khi số mệnh đã định đoạt Ali anh con chứ không phải con được may mắn, cha càng có lý do để lo âu, những e con vì tuyệt vọng mà làm liều chăng.
- Tâu phụ vương, – hoàng tử Atmét nói – xin phụ vương suy xét cho, sau khi mất công chúa Nurunniha, niềm ước mơ duy nhất của mình, làm sao con có thể đến để nhìn hạnh phúc của hoàng tử Ali được. Nếu con trơ trẽn đến mức ấy, thì triều đình và nhân dân kinh thành nghĩ sao về mối tình của con. Cả phụ vương nữa, Người cũng nghĩ sao? Tình yêu là một đàm mê mà không phải người ta muốn trút bỏ lúc nào thì bỏ. Nó ngự trị, nó làm chủ, nó không cho phép người tình chân chính có thời gian để viện đến lý trí. Phụ vương đã biết là khi con bắn cung, đã xảy ra một chuyện kỳ lạ chưa từng đến với ai, ấy là không thể nào tìm thấy mũi tên con bắn đi, mặc dù bãi quần ngựa rất bằng phang và trống trải. Điều đó làm cho con mất hết cái quyền được lấy một người con yêu tha thiết chẳng kém gì hai anh của con.
Bị sự trớ trêu của số mệnh đánh bại, con không để mất thời giờ để than vãn vô ích. Để thỏa mãn tâm trí cứ áy náy mãi về một điều không sao hiểu nổi, con tránh bọn người hầu và một mình trở lại nơi ấy để cố tìm mũi tên. Con tìm đằng trước, đằng sau, con tìm bên phải, bên trái nơi nhặt được mũi tên của các hoàng tử anh con bắn trước. Con nghĩ rằng mũi tên của con hẳn cũng rơi ở quãng này, nhưng con đã nhọc công vô ích, không sao tìm thấy. Không nản chí, con tiếp tục cuộc tìm kiếm, con gần như cứ dóng đường thẳng mà tiến tới mãi, theo hướng bay của mũi tên. Con đã đi chừng một dặm, mắt chăm chú nhìn sang hai bên, thỉnh thoảng lại quay đầu xem xét thật kỹ bất cứ vật gì có hình dạng na ná mũi tên. Có lúc con suy nghĩ không thể nào mũi tên con bắn có thể bay xa đến thế. Con đã đứng dừng lại và tự hỏi phải chăng mình mất trí, phải chăng mình lẩn thẩn đến mức tự cho mình có sức bật mũi tên bay xa dường ấy, mà cho đến các vị anh hùng cổ xưa nhất, danh tiếng nhất của chúng ta về vũ dũng cũng chưa bao giờ làm được. Con lý luận như vậy, và đã sắp bỏ cuộc.
Nhưng, khi muốn thực hiện ý định bỏ cuộc thì con lại thấy như có một sức mạnh nào đó cứ kéo lại, không sao cưỡng lại được. Con đi được chừng bốn dặm, đến nơi cánh đồng tiếp giáp với núi đá thì trông thấy một mũi tên. Con vội chạy lại, nhặt lên thì nhận ra đúng là mũi tên con đã bắn, nhưng đã không thấy ở nơi đáng lẽ nó phải rơi. Vậy là, vẫn không hề nghĩ phụ vương đã bất công khi tuyên bố cho hoàng tử Ali anh con thắng cuộc, con lại hiểu điều vừa xảy ra một cách khác. Không nghi ngờ gì nữa, đây là một điều bí ẩn có lợi cho con, mà nhất định con phải tìm hết cách để làm cho sáng tỏ.
