Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 449 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN NGỤ NGÔN CON LỪA, CON BÒ VÀ NGƯỜI THỢ CÀY

❊ ❊ ❊

Có một thương gia rất giàu có, ông ta có nhiều trang trại ở thôn quê, nuôi rất nhiều loại gia súc. Ông cùng vợ và con trai lui về một trang trại của mình, và tự trông nom việc làm ăn sinh lợi. Trời phú cho ông một cái khiếu là nghe hiểu được tiếng nói của súc vật, nhưng với một điều kiện là nghe xong không được thuật lại với ai, nếu không sẽ bỏ mạng. Bởi vậy dù ông biết hết nhưng chẳng bao giờ dám truyền lại cho ai hay những điều ông hằng nghe súc vật nói.

Trong một chuồng kia nhốt chung một con bò và một con lừa. Một hôm đang ngồi cạnh chuồng xem lũ nhỏ nô đùa, chợt ông nghe tiếng con bò bảo con lừa:

- Lừa ơi, trông thấy cậu nhàn hạ, công việc người ta buộc cậu làm chẳng có là bao, tớ càng thấy cậu hạnh phúc quá chừng. Có người lo kỳ cọ chải lông cho cậu, tắm rửa cho cậu, mang cho cậu ăn đại mạch đã được sàng lọc cẩn thận, lại cho cậu uống nước vừa mát vừa trong. Công việc nặng nhọc nhất của cậu là cho ông chủ cưỡi mỗi khi ông chủ cần đi đó đi đây tí chút. Không có việc đó thì cả đời cậu sẽ trôi qua trong sự vô công rồi nghề.

Khác hẳn cách thức người ta đối xử với tớ. Cậu thoải mái đến đâu thì tớ khó nhọc đến đấy. Chưa quá nửa đêm người ta đã đóng ách vào cổ tớ. Rồi tớ nai lưng ra mà cày xới suốt ngày. Có hôm tớ mệt đến nỗi muốn qụy ngay tại chỗ. Ấy là chưa kể lão thợ cày đi đằng sau lúc nào cũng lăm lăm cái roi chực quất vào mông tớ. Kéo cày nhiều quá cổ tớ cứ tứa máu ra. Sau khi phải làm lụng suốt ngày từ sáng tới chiều, tối về người ta ném cho tớ mớ cỏ khô mà cũng chẳng buồn nhặt bớt cát sạn và các thứ lăng nhăng lẫn vào trong cỏ. Khốn khổ hơn nữa là sau khi ăn ba miếng cái thức ăn chẳng có gì ngon lành ấy, tớ buộc phải ngủ ngay trên cứt đái của mình. Cậu thấy đấy, tớ ganh tị số phận của cậu là phải quá đi chứ.

Lừa không ngắt lời bò, nó cứ để cho bò nói chán chê, xong đâu đấy mới bảo:

- Người ta bảo ngốc như bò chẳng ngoa chút nào. Cậu khờ quá, cậu để mặc cho người ta đối xử thế nào cũng được, chẳng bao giờ cậu quyết định được điều gì ra trò. Ấy thế mà cậu xem, cậu chịu đựng bao nhiêu nỗi bất công như vậy rốt cuộc được cái gì nào? Cậu làm chết xác vì sự thanh nhàn, vui thú và lợi lộc của những kẻ ăn ở không biết điều với cậu. Người ta sẽ không đối xử với cậu như vừa qua đâu nếu cậu có lòng dũng cảm cũng ngang bằng như thể lực của cậu vậy. Khi người ta dắt cậu buộc vào chuồng, tại sao cậu không cưỡng lại? Tại sao cậu không giơ sừng ra mà húc đại mấy phát vào? Tại sao cậu không biết dậm chân để tỏ ý giận dữ? Và cuối cùng, tại sao cậu không biết be lên một cách khủng khiếp cho người ta sợ? Trời đã phú cho cậu khả năng khiến người khác kính trọng, thế mà cậu không biết dùng. Lúc nào người ta mang cỏ úa rơm ương vào thì chớ có ăn, hãy đưa mũi ngửi rồi bỏ đấy! Nếu cậu làm theo lời khuyên của tớ thì đời cậu sẽ có sự thay đổi, và rồi cậu sẽ biết ơn tớ cho mà xem.

Tin lời lừa, bò ngỏ lời cảm ơn rối rít: “Bạn lừa thân yêu ơi, mình sẽ không quên làm đúng những điều cậu dặn, rồi cậu sẽ thấy mình xử sự đúng đắn.”

Nói đến đấy, hai con vật im. Thương gia nghe không bỏ sót một lời.

Hôm sau người thợ cày đến rất sớm, dắt con bò ra đóng vào cày và bắt làm công việc thường ngày. Không quên những lời khuyên của bạn lừa, hôm ấy bò tỏ ra rất hung dữ. Đến tối khi người thợ cày dắt trở về chuồng và muốn buộc nó vào chỗ cũ, con vật tinh quái không ngoan ngoãn đưa cổ ra cho người ta buộc mà lại còn tỏ vẻ bất kham, vừa giật lùi vừa be lên vừa chúi đầu chĩa đôi sừng nhọn ra như thể muốn húc vào người thợ cày nữa chứ. Nó làm đủ mọi thứ ranh ma mà chú bạn lừa đã bày cho. Sáng hôm sau người thợ cày đến định bắt bò đi làm thì trông thấy cái máng còn nguyên rơm cỏ, còn bò ta thì nằm xoài, duỗi thẳng cẳng và thở hổn hển một cách lạ lùng. Tưởng bò ốm, anh ta thương hại, cho là bắt con vật đi làm trong tình cảnh này thì bất nhẫn quá, liền quay trở lại báo cho thương gia rõ chuyện. Thương gia biết là những lời khuyên của lừa đã được bò làm theo. Để trừng trị cho thật đáng với tội, ông ta bảo người thợ cày: “chú đến lôi con lừa đóng vào cày, buộc nó phải cày thay cho bò và nhớ ốp nó phải làm cho khỏe vào.”

Thợ cày tuân lệnh. Suốt ngày hôm ấy con lừa buộc phải kéo cày; vì chưa quen việc nên lừa ta càng thêm mệt. Đã thế, nó bị quất nhiều roi đến nỗi về tới chuồng, không sao đứng vững được nữa.

Trong lúc ấy thì bò ta rất hài lòng. Nó chén hết mọi thứ trong máng rồi nghỉ ngơi suốt ngày. Bò ta thú vị là đã biết nghe lời khuyên của lừa. Nó cầu phước cho lừa về cái ơn ấy. Và khi con lừa đi làm về, bò ta không quên thốt lên mấy lời chúc tụng. Lừa không đáp một lời. Nó đang bực vì bị đối xử rất ư là tàn tệ. Nó tự nhủ:

- Ấy là do sự bất cẩn của ta cho nên mới đến nông nỗi này. Trước đây mọi điều tốt đẹp, ta muốn gì được nấy, lỗi tại ta cho nên mới dẫn đến tình cảnh thảm hại này; nếu không nghĩ ra được một kế gì đó để thoát khỏi cảnh này thì chết bỏ thây là cái chắc.