Và quả thực con đã làm sáng tỏ được, mà chẳng phải đi quá xa chỗ ấy. Nhưng đây là một điều bí ẩn khác mà con van xin bệ hạ chớ có cho rằng con thất lễ nếu không nói rõ ra. Chỉ xin Người biết cho, rằng tự miệng con nói là con đang sung sướng, con hài lòng với hạnh phúc ấy, có mỗi một điều khuấy động và khả dĩ khuấy động nó, là nỗi băn khoăn e phụ vương lo lắng cho con, không hiểu từ ngày con biến mất và xa lánh triều đình, nay sống chết ra sao. Con thấy bổn phận của con là phải trở về để Người gỡ được mối lo âu. Con không thể nào trốn tránh bổn phận ấy. Đó là cớ duy nhất đưa con trở về đây. Con chỉ xin Người mỗi một ân huệ, ấy là cho phép con thỉnh thoảng về hầu và vấn an Người.
- Con ạ, – nhà vua đáp – cha không thể nào từ chối điều con yêu cầu. Tuy nhiên cha mong muốn hơn thế nhiều, ấy là con ở lại bên cha, ít ra con cũng nên cho cha biết nơi con ở, để có lúc nào con không đến được, mà cha cần sự có mặt của con, thì sai người đến tìm.
- Tâu phụ vương, – hoàng tử Atmét nói – điều Người vừa dạy đó là một phần trong bí ẩn mà con đã tâu. Con xin Người cho phép con được im lặng về điểm ấy, và con sẽ năng về chầu. Bất cứ lúc nào sự có mặt của con là cần, thì con chỉ lo mình quấy rầy nhiều quá, chứ không để Người phải quở trách con sao chểnh mảng.
Không muốn ép con hơn nữa về chuyện ấy, vua Ấn Độ liền bảo hoàng tử:
- Con ạ, cha không muốn đi sâu hơn vào điều bí mật của con, cha để cho con toàn quyền định đoạt. Cha chỉ nói thêm rằng cha không có gì vui thích hơn được con về thăm. Bất cứ lúc nào con về, con đều được hoan nghênh, miễn là nó không làm trở ngại tới công việc hoặc sự vui chơi giải trí của con.
Hoàng tử Atmét không lưu lại quá ba ngày ở triều đình phụ vương, chàng ra đi ngày thứ tư, rất sớm. Tiên nữ Pari Banu càng mừng rỡ đón chàng trở về, là vì không chờ đợi chàng trở về sớm vậy. Nó làm nàng tự trách mình sao lại có lúc ngờ vực tấm lòng chung thủy mà chàng đã bao lần nặng lời thề thốt. Không che giấu hoàng tử, nàng thú thật sự yếu đuối của mình và xin chồng tha thứ. Cuộc sống của hai vợ chồng tâm đầu ý hợp tốt đẹp hoàn toàn.
Một tháng sau khi hoàng tử Atmét trở về, tiên nữ Pari Banu nhận thấy, tuy chàng đã thuật lại đầy đủ chuyến đi và câu chuyện trao đổi giữa hai cha con cho nàng nghe, trong đó có việc chàng xin phép nhà vua được thỉnh thoảng về chầu, nhưng lại tuyệt nhiên không nhắc tới phụ vương nữa, như thể không có vua cha trên đời, khác với trước kia, chàng hay nói đến luôn. Tiên nữ nghĩ rằng sở dĩ chàng làm như vậy vì nể nàng. Do đó, một hôm, nàng tìm dịp nói với hoàng tử:
- Này chàng, xin chàng nói cho em nghe, có phải chàng đã quên mất phụ vương của chàng chăng? Chàng không nhớ đã từng hứa sẽ thỉnh thoảng trở lại hầu Người ư? Em thì không quên điều chàng kể lại sau chuyến đi lần trước, bởi vậy xin nhắc để chàng chớ có để lâu hơn nữa mới thực hiện lời hứa của mình.
Hoàng tử cũng bắt chước giọng nói vui như tiên nữ:
- Thưa bà, tôi không hề thấy mình phạm tội như bà nghĩ, nhưng thà chịu lời trách móc ấy cho dù mình không đáng, còn hơn là chịu sự khước từ, nếu tôi nôn nóng không đúng lúc và đưa ra một lời yêu cầu khiến bà khó khăn lắm mới chấp thuận được.