Nghĩ đến đấy, lừa ta thấy mình kiệt sức đến nỗi lăn đùng ra bên cạnh máng thóc như sắp chết đến nơi.

Kể đến đây, tể tướng nói với Sêhêrazát:

- Con gái của cha ơi, con đang xử sự y hệt con lừa ấy, con tự dấn thân vào cái chết do sự bất cẩn của mình. Con hãy nghe lời cha, hãy nghỉ ngơi thoải mái, chớ có tự mang họa vào thân.

Nàng Sêhêrazát đáp:

- Thưa cha, tấm gương cha vừa nêu lên cho con thấy không đủ để làm thay đổi ý nguyện của con. Con sẽ không thôi làm phiền nhiễu cha chừng nào cha chưa chịu cho con vào cung để được làm vợ hoàng đế.

Thấy con gái vẫn cứng đầu, tể tướng nói:

- Thôi được, bởi con cứ ngoan cố, cha buộc phải đối xử với con theo cách người thương gia mà cha vừa kể đối xử với vợ ông ta ít lâu sau đó. Câu chuyện là như thế này:

Biết rõ con lừa đang trong tình trạng thảm thương, nhà buôn ấy tò mò muốn rõ điều gì có thể xảy ra giữa nó với con bò. Vì vậy, ăn tối xong, nhân đêm có trăng, ông ta đưa vợ ra cùng ngồi chơi cạnh chuồng gia súc. Vừa tới nơi, đã nghe lừa đang nói với bò:

- Bạn cùng chuồng ơi, xin bạn vui lòng nói cho tôi rõ, bạn định sẽ làm như thế nào sáng sớm mai, khi anh thợ cày mang cỏ đến cho bạn?

Bò đáp:

- Tớ sẽ làm như thế nào ư? Tớ sẽ tiếp tục làm y như cậu đã bày cho tớ. Trước hết tớ sẽ thụt lùi, rồi tớ sẽ chĩa sừng ra với lão ấy đúng hệt như hôm qua. Tớ sẽ giả ốm, tớ sẽ làm như sắp chết đến nơi.

- Xin bạn hãy cẩn thận chớ có làm như vậy! – Lừa ngắt lời bò. – Đó là cách đưa bạn tới chỗ chết, bởi vì ban chiều, khi đi làm về tôi nghe vị thương gia ông chủ của chúng ta nói lộ ra một điều mà tôi đâm lo thay cho bạn.

- Ủa điều gì vậy? – Bò vội hỏi. – Xin làm ơn chớ có giấu tôi điều gì, bạn lừa thân mến ơi!

- Ông chủ của chúng ta – lừa nói tiếp – đã bảo anh thợ cày những lời đáng buồn như sau: “Bởi con bò không chịu ăn và nó đứng không vững nữa, ta muốn ngày mai sẽ cho mổ thịt nó. Thịt nó sẽ chia cho người nghèo để làm phúc. Còn da nó có thể có ích, chú hãy mang giao cho thợ thuộc da. Vậy sáng mai chú chớ quên gọi đồ tể đến.” Đó là điều tôi muốn báo cho bạn hay – Lừa ta nói tiếp – Vì quan tâm đến những lời nói đó và vì tình bạn giữa hai chúng ta, tôi thấy cần báo tin cho bạn rõ và cho bạn lời khuyên mới. Trước hết, khi người ta mang rơm và cỏ đến cho bạn, bạn hãy đứng phắt dậy và ăn ngấu ăn nghiến một cách rất thèm khát. Trông thấy vậy ông chủ sẽ tưởng bạn đã khỏi bệnh, may ra ông sẽ thu hồi cái lệnh mổ thịt bạn lại chăng. Nếu bạn không làm theo cách tôi dặn thì coi như đời bạn thế là đi tong.

Những lời lẽ ấy mang lại đúng hiệu quả mà lừa ta chờ đợi. Con bò lo sợ đến nỗi kêu rống lên vì khiếp đảm. Vị thương gia đang chăm chú nghe hai con vật trò chuyện, phá lên cười, khiến cho người vợ ngồi bên rất đỗi ngạc nhiên. Thị hỏi chồng:

- Có điều gì vui mà chàng cười lớn vậy, xin nói cho em rõ, để em cùng vui với chàng!

- Mình ơi, hãy bằng lòng nghe tôi cười là đủ! – Thương gia đáp.

- Không, em muốn biết rõ tại sao chàng cười cơ.

- Tôi không thể làm thỏa sự mong muốn của mình. Chỉ nên biết rằng tôi cười về cái điều mà con lừa vừa nói với con bò. Hãy biết vậy thôi, còn nữa là điều bí mật mà tôi không được phép tiết lộ.

- Ai cấm chàng không được phép nói cho em biết? – Bà vợ một mực khăng khăng.

- Mình hãy biết rằng nếu tôi nói lộ ra, tôi sẽ mất mạng ngay tức khắc.

- Ông coi thường tôi quá, – bà vợ kêu lên – điều ông nói chẳng đúng sự thật. Nếu ông không chịu nói thật cho tôi nghe tại sao hồi nãy ông cười, nếu ông khước từ không cho tôi rõ con lừa đã nói gì với con bò, thì tôi thề có trời cao đất dày chứng giám, ông với tôi sẽ không còn vợ vợ chồng chồng gì với nhau nữa.

Nói đến đây, bà ta bỏ vào nhà, đến ngồi vào một xó rồi khóc như mưa như gió suốt đêm cho tới sáng. Ông chồng đành lên giường ngủ một mình. Sáng hôm sau, thấy vợ vẫn chưa hết than vãn, ông nói:

- Mình cứ rầu rĩ vậy thật chẳng biết điều chút nào. Việc không đáng cho mình phải làm như vậy. Đối với mình, có hệ trọng gì, việc biết hai con vật đã nói gì với nhau, trong khi đối với tôi, giữ điều bí mật còn hệ trọng hơn nhiều. Thôi, tôi xin mình đừng có nghĩ tới chuyện ấy nữa.

- Tôi cứ nghĩ, – bà vợ đáp – tôi cứ khóc, kỳ cho đến bao giờ ông thỏa mãn sự hiếu kỳ của tôi mới thôi.

- Nhưng tôi nói với mình thật nghiêm túc, nếu tôi nghe theo lời nài nỉ của mình, là tôi mất mạng đấy.

- Có xảy ra việc gì cũng mặc, tôi không chịu thôi đâu.