- Thưa hoàng tử, em không muốn chàng giữ ý như vậy nữa đối với em. Và, để cho những việc tương tự sau này không xảy ra nữa, em xin nói là: Chàng không nên để hai chuyến thăm cha cách nhau quá một tháng. Vậy thì sáng mai chàng hãy về thăm Người, và từ nay cứ mỗi tháng chàng hãy về nhà một lần mà không cần nói với em hoặc đợi em nhắc. Em rất vui lòng chấp thuận như vậy.
Ngày hôm sau, hoàng tử Atmét lên đường với đoàn tùy tùng y như lần trước nhưng lanh lợi hơn. Bản thân chàng cưỡi ngựa thắng yên cương và ăn mặc còn lộng lẫy hơn trước, chàng được phụ vương đón tiếp với cùng nỗi vui mừng và hài lòng ấy. Nhiều lần chàng trở về thăm vua cha như vậy, và mỗi lần đoàn tùy tùng càng sang trọng càng rực rỡ hơn.
Cuối cùng, một số đại thần sủng ái của nhà vua, vốn hay suy xét uy quyền và lực lượng của hoàng tử Atmét qua vẻ ngoài của chàng, lợi dụng sự tin cẩn của nhà vua để tìm cách nói xấu chàng. Họ nói vua nên cẩn thận tìm hiểu cho được hoàng tử ẩn náu ở đâu. Chàng lấy đâu ra tiền để tiêu pha hoang phí như vậy, vì chàng chưa được vua phong thái ấp cũng như cho lợi ích cố định. Chàng về chầu theo cung cách ấy có vẻ như để khiêu khích nhà vua rằng không cần có lộc vua ban mình vẫn có thể sống như ông hoàng. Cuối cùng có lẽ cũng phải đề phòng cả việc chàng xui dân chúng nổi loạn để cướp ngôi vua nữa.
Vua nước Ấn Độ không bao giờ nghĩ hoàng tử Atmét có thể làm những chuyện tày đình như bọn sủng thần cố làm cho vua tin, liền bảo:
- Các khanh nhầm rồi. Con trai ta yêu ta, và ta càng tin chắc ở tình yêu cũng như lòng trung thành của nó, vì ta nhớ ra chưa bao giờ làm một việc gì khiến cho nó bất bình với ta.
Nghe đến đây, một sủng thần chộp lấy cơ hội để thưa:
- Tâu bệ hạ, mặc dù theo sự phán đoán chung của những người thông minh nhất, Người không thể nào phân xử tài tình hơn cách dàn xếp ba hoàng tử về chuyện kết hôn với công chúa Nurunniha. Nhưng ai biết đâu hoàng tủ Atmét cũng chịu tuân phục quyết định của số mệnh giống như hoàng tử Hutxanh? Sao chẳng có thể chàng nghĩ rằng chỉ mình mới là người xứng đáng, và bệ hạ đáng ra cần ưu đãi chàng hơn so với hai hoàng tử anh trai, thế mà Người lại giao cho số mệnh định đoạt, và như vậy là bất công đối với chàng. Bệ hạ có thể nói rằng, – lão sủng thần gian trá nói tiếp – hoàng tử Atmét không biểu lộ dấu hiệu gì bất bình, rằng nỗi lo sợ của chúng tôi là vu vơ, rằng chúng tôi hoảng hốt quá dễ dàng, và chúng tôi đã sai lầm khi tỏ ý nghi ngờ, có thể vô căn cứ, một hoàng tử do Người sinh hạ. Nhưng, tâu bệ hạ, những điều ngờ vực ấy cũng có thể có căn cứ. Bệ hạ hẳn đã biết rằng trong một việc tế nhị và quan trọng như việc này phải tính chuyện ăn chắc nhất. Xin Người hãy suy xét, hoàng tử Atmét giấu giếm Người như vậy là để cho vui hay để lừa dối Người. Hiểm họa càng đáng sợ. Vì có vẻ như hoàng tử ở không xa kinh thành này là mấy. Quả vậy, nếu hệ hạ cũng để ý như chúng tôi, Người sẽ có thể nhận xét rằng mỗi lần chàng về, cả chàng cùng đoàn tùy tùng đều tươi tỉnh, trang phục cũng như yên bành của ngựa đều sáng chóe như thể mới rời khỏi bàn tay người thợ. Ngựa của họ cũng chẳng chút mệt nhọc, như vừa đi dạo mát về. Những biểu hiện hiển nhiên ấy chứng tỏ hoàng tử Atmét ở khá gần. Chúng tôi tự cảm thấy khiếm khuyết trong bổn phận nếu không khép nép tâu trình hoàng thượng, vì sự tồn vong của Người cũng như của nước nhà, nên có những quyết định thích đáng.
Chờ viên sủng thần tâu hết những lời dài dòng ấy, vua cho bãi triều, và nói:
- Dù thế nào đi nữa, ta vẫn không tin rằng hoàng tủ Atmét độc ác đến như lời các ông thuyết phục. Tuy nhiên, ta vẫn cảm ơn những lời khuyên của các khanh. Ta tin rằng các khanh nói như vậy là xuất phát từ những ý tốt.
Vua nước Ấn Độ nói với bọn sủng thần như vậy mà không để lộ mặt ra lời lẽ của họ đã gây ấn tượng đến đầu óc của mình. Tuy nhiên, vua không lấy gì làm lo lắng. Vua quyết định sẽ cho theo dõi hành tung của hoàng tử Atmét, và chỉ một mình vua biết việc này. Vua sai tìm mụ phù thủy. Mụ được đưa vào một cổng bí mật đến gặp vua. Vua bảo mụ:
- Bà đã quả quyết rằng con trai Atmét của ta không chết, ta biết ơn bà nhiều. Bây giờ, bà hãy giúp ta một việc khác, vì từ khi ta lại được gặp nó, dù tháng tháng nó về chầu ở triều đình, nó vẫn chưa chịu nói cho ta rõ nó ở đâu. Ta không muốn buộc nó phải nói ra điều bí mật trái với ý nó. Ta tin rằng bà khá tài giỏi, bà có thể thỏa mãn sự hiếu kỳ của ta, mà không để cho hoàng tử cũng như cả triều đình ta hay biết. Bà biết rằng hiện nó đang ở đây. Nó có thói quen ra đi mà không cáo biệt ta cũng như một ai khác trong triều. Vậy bà chớ để mất thời giờ, ngày hôm nay bà hãy trả lời ta rõ.
Mụ phù thủy đã biết được nơi hoàng tử Atmét nhặt được mũi tên chàng bắn. Vừa ra khỏi cung, mụ đi thẳng tới đó và nấp sau tảng đá, sao cho không để một ai nhìn thấy.
Hôm sau, trời vừa tảng sáng, hoàng tử Atmét lại ra về mà không cáo biệt nhà vua cũng như bất cứ vị triều thần nào, đúng theo lệ của chung. Mụ phù thủy nhìn thấy chàng từ xa, mụ đưa mắt theo dõi cho đến khi chàng và đoàn tùy tùng đều biến mất hút.
Vì dãy núi đá làm thành một hàng rào không người trần nào có thể vượt qua, dù là đi bộ hay cưỡi ngựa, bởi quá hiểm trở, mụ phù thủy suy xét chỉ có thể có một trong hai điều hoặc là hoàng tử lui sâu vào trong hang đá, hoặc là có một hầm ngầm ở dưới đất làm nơi trú ngụ của các thần tiên và tiên nữ. Chờ một lúc cho hoàng tử cùng đoàn tùy tùng đủ thời gian vào trong hang đá hoặc dưới hầm ngầm rồi, mụ mới ra khỏi chỗ ẩn ấp và tới gần khe đá mụ vừa trông thấy họ vào, mụ cũng bước vào đó.