- Thế là chẳng còn cách nào làm cho mình nghe ra lẽ phải. Vì cứng đầu cứng cổ như vậy rồi mình sẽ buồn phiền mà chết mất thôi. Bởi vậy tôi sẽ gọi con cái lại, để cho chúng nó được niềm an ủi là nhìn thấy mẹ trước khi mẹ qua đời.

Thương gia cho gọi con cái đến, lại còn sai người đi mời bố mẹ đẻ của vợ đến nữa. Khi gia đình tụ họp đông đủ, ông kể cho mọi người nghe đầu đuôi câu chuyện. Mọi người xúm lại khuyên giải người đàn bà rằng cứ khăng khăng cố chấp là sai nhưng bà ta chẳng chịu nghe ai.

Mặc cho bố mẹ đẻ giảng giải rằng điều bà muốn biết chẳng có gì hệ trọng, ngay đến cả quyền uy cũng như lý lẽ của hai bố mẹ đẻ cũng chẳng mảy may tác động đến con gái. Còn lũ trẻ thấy mẹ cứ để ngoài tai mọi điều hay lẽ phải thì thi nhau khóc ầm ĩ cả nhà. Ngay vị thương gia cũng rối trí, chẳng biết nên xử sự thế nào. Ngồi một mình bên cánh cửa, ông đã nghĩ tới chuyện có lẽ phải hy sinh mạng sống của mình đi để cứu lấy mạng người vợ mà ông hết mực thương yêu.

- May sao, con gái của bố ạ, – tể tướng nói tiếp với Sêhêrazát – vị thương gia ấy có nuôi năm chục con gà mái cùng một gà trống. Ông giao cho một con chó trông nom đàn gia cầm ấy. Trong lúc ông đang ngồi bên cửa trầm ngâm suy nghĩ về điều sẽ làm, chợt trông thấy con chó đang nói với con gà trống đang đạp mái như sau: “Này gà trống kia ơi! Thượng đế chẳng còn để cho mày sống bao lâu nữa đâu. Mày không biết xấu hổ về việc mày đang làm đấy hay sao?”

Gà trống ta quay lại kiêu hãnh trả lời:

- Tại sao hôm nay lại cấm tôi làm cái việc mọi ngày tôi vẫn làm cơ chứ?

- Ấy là tại mày chưa biết đấy thôi. Hôm nay ông chủ nhà ta đang có một việc buồn lớn. Vợ ông ta đang muốn ông ta tiết lộ một điều bí mật, mà để lộ ra ông ta sẽ mất mạng. Sự việc mới đến đấy. Nhưng rất đáng sợ là ông ta không đủ rắn rỏi trước sự cứng đầu cứng cổ của bà vợ bởi ông thương bà ta lắm, ông không chịu nổi những giọt nước mắt tuôn ra không ngớt của bà. Ông chủ chúng ta đến chết mất thôi. Cả nhà đang cuống lên vì chuyện đó. Chỉ độc có mày cứ như chửi vào nỗi buồn của tất cả chúng tao. Mày cứ nhởn nhơ rậm rịch với đám gà mái của mày.

Gà trống đáp lại những lời trách móc của chó như sau:

- Ông chủ nhà ta thật đoảng. Ông chỉ có mỗi một bà vợ mà không biết thu xếp cho ổn thỏa. Trong khi tôi có năm chục con mái mà đâu ra đấy. Ông ta hãy tĩnh trí lại, thì sẽ tìm ra cách thoát khỏi cơn bối rối ngay.

- Thế mày bảo ông ta nên làm như thế nào? – chó hỏi.

- Ông ta hãy đi vào buồng riêng của vợ, cài chặt then cửa lại rồi cầm gậy phang cho bà ấy đủ một trăm gậy. Tôi cầm chắc bà ta sẽ biết điều, và rồi chẳng còn dám thúc ép chồng nói cho nghe cái điều bí mật ấy nữa cho mà xem.

Vừa nghe lọt tai điều con gà trống nói, thương gia liền đứng phắt dậy. Ông vớ lấy một chiếc gậy to, đi tìm vợ dắt vào buồng, cài chặt then buồng lại, rồi giã cho bà một trận nên thân, đến nỗi bà ta phải van xin rối rít:

- Thôi đủ rồi, đủ rồi, mình ơi, xin hãy tha cho em, em không dám đòi hỏi ở mình một điều gì nữa!

Nghe vậy, biết vợ đã bỏ được cái tính tò mò vô lối, ông chồng ngừng tay gậy. Ông mở cửa. Cả nhà ùa vào, mừng rỡ thấy người đàn bà đã khỏi được cái chứng cứng đầu. Ai cũng khen ngợi thương gia đã biết cách làm cho bà vợ trở nên biết điều. Con gái của bố à, con thật đáng được đối xử như mụ vợ thương gia ấy.

- Thưa cha, – nàng Sêhêrazát đáp – xin cha chớ cho con là cứng đầu nếu con vẫn giữ ý kiến của mình. chuyện về người vợ vị thương gia ấy không lay chuyển nổi con đâu. Con còn có thể kể cho cha nghe nhiều chuyện khác để thuyết phục cha chớ nên cản trở ý đồ của con. Vả chăng, xin cha tha lỗi cho nếu con dám nói ra điều này. Xin cha đừng ngăn cản con vô ích. Nếu tình phụ tử ngăn không cho cha chấp thuận lời khẩn cầu của con, thì tự con sẽ đến tâu xin thẳng với hoàng đế.

Cuối cùng đuối lý trước quyết tâm của con gái, tể tướng đành phải chiều ý con. Và mặc dù rất buồn phiền vì không thuyết phục được con thay đổi ý định tai hại, ông vẫn đến gặp Saria ngay lúc ấy để tâu rằng đêm tới, ông sẽ dẫn nàng Sêhêrazát vào hầu vua.

Hoàng đế hết sức ngạc nhiên về sự quên thân của tể tướng đối với mình: “Làm sao khanh có thể quyết định đưa chính con gái khanh đến hầu hạ ta?”

- Tâu bệ hạ, chính cháu tự nguyện hiến thân. – Tể tướng đáp. – Số phận đáng buồn đang chờ đợi cháu không hề làm cháu khiếp sợ. Cháu muốn được dựa mạn thuyền rồng một đêm dù có chết cũng cam lòng.

- Nhưng tể tướng ạ, – hoàng đế lại nói – khanh chớ hiểu nhầm! Sáng mai khi ta giao trả Sêhêrazát lại cho khanh, ta muốn khanh kết liễu đời nó. Nếu khanh không thi hành, ta thề sẽ xử tử khanh.

Tâu bệ hạ, – tể tướng đáp – lòng thần chắc chắn sẽ đau như đứt đoạn khi thần phải tuân lệnh. Song mặc cho tình cha con tha hồ van vỉ, mặc cho thần là người cha, cánh tay của thần vẫn trung thành với bệ hạ.