Nhưng đi hết chỗ hẻm, nhìn khắp nơi và đi lại nhiều lần, chăm chú tìm kiếm mụ vẫn không hề trông thấy một cửa hang nào, cũng như không trông thấy cánh cửa sắt đã từng không lọt khỏi mắt của hoàng tử Atmét, vì cánh cửa ấy, chỉ có đàn ông mới trông thấy được, đặc biệt là những người mà tiên nữ Pari Banu muốn có mặt, còn đàn bà thì không thể nào nhìn thấy.
Mụ phù thủy biết có vất vả tìm kiếm nữa cũng vô ích thôi, đành trở về tâu hoàng đế rõ. Thuật lại xong những việc vừa rồi, mụ nói thêm:
- Tâu bệ hạ, Người có thể thấy, sau những điều tôi vừa tâu với Người rằng đối với tôi, chẳng khó khăn gì lắm việc Người giao cho tìm hiểu hành tung của hoàng tử Atmét. Lúc này tôi chưa muốn nói rõ ý nghĩ của mình, xin đợi cho đến lúc có bằng chứng đầy đủ mới xin tâu để Người rõ. Muốn vậy, chỉ mong Người hãy kiên nhẫn, cho tôi có đủ thời gian, và xin hãy cho phép tôi được tự xoay sở mà chớ hỏi đã dùng những cách nào để biết được.
Nhà vua bằng lòng với những điều mụ phù thủy vừa tâu. Vua bảo:
- Tùy ý bà. Bà hãy đi làm những gì bà thấy thích hợp. Ta kiên nhẫn chờ đợi bà mang đến câu trả lời như đã hứa.
Để khuyến khích, vua ban thưởng cho mụ một viên kim cương rất đắt tiền và nói thêm là sẽ thưởng mụ thật trọng hậu hơn nữa, chừng nào mụ giúp vua xong việc hệ trọng mà vua tin tưởng là nhờ tài khéo léo, chắc chắn mụ có thể làm tròn.
Còn hoàng tử Atmét, kể từ khi được phép của tiên nữ Pari Banu không tháng nào không về chầu vua đều đặn một lần. Phù thủy biết vậy nên kiên nhẫn chờ. Một hai ngày trước thời gian đó, mụ đến chực sẵn ở dãy núi đá, nơi lần trước mụ đã để mất hút bóng hoàng tử và đoàn tùy tùng. Mụ chờ ở đấy, sẵn sàng thực hiện âm mưu của mình.
Ngày hôm sau, theo thường lệ, hoàng tử Atmét cùng những người hầu xuất hiện từ cánh cổng sắt rồi đi tới gần mụ phù thủy, mà chàng không biết là ai. Thấy mụ đang nằm, đầu gục xuống một tảng đá, miệng rên rỉ như đang đau đớn lắm, lòng thương hại khiến chàng quay lại và tiến gần, để hỏi xem mụ đau thế nào, chàng có thể làm gì giúp mụ được không.
Mụ phù thủy giả đau, không ngẩng đầu mà lại nhìn hoàng tử với vẻ đau khổ để làm tăng thêm lòng ái ngại của chàng. Mụ trả lời tiếng được tiếng mất như thể sắp đứt hơi, rằng mụ ở nhà, định vào thành phố, nửa đường chợt lên cơn sốt dữ dội. Vì kiệt sức, mụ đành nằm lại đây, ở một nơi xa nhà cửa dân cư, không mong gì được ai cứu giúp.