Saria đồng ý sự hiến dâng của tể tướng và bảo ông cứ việc mang con gái vào cung lúc nào cũng được.

Tể tướng trở về báo tin ấy cho Sêhêrazát. Nàng hết sức mừng vui như thể đấy là một tin tốt lành nhất trần đời. Nàng còn cảm ơn cha đã hết lòng giúp đỡ. Ông lặng người vì đau đớn. Để an ủi cha, nàng nói nàng mong ông sẽ không hối hận là đã gả con gái cho hoàng đế. Ngược lại có thể ông sẽ lấy đó làm điều vui từ nay cho đến trọn đời.

Nàng chỉ còn bận bịu mỗi việc là trang điểm để ra mắt hoàng đế. Song trước khi lên đường nàng gọi riêng Đináczát ra bảo: “Em thân yêu của chị ơi, chị cần có sự giúp sức của em trong một công việc hết sức quan trọng này, chị van em chớ có khước từ! Cha sẽ dẫn chị vào cung để làm vợ hoàng đế. Em chớ có hoảng hốt vì tin đó, mà hãy kiên nhẫn nghe chị nói đây! Khi nào chị đến trước nhà vua, chị sẽ khẩn cầu Người cho phép em được ngủ cùng với chị trong phòng tân hôn, để cho chị được sống với em một tối nữa. Nếu nhà vua đồng ý, mà chị hy vọng sẽ như vậy, thì em phải nhớ sáng sớm mai đánh thức chị dậy một giờ trước lúc mặt trời mọc. Em hãy nói như sau: “Chị ơi, nếu chị không ngủ, em van chị, trong khi chờ đợi trời sắp sáng tới nơi, chị hãy kể cho em nghe một trong những chuyện rất hay mà chị biết.” Lập tức chị sẽ kể cho em nghe một chuyện, và chị mong rằng bằng cách ấy có thể giải thoát nhân dân ta khỏi tình trạng hoang mang lo sợ hiện giờ.” Đináczát trả lời: “Em sẵn sàng làm mọi việc chị cần đến em.”

Đã đến giờ đi ngủ, tể tướng dẫn Sêhêrazát đến hoàng cung và ra về ngay sau khi đưa nàng vào phòng riêng của nhà vua. Hoàng đế thấy chỉ còn riêng mình với nàng, liền ra lệnh ngay cho nàng cất tấm mạng che mặt. Vua nhận ra nàng xinh đẹp đến nỗi thấy mình cũng say đắm. Thấy nàng đang đầm đìa nước mắt, vua hỏi căn cớ làm sao. Sêhêrazát đáp: “Tâu bệ hạ, thiếp có một đứa em gái thiếp yêu rất tha thiết cũng như em nó yêu thiếp vậy. Thiếp muốn được có em cùng ngủ đêm nay trong buồng này, để thiếp được trông thấy em và có dịp vĩnh biệt em một lần nữa. Chẳng hay bệ hạ có vui lòng ban cho thiếp niềm an ủi được bày tỏ với em gái một lần cuối tình cảm của thiếp với em chăng?”

Saria chấp thuận, cho người đi tìm Đináczát. Nàng vội đến ngay. Hoàng đế ngủ với Sêhêrazát trên một chiếc sập rất cao, theo kiểu các nhà vua phương Đông. Còn Đináczát thì nằm ở cái giường thấp hơn, kê kề bên sập.

Một giờ trước khi trời sáng, Đináczát thức dậy và không quên làm theo điều chị căn dặn. Nàng nói: “Chị thân yêu của em ơi, nếu chị không ngủ, em van chị, trong khi chờ đợi trời sắp sáng tới nơi, chị hãy kể cho em nghe một trong những chuyện thú vị mà chị biết! Than ôi! Có lẽ đây là lần cuối cùng em được hưởng niềm vui ấy.”

Nàng Sêhêrazát không đáp lời em, mà tâu với nhà vua:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ có vui lòng cho phép thiếp được làm thỏa lời cầu xin của em thiếp hay chăng?

- Rất vui lòng. – Hoàng đế đáp.

Thế là Sêhêrazát bảo em hãy lắng nghe. Rồi hướng vào hoàng đế Saria, nàng bắt đầu kể như sau:

ĐÊM ĐẦU TIÊN NHÀ BUÔN VÀ THẦN LINH

Tâu bệ hạ, ngày xưa có một thương gia rất giàu có. Đất đai, hàng hóa cũng như tiền bạc của ông nhiều vô số. Nhà ông có nhiều người làm thuê ở mướn. Thỉnh thoảng ông buộc phải có những chuyến đi xa để bàn tính chuyện làm ăn với bạn hàng. Một hôm công việc quan trọng khiến ông phải đi xa nhà. Ông lên ngựa, mang theo một chiếc hòm con đặt sau yên, trong đựng một ít bánh khô và trái chà là làm thức ăn đường. Vì ông sẽ phải đi ngang qua một sa mạc, ở đấy chẳng có gì mà mua bán. Ông tới nơi cần tới mà không gặp trở ngại dọc đường. Giải quyết xong công việc, ông lên ngựa trở về.

Ngày đi đường thứ tư, ông cảm thấy quá mệt mỏi vì trời nắng chang chang, đất bị hun nóng. Trông thấy một lùm cây không xa đường cái, ông rẽ cương ghé lại đó, định nương bóng cây nghỉ ngơi chốc lát. Dưới gốc một cây hồ đào, có một cái giếng thơi nước trong leo lẻo. Ông xuống ngựa, buộc ngựa vào một cành cây rồi ngồi nghỉ dưới gốc cây hồ đào. Ông mở chiếc hòm, lấy bánh khô và quả chà là ra, vừa ăn vừa ném hạt chà là sang hai bên. Dùng xong bữa đạm bạc ấy, ông rửa mặt mũi chân tay rồi đọc kinh cầu nguyện.

Ông cầu kinh xong, người còn đang quỳ gối, chợt thấy hiện lên trước mắt một thần linh cao lớn dị thường, râu tóc trắng như cước, một thanh gươm cầm ở tay. Thần tiến đến gần và dữ tợn thét:

- Hãy đứng lên, để cho tao dùng thanh gươm này giết chết mày, như mày đã giết chết con trai tao!

Nói xong, thần gầm lên. Khiếp đảm vì bộ mặt gớm ghiếc cũng như tiếng thét của thần, thương gia run rẩy đáp:

- Hỡi ôi, chẳng hay tôi đã phạm tội gì đối với ngài đến nỗi phải chịu tội chết, kính thưa ngài?

- Tao muốn giết mày như mày đã giết con trai tao! -Thần linh nói.

- Lạy Thượng đế, làm sao tôi có thể giết chết con trai ngài? Nào tôi có biết cậu đâu, thậm chí chưa hề trông thấy cậu bao giờ?

- Có phải mày vừa đến ngồi ở đây không? – Thần hỏi, – Có phải mày đã mở hòm ra lấy bánh khô và quả chà là ăn rồi tung hạt sang hai bên không?

- Quả đúng như lời ngài nói, tôi không dám chối cãi.

- Chính vì làm như vậy đấy, mày đã giết chết con trai tao. – Thần nói. – Sự việc là thế này: trong khi mày ném hạt, con trai tao đi ngang qua, một hạt đã bắn vào mắt làm con trai tao chết. Vì vậy tao phải giết mày!

- Ôi lạy ngài, xin ngài tha thứ cho! – Nhà buôn kêu.

- Không có tha thứ gì sất, không thương xót gì sất. Sát nhân giả tử, chẳng đúng hay sao?

- Tôi đồng ý như vậy, – thương gia cãi – nhưng quả là tôi không có giết con trai ngài. Và giả dụ việc đó có xảy ra thật đi nữa thì cũng bởi vô tình mà thôi. Bởi vậy tôi van ngài hãy tha tội và cho tôi được sống!

- Không, không! – Thần linh vẫn khăng khăng. – Tao phải giết mày bởi vì mày đã hại con trai tao.

Nói đến đây, thần linh túm lấy cánh tay nhà buôn, giúi sấp xuống đất và giơ cao thanh gươm, chực chặt đầu.

Thương gia nước mắt đầm đìa vì thương vợ nhớ con, vừa kêu van mình vô tội, vừa lạy lục hết sức thảm thiết. Tuy đã giơ cao gươm, thần linh vẫn kiên nhẫn lắng nghe thương gia nói hết câu nhưng vẫn không động lòng chút nào.

- Vô ích thôi! – Thần linh quát. – cho dù mày có khóc chảy máu mắt ra, tao cũng cứ giết mày, vì mày đã giết con trai tao.

- Thế nào, chẳng còn có gì làm động được lòng ngài sao? Ngài vẫn cứ khăng khăng muốn giết một con người vô tội sao? – Nhà buôn hỏi.

- Đúng thế, tao đã nhất quyết. – Thần linh đáp. Nói xong câu ấy…

Nàng Sêhêrazát kể đến đây thì nhìn ra ngoài thấy trời đã sáng tỏ. Biết hoàng đế cần dậy sớm để đọc kinh rồi đi thiết triều, nàng thôi không kể tiếp nữa.

Vừa lúc ấy, Đináczát cất lời:

- Lạy Thượng đế, chuyện chị kể mới tuyệt vời làm sao, thưa chị!

- Đoạn tiếp theo còn kỳ thú hơn. – Sêhêrazát đáp lời em. – Và em hẳn sẽ đồng ý với chị nếu như hoàng đế rủ lòng thương cho chị sống nốt ngày hôm nay để sáng mai cho phép chị kể nốt cho em nghe đoạn cuối.

Vua Saria từ nãy đến giờ cũng chăm chú nghe Sêhêrazát kể một cách thích thú, nghĩ thầm: “Ư, ta đợi đến ngày mai, để nghe nốt câu chuyện này rồi hãy sai giết chết con bé cũng không muộn.”

Thế là vua quyết định chưa cho đưa Sêhêrazát đi treo cổ ngay trong ngày hôm đó. Vua dậy đọc kinh rồi đi lo việc triều đình.

Trong thời gian ấy, tể tướng hết sức lo âu khắc khoải. Suốt đêm ông không hề chợp mắt, mà cứ thở vắn than dài, thương cho số phận con gái mà chính ông sẽ phải làm tên đao phủ. Lòng sầu não, khi vào chầu ông không dám nhìn thẳng vào mặt vua. Ông hết sức ngạc nhiên sung sướng khi thấy vua bước thẳng vào triều mà không đưa ra cái lệnh tủ hình như ông đang chờ đợi.

Theo lệ thường, suốt ngày hoàng đế chăm lo việc triều chính.

Đến tối vua lại ngủ cùng nàng Sêhêrazát. Sáng hôm sau, trước khi mặt trời mọc, Đináczát không quên thưa với chị:

- Chị thân yêu ơi, em van chị, nếu chị không ngủ thì trong khi chờ mặt trời sắp mọc tới nơi, chị hãy kể nốt cho em nghe phần cuối câu chuyện hôm qua!

Không chờ cho Sêhêrazát kịp ngỏ lời xin phép, hoàng đế nói: “Hãy kể nốt câu chuyện về thần linh và thương gia đi! Ta cũng tò mò muốn biết kết cục ra sao.”

Được lệnh, nàng Sêhêrazát liền cất lời và kể tiếp như sau:

ĐÊM THỨ HAI

Tâu bệ hạ, nhà buôn nhìn thấy hung thần sắp chặt đầu mình, liền kêu lên: “Làm ơn xin hãy ngừng tay, cho tôi được nói thêm một lời này. Xin ngài hãy gia hạn cho tôi được phép về vĩnh biệt vợ con và phân chia gia sản. Bởi vì tôi chưa kịp làm di chúc, để sau khi tôi qua đời khỏi xảy ra chuyện tranh giành kiện tụng lôi thôi. Xong đâu đấy, tôi xin trở lại nơi này chịu tội với ngài.”

- Nhưng ta sợ rằng nếu ta gia hạn cho mày, rồi mày sẽ không trở lại đây nữa. – Thần linh nói.

- Nếu ngài tin lời thề độc của tôi thì tôi xin thề có trời cao đất dày chứng giám rằng tôi sẽ trở lại đây không lỗi hẹn.

- Vậy mày cần bao nhiêu lâu? – Thần hỏi.

- Xin ngài cho một năm, có như vậy thì mới đủ thời gian cho tôi thu xếp mọi công việc, và cũng để khi chết tôi khỏi hối tiếc là mình chưa kịp hưởng hết mọi lạc thú trên đời này. Vậy tôi xin hứa là sang năm đúng vào ngày này, tôi sẽ xin trở lại dưới gốc cây này phó thân cho ngài muốn làm gì thì làm.

- Mày có dám xin Thượng đế chứng giám lời thề của mày hay không? – Thần linh hỏi.

- Có, tôi xin thề một lần nữa, và xin ngài hãy tin lời thề của tôi.

Đến đây, thần linh biến mất, để lại thương gia một mình bên bờ giếng.

Hoàn hồn, nhà buôn lên ngựa trở về. Lòng nửa mừng vì vừa thoát cơn hoạn nạn, nửa lo đứt ruột xé gan khi nghĩ tới lời thề của mình. Ông về tới nhà, cả nhà hết sức mừng vui ra nghênh đón. Nhưng ông không ôm hôn vợ con như thường lệ, mà lại òa khóc như gió như mưa. Cả nhà hiểu ngay, ông đang có việc gì lo lắng buồn phiền lắm đây. Bà vợ hỏi chồng can cớ gì buồn đau khóc lóc như vậy: “Cả gia đình đang hết sức mừng vui vì bố trở về nhưng cũng hết sức lo âu khi thấy thế này. Xin hãy nói cho biết, tại sao chàng buồn?”