- Bà cụ ơi, – hoàng tử Atmét nói – bà không ở quá xa nơi cứu giúp bà như bà tưởng đâu. Tôi sẵn sàng cho bà thấy ngược lại và đưa bà vào một nơi, cũng gần đây thôi, không những bà được chăm sóc hết lòng, mà còn mau chóng được chữa lành cho nữa. Muốn vậy, chỉ cần bà đứng dậy, và chịu để cho một người hầu của tôi đưa lên ngồi kèm trên lưng ngựa.
Nghe hoàng tử nói như vậy, mụ phù thủy vốn chỉ giả đau để tìm hiểu chàng ở nơi đâu, đang làm gì, và số phận chàng hiện ra sao, không khước từ việc làm ơn đầy lịch sự đó. Để tỏ lòng mình nhận lời bằng hành động chứ không phải bằng lời nói, mụ làm ra vẻ cố đứng lên, nhưng cơn bệnh quá nặng nề không sao trở mình nổi.
Vừa lúc ấy, hai kỵ sĩ của hoàng tử xuống ngựa, vực mụ đứng dậy và đỡ mụ ngồi lên lưng ngựa sau một kỵ sĩ khác. Hoàng tử quay lại dẫn đầu cả đoàn trở về cánh cổng sắt. Một người hầu tiến lên trước, mở cửa. Hoàng tử vào sân cung điện của tiên nữ, chàng không xuống ngựa mà sai một người hầu đi báo cho nàng biết chàng cần gặp.
Tiên nữ Pari Banu lật đật chạy tới, không rõ vì sao hoàng tử Atmét quay lại ngay như vậy. Không để cho nàng kịp hỏi lý do, chàng chỉ mụ phù thủy, mà hai người hầu của chàng đã đỡ xuống đất và đang xốc nách dìu đi:
- Nàng ơi, xin nàng hãy đem lòng thương hại bà cụ này đây. Tôi vừa gặp trong tình trạng nàng nhìn thấy kia, và hứa sẽ giúp đỡ cụ. Tôi xin gửi lại nàng, và tin rằng nàng sẽ không bỏ bà cụ vì bản tính nhân hậu của nàng cũng như lời khẩn cầu của tôi.
Tiên nữ Pari Banu chăm chăm nhìn người đàn bà giả ốm trong khi hoàng tử nói. Nàng sai hai cô hầu đi theo, đỡ mụ phù thủy từ tay hai kỵ sĩ, đưa vào trong một gian buồng, dặn chăm sóc chu đáo như chăm sóc chính nàng vậy. Trong khi hai cô hầu tuân theo lệnh ấy, tiên nữ Pari Banu đến gần hoàng tử Atmét và hạ giọng nói:
- Thưa hoàng tử, em xin ngợi ca lòng thương hại của chàng, nó thật xứng đáng với chàng. Em xin vui lòng làm theo lời dặn của chàng. Nhưng em xin phép được hỏi rằng em sợ ý định của chàng sẽ được trả công một cách chẳng lấy gì làm đẹp. Em không tin bà già này thật ốm đau như bà làm ra vẻ. Em sẽ nhầm to nếu không phải bà ta cố tình phục ở đấy để gây cho chàng những điều phiền muộn lớn. Nhưng xin chàng chớ vì vậy mà lo nghĩ. Cho dù người ta có mưu mô gì đi chăng nữa, chàng hãy tin rằng em sẽ giải thoát chàng khỏi mọi cạm bẫy mà kẻ khác có thể chăng ra. Xin chàng hãy đi, hãy tiếp tục cuộc hành trình của mình!
Lời tiên nữ không làm hoàng tử lo lắng. Chàng nói:
- Bà hoàng của tôi ơi, tôi chưa từng làm điều gì hại tới ai, và tôi cũng chẳng có ý định làm điều đó. Tôi không tin rằng ai đó lại nghĩ tới chuyện hại tôi. Dù thế nào chăng nữa, tôi sẽ vẫn tiếp tục làm việc lành chừng nào gặp dịp.
Nói xong, chàng cáo từ. Chia tay tiên nữ, chàng tiếp tục chuyến đi bỏ dở vì mụ phù thủy. Chẳng bao lâu sau, chàng tới triều đình của cha. Nhà vua vẫn tiếp đón như thường lệ, cố gắng để không mảy may tỏ ra lo lắng hay ngờ vực bởi lời lẽ của bọn sủng thần. Trong thời gian đó, hai người hầu được tiên nữ Pari Banu giao việc, dẫn mụ phù thủy vào trong một căn phòng rất đẹp, đồ đạc sang trọng. Thoạt tiên, họ để mụ dựa vào một chiếc gối bọc gấm nền vàng. Tiếp đó, họ chuẩn bị một chỗ nằm trước mặt mụ, ngay trên chiếc trường kỷ ấy, đệm bọc sa tanh đính lụa thêu, vải trải thuộc loại tốt nhất, còn chăn là một tấm dạ vàng. Sau khi đã giúp mụ phù thủy nằm xuống – vì mụ vẫn giả vờ như vẫn còn bị cơn sốt đày đọa nên không tự mình nằm xuống được – một trong hai người hầu đi ra và lát sau trở lại, tay cầm một liều thuốc đựng trong chén sứ tuyệt đẹp. Cô đưa cho mụ và nói:
- Bà hãy dùng thứ thuốc này. Đây là nước lấy từ Giếng Sư Tử đấy, loại thuốc thần này làm giảm ngay bất kỳ cơn sốt nào. Chưa tới một giờ, bà đã thấy công hiệu của nó.
Hai người hầu lại giúp mụ ngồi dậy. Mụ phù thủy để người ta mời mọc khá lâu, làm như thể mụ rất khó chịu vì phải dùng thứ thuốc ấy. Cuối cùng, mụ cũng cầm lấy cái chén, vừa uống vừa lắc đầu, như tự mình phải cố gắng lắm mới nuốt trôi. Hai người hầu đặt mụ nằm xuống giường, rồi đắp chăn cẩn thận cho mụ. Cô cho mụ uống thuốc bảo:
- Bà hãy nằm nghỉ, nếu muốn ngủ thì cứ ngủ. Chúng em hy vọng độ một giờ nữa, khi trở lại sẽ thấy bà hoàn toàn bình phục.
Mụ phù thủy không phải đến đây để giả vờ ốm lâu, mà duy nhất chỉ nhằm tìm kiếm nơi trú ngụ của hoàng tủ Atmét và vì sao chàng khước từ không về với triều đình của vua cha. Giờ đã nắm được tin tức đầy đủ, mụ sẵn lòng tuyên bố thuốc rất công hiệu, vì mụ nôn nóng muốn được quay về ngay để báo cho nhà vua hay kết quả tốt đẹp. Nhưng, dù không muốn, mụ cũng phải chờ cho đến khi hai người hầu trở lại…
Sau thời gian đã hẹn, hai người hầu vừa tới căn phòng đã thấy mụ phù thủy ngồi dậy, áo quần tề chỉnh, mụ kêu lên:
- Ôi! Thuốc mới thần hiệu làm sao! Tác dụng còn nhanh hơn cả lời hai cô nói. Tôi sốt ruột chờ hai cô đã khá lâu, để nhờ hai cô đưa tôi đến gặp bà chủ đầy lòng bác ái, cho tôi được cảm ơn lòng tốt của bà vì tôi đã khỏi được cơn đau như có phép thần, xin bà cho tôi được tiếp tục đi làm nốt công chuyện của mình.
Hai người hầu này, cũng đều là tiên nữ như chủ nhân của họ, sau khi tỏ nỗi vui mừng được thấy mụ phù thủy chóng bình phục liền đi trước dẫn đường, đưa mụ đi ngang qua nhiều gian buồng, buồng nào cũng tráng lệ như nơi vừa nghỉ, để tới một phòng khách lộng lẫy nhất, bàn ghế sang trọng nhất trong toàn thể lâu đài.