- Hỡi ôi! Làm sao tôi có thể không đau buồn? Tôi chỉ còn có thể sống một năm nữa thôi.

Thế rồi ông thuật lại cho cả nhà nghe việc vừa xảy ra. Ông nói cho họ rõ là ông đã thề đúng một năm sau sẽ trở lại với thần linh để chịu tội chết.

Biết chuyện, cả nhà hết sức buồn bã. Bà vợ đập đầu bứt tóc, lớn tiếng kêu gào. Lũ con cũng kêu khóc ầm ĩ, làm cho nhà buôn động lòng cũng khóc theo luôn. Tóm lại không có cảnh tượng nào buồn thảm hơn cảnh tượng ấy.

Ngay từ hôm sau, thương gia lo thu xếp công việc làm ăn. Ông quan tâm đầu tiên tới việc trang trải các khoản nợ nần. Rồi ông mang của cải ra chia tặng bạn bè, bố thí cho kẻ nghèo, trả tự do cho những nô lệ, nam cũng như nữ, chia gia sản cho con cái. Đứa nào còn nhỏ tuổi thì cử người đỡ đầu. Trả lại đầy đủ của hồi môn cho vợ, lại còn cho thêm bà nhiều tài sản khác. Mọi việc làm đúng như luật định.

Một năm trôi qua, đã đến lúc phải lên đường. Nhà buôn thu xếp hành lý, mang theo cả tấm vải sẽ liệm mình, rồi vĩnh biệt vợ con. Thật không có cảnh tượng nào xúc động hơn. Cả nhà không ai nỡ để ông đi chết một mình. Tất cả mọi người đều muốn đi theo để được cùng chết với ông. Tuy nhiên, ông gắng gượng được và nói với gia đình: “Các con thân yêu ơi, bố phải vĩnh biệt các con vì tuân lệnh Thượng đế. Các con hãy noi gương bố, hãy tuân theo định mệnh. Hãy nghĩ rằng con người sinh ra ai chẳng một lần chết.”

Nói xong, mặc cho cả nhà than khóc, ông rứt áo ra đi. Ông đến đúng nơi ông đã gặp thần linh một năm trước vào đúng ngày hẹn. Ông xuống ngựa, đến bên bờ giếng ngồi chờ vị thần, lòng buồn bã không thể nào tả xiết.

Trong khi ông đang buồn rầu chờ đợi, chợt có một cụ già cầm sợi dây buộc dắt một con hươu cái đến gần. Hai người chào nhau.

Cụ già cất tiếng hỏi:

- Người anh em, chẳng hay vì đâu người anh em tìm đến chốn hoang vắng, nơi chỉ có ma quái lảng vảng, còn người thì không được an toàn? Trông cây cối đẹp đẽ thế kia, người ta ngỡ là có người ở. Nhưng thật ra ở đây rất hoang vắng. Dừng chân ở đây lâu là nguy hiểm đấy, người anh em à.

Thương gia thỏa mãn sự hiếu kỳ của cụ già, nói cho cụ rõ đầu đuôi câu chuyện vì sao ông phải tới đây. Cụ già rất lấy làm kinh ngạc. Nghe xong, cụ cất lời:

- Thật là chuyện lạ kỳ! Ông đã bị ràng buộc bởi một lời thề với thần linh. Tôi muốn được chứng kiến cảnh hội ngộ giữa ông với vị thần ấy.

Nói xong, cụ ngồi xuống bên cạnh thương gia và hai người đàm đạo…

- Nhưng trời đã sáng tỏ rồi, – Sêhêrazát chợt ngừng lời kể và nói – thế mà đoạn còn tiếp mới thật là phần hay nhất của câu chuyện này.

Hoàng đế muốn nghe cho hết câu chuyện, liền cho nàng Sêhêrazát sống thêm một ngày nữa.

ĐÊM THỨ BA

Đêm tiếp sau, Đináczát cất lời thưa với chị giống như hai đêm trước:

- Chị thân yêu ơi, em van chị, nếu chị không ngủ thì hãy kể cho em một trong những câu chuyện hay hay mà chị biết!

Nhưng hoàng đế nói Người muốn nghe tiếp câu chuyện về thương gia và thần linh. Bởi vậy nàng Sêhêrazát kể tiếp như sau[1]:

- Tâu bệ hạ, trong khi nhà buôn và cụ già dắt con hươu cái đang đàm đạo thì chọt có một cụ già khác đi tới, theo sau là hai con chó đen. Cụ đến gần chào hai người và hỏi họ làm gì ở chốn này. Cụ già dắt con hươu cái thuật lại câu chuyện giữa thương nhân và thần linh cùng lời thề của ông. Cụ nói thêm, hôm nay là ngày hẹn, nên cụ muốn ở lại đây chờ xem việc gì xảy ra.

Cụ già kia, thấy câu chuyện cũng đáng được biết lắm, liền quyết định cũng nán lại chờ xem. Cụ ngồi xuống cạnh hai người. Họ vừa nối lại chuyện trò, thì xuất hiện một cụ già thứ ba.

Ngỏ lời với hai cụ kia, cụ hỏi vì sao vị thương gia ngồi cùng với họ trông có vẻ buồn bã đến vậy. Được biết rõ đầu đuôi, cụ già mới tới cũng thấy câu chuyện thật quá kỳ lạ, và cũng muốn được chứng kiến việc gì sẽ xảy ra giữa thần linh và thương gia. Vì vậy cụ ngồi xuống cạnh những người khác.

Chẳng bao lâu, họ trông thấy giữa đồng hoang nổi lên một làn hơi mù mịt, như thể một cơn lốc cát đang bị gió cuốn lên. Làn hơi ấy tiến đến gần họ, tan đi và hiện ra vị thần. Không chào hỏi ai, vị thần cầm gươm tiến tới cạnh thương gia, túm tay ông và bảo:

- Hãy đứng lên, tao phải giết mày như mày đã giết con tao!

Hoảng sợ, thương gia cũng như bà cụ già đều cất tiếng khóc than.

Khi cụ già dắt con hươu cái trông thấy hung thần tóm lấy nhà buôn và sắp sửa giết chết ông ta không chút thương xót, cụ phục xuống dưới chân con quái vật ấy, hôn chân hắn và nói:

- Thưa vị đứng đầu các thần linh, tôi khẩn thiết van xin ngài hãy dịu bớt cơn thịnh nộ! Xin hãy vui lòng nghe tôi nói đây! Tôi sẽ kể hầu ngài câu chuyện của tôi và con hươu cái ngài trông thấy. Nếu ngài cho là câu chuyện ấy diệu kỳ và đáng ngạc nhiên hơn chuyện vị thương gia mà ngài đang định giết chết này, thì chẳng hay tôi có dám hy vọng rằng ngài sẽ giảm bót một phần ba tội cho ông ta hay chăng?

Hung thần suy nghĩ một lát, cuối cùng đáp:

- Được, ta chấp thuận.

CHUYỆN CỤ GIÀ THỨ NHẤT VÀ CON HƯƠU CÁI

Cụ già kể:

Tôi xin bắt đầu câu chuyện, mong các vị chú ý lắng nghe cho. Con hươu cái mà các vị trông thấy kia vốn là em họ xa của tôi, hơn nữa vốn là vợ của tôi. Tôi cưới nàng khi nàng mới mười hai tuổi. Bởi vậy tôi có thể nói rằng lẽ ra nàng phải coi tôi như bố đẻ chứ không chỉ là người anh họ và người chồng mà thôi.

Chúng tôi chung sống với nhau ba mươi năm mà không có con. Mặc dù nàng không sinh nở, tôi vẫn hết mực thương yêu chiều chuộng, chỉ vì muốn có con mà tôi phải mua về một nữ nô lệ. Nó sinh cho tôi một đứa con trai, cháu kháu khỉnh vô cùng. Vì ganh tị, vợ tôi đâm ghét cả mẹ lẫn con người nô lệ ấy. Tiếc rằng khi tôi nhận ra điều đó thì đã quá muộn rồi.

Con tôi lớn lên, cháu được mười tuổi thì tôi có việc phải đi xa. Trước khi lên đường, tôi ký thác cả hai mẹ con cho vợ tôi mà tôi vẫn tin tưởng, nhờ nàng trông nom hộ trong thời gian tôi vắng nhà, chừng một năm. Thế mà ả đã thừa lúc tôi vắng nhà để thỏa mãn nỗi hằn học của mình, ả học phép phù thủy. Và khi nắm được đủ bùa phép để thực hiện mưu đồ ghê tởm của mình, ả dẫn con tôi đến một nơi vắng vẻ. Sau khi dùng phép yêu biến cháu thành một con bê, ả dắt về giao cho người trông nom trại chăn nuôi của tôi và ra lệnh phải nuôi cháu như nuôi bò. Chưa hả cơn điên, ả còn hóa thân người nữ nô lệ thành một con bò cái và cũng giao luôn cho người trông nom trại gia súc.

Sau chuyến đi trở về, tôi hỏi hai mẹ con cháu đâu, thì ả đáp như sau:

- Người nữ nô lệ đã qua đời, còn con trai ông thì đã hai tháng nay tôi không trông thấy, chả biết nó ra sao.

Tôi xúc động lắm trước cái chết của người nữ nô lệ. Còn về phần cháu thì chỉ mới biệt tích thôi, vì vậy vẫn còn hy vọng có thể tìm thấy nay mai. Thế nhưng tám tháng đã qua kể từ khi cháu bỏ ra đi mà vẫn không thấy cháu trở về nhà. Tết Bairam[2] cũng vừa đến. Tôi bảo người trông trại chăn nuôi chọn mang đến cho tôi con bò cái béo nhất để mổ thịt dâng lễ và ăn tết. Anh ta vâng lời. Con bò cái anh ta dắt đến chính là nữ nô lệ, người mẹ đáng thương con trai tôi. Tôi cho trói con bò cái lại, nhưng khi tôi chuẩn bị đập chết thì nó rống lên những tiếng thảm thiết và tôi để ý thấy nước mắt nó chảy ròng ròng. Tôi cho là chuyện kỳ lạ và không hiểu sao trong lòng tôi lúc đó cũng đâm thương hại. Tôi không nỡ giết chết nó. Tôi sai giao trả cho người trông trại và bảo đưa tới một con bò khác.

Lúc ấy vợ tôi cũng có mặt. Ả run lên khi thấy tôi tỏ lòng thương hại. Không muốn để thất bại mưu mô của mình, ả nói: “Ông ơi, ông làm sao thế? Hãy mổ thịt con bò cái này đi. Trong chuồng không có con bò nào tốt hơn cũng như sạch sẽ hơn để làm đồ dâng lễ đâu.” Nể lời vợ, tôi liền tiến đến gần con bò cái, cố nén lòng thương. Tôi đã định đập chết thì con vật lại rống càng to hơn và nước mắt càng chảy nhiều hơn, khiến cho tôi một lần nữa lại chùn tay. Thế là tôi giao chiếc vồ cho người chăn nuôi và bảo: “Hãy cầm lấy và đập chết nó đi; tiếng be và nước mắt của nó làm ta xé gan xé ruột.”

Người chăn trại, không hề thương xót như tôi, đập chết con bò cái, nhưng khi mổ thịt, thấy chỉ toàn xương, mặc dù hồi nãy ai cũng thấy con vật rất béo tốt.

Việc ấy làm cho tôi buồn phiền thật sự. Tôi bảo người chăn nuôi: “cho anh cả con đấy. Hãy mang đi, anh muốn ăn hoặc bố thí ai tùy ý. Thay vào đó, nếu anh có một con bê nào thật béo, hãy dắt đến cho ta.”

Tôi không hỏi xem anh ta định làm gì với con bò cái. Sau khi anh ta mang đi được một chốc, anh ta trở lại dắt theo một con bê khá mập mạp. Mặc dù không biết đó chính là con trai mình, lòng tôi chọt xốn xang khi trông thấy con vật. Về phần con bê, vừa trông thấy tôi, nó đã lao bổ tới, đến nỗi giật đứt cả sợi dây. Nó phục xuống dưới chân tôi, rập đầu xuống đất, như thể nó muốn làm động lòng trắc ẩn của tôi, van xin chớ có giết nó hoặc muốn báo cho tôi biết nó chính là con tôi đẻ ra.

Lòng tôi xúc động khôn xiết và hết sức ngạc nhiên trước cảnh tượng ấy, còn xúc động hơn cả khi thấy những dòng nước mắt của con bò cái. Tôi cảm thấy thương xót vô cùng, hay đúng hơn có lẽ tình phụ tử đã trỗi dậy trong tôi chăng, tôi bảo người chăn bò:

- Hãy mang con bê này về, nhớ chăm nom nó cẩn thận và đưa đến cho tôi ngay tức khắc một con bê khác!

Nghe tôi nói vậy, vợ tôi lại kêu lên:

- Mình làm sao thế, hở mình? Hãy nghe lời em, hãy giết thịt con bê này, chứ không phải con nào khác!

- Bà nó ơi, – tôi đáp – tôi sẽ không giết con bê ấy đâu. Tôi muốn tha cho nó, xin bà chớ có cản trở tôi!

Nhưng con mụ độc ác ấy có chịu nghe lời tôi đâu, ả thù ghét con trai tôi quá, đời nào lại chịu để tôi cứu sống cháu. Ả khăng khăng đòi tôi phải giết nó, đến nỗi rốt cuộc tôi buộc phải chiều lòng. Tôi trói chặt con bê lại và cầm con dao…

Kể đến đây, nàng Sêhêrazát ngừng lại… Đêm hôm sau, nàng kể tiếp:

- Vậy là, tâu bệ hạ, cụ già dắt con hươu cái đang kể chuyện mình cho hung thần, hai cụ già kia và thương gia cùng nghe. Tôi đã cầm con dao, cụ già nói, định thọc vào cổ chọc tiết con trai tôi, thì nó quay bộ mặt đầm đìa nước mắt nhìn tôi thảm thiết tới mức không làm sao tôi đưa dao lên nổi. Tôi đánh rơi con dao xuống đất và nói với vợ rằng tôi nhất quyết muốn giết một con bê khác chứ không phải con này. Ả cố tìm mọi lời lẽ khiến tôi đổi ý. Nhưng mặc cho ả muốn nói gì thì nói, tôi vẫn không lay chuyển. Tuy nhiên, để làm yên lòng ả, tôi hứa sẽ dành con bê này mổ vào dịp tết Bairam sau.

Sáng hôm sau, người trông nom trại chăn nuôi đến tìm tôi, xin được nói chuyện riêng:

- Tôi mang đến cho ông một tin mà tôi hy vọng rồi ông sẽ biết ơn tôi. Tôi có một đứa con gái, cháu cũng có học được ít nhiều phép tiên. Hôm qua khi tôi dắt con bê mà ông không muốn giết thịt trở về chuồng, tôi để ý thấy cháu nhìn con bê mà cười, lát sau lại khóc. Tôi hỏi cháu tại sao cùng một lúc vừa khóc vừa cười. Cháu đáp: “Thưa cha, con bê cha vừa dắt về ấy là cậu con trai ông chủ nhà ta đấy. Con cười vì thấy cậu hãy còn sống. Con khóc bởi vì nghĩ tới mẹ cậu ta hôm qua đã bị giết – bà cũng đã bị hóa thân thành một con bò cái. Những việc hóa thân đó là do phù phép của bà vợ ông chủ. Bà ấy ghét cay ghét đắng hai mẹ con cậu.” – Đấy, cháu đã nói với tôi như vậy, và tôi xin đến để trình bày ông hay.

- Hỡi thần linh, – cụ già nói tiếp – ngài hãy tưởng tượng xem, sau khi nghe những lời ấy, tôi ngạc nhiên biết dường nào! Ngay lập tức tôi đi cùng người trông nom trại chăn nuôi đến gặp con gái anh ta để tự mình hỏi chuyện. Đến nơi, thoạt tiên tôi vào chuồng có nhốt con trai tôi. Nó không thể đáp lại sự vuốt ve của tôi, nhưng trông vẻ nó trước những cử chỉ ấy, tôi tin chắc nó đúng là con trai tôi rồi.

Khi con gái người chăn nuôi đến, tôi hỏi:

- Cháu ơi, cháu có thể làm cho cậu con trai bác trở lại nguyên hình như trước hay không?

- Cháu có thể làm được. – Cô đáp.

- Nếu cháu làm được điều đó, bác sẽ cho cháu tất cả tài sản của bác.

Cô gái đáp:

- Bác là ông chủ của gia đình cháu, cháu biết gia đình cháu chịu ơn bác nhiều. Nhưng cháu xin thưa trước với bác rằng cháu chỉ có thể làm được việc đó với hai điều kiện: một là, xin cho phép cháu được lấy cậu làm chồng, hai là, cho phép cháu được trừng trị kẻ đã hóa thân cậu thành con bê.

- Về điều kiện thứ nhất, – tôi đáp – bác rất vui lòng chấp thuận. Hơn nữa bác còn hứa là sẽ cho cháu rất nhiều tài sản làm của riêng, ngoài phần bác dành cho con trai bác. Tóm lại cháu sẽ thấy bác đền ơn cháu hậu hĩnh đến thế nào. Còn về điều kiện liên quan đến vợ bác, bác cũng muốn chấp thuận lắm. Một người đã đang tâm làm một tội ác tày trời như vậy thật đáng bị trừng trị. Bác giao cho cháu đấy, cháu muốn làm gì ả thì làm, bác chỉ xin cháu chớ có giết chết ả.

- Vậy cháu sẽ đối xử với mụ như mụ đã đối xử với con trai bác nhé?

Tôi nói:

- Bác đồng ý, nhưng trước hết cháu hãy trả lại nguyên hình cho con trai bác đã.

Thế là cô gái lấy một lọ nước đầy, đọc mấy câu thần chú gì đấy mà tôi nghe không rõ, rồi nói với con bê: “Này bê kia, nếu đấng Tạo hóa chúa tể của trời đất tạo ra mày dưới dạng hiện nay, thì mày hãy giữ nguyên dạng ấy! Nhược bằng mày vốn là người mà phải trở thành thế kia bởi bùa phép yêu ma, thì xin Thượng đế cho phép mày được trở lại nguyên hình.”

Nói xong, cô hắt nước vào thân con bê. Lập tức nó trở thành người.

- Con ơi, con trai yêu quý của bố ơi! – Tôi ôm choàng lấy cháu và thốt lên trong nỗi mừng vui không thể nào kiềm chế nổi. – chính Thượng đế đã cho cô thiếu nữ này đến để giải bùa yêu cho con, trả thù cho con và cho mẹ đẻ của con. Bố tin rằng vì mối ơn ấy, con sẽ ưng thuận lấy cô làm vợ, như bố đã từng hứa với cô.

Con trai tôi vui mừng chấp thuận. Trước khi hai cháu thành gia thất, cô gái đã hóa thân vợ tôi thành con hươu cái, chính con vật mà các ngài nhìn thấy ở đây. Tôi đã xin cho ả được mang hình này chứ không phải hình một con vật xấu xí, để gia đình đỡ khổ khi phải nhìn thấy hằng ngày. Nhưng rồi con tôi trở thành góa vợ, nó bỏ nhà đi chơi xa. Vì nhiều năm nay không được tin tức của cháu, tôi muốn đi tìm, may ra có ai biết được tăm hơi gì của cháu chăng. Không muốn giao phó vợ tôi cho ai trông nom khi tôi vắng nhà, tôi đành dắt ả đi theo, đi đâu tôi cũng dắt theo. Đó là chuyện của tôi và của con hươu cái này.

Có phải đó là một câu chuyện lạ lùng nhất, kỳ diệu nhất hay không?

- Ta đồng ý với ông, – thần linh đáp – và vì vậy ta bằng lòng giảm nhẹ một phần ba tội cho thương gia này.

- Tâu bệ hạ, – lời nàng Sêhêrazát – khi cụ già dắt con hươu cái kể xong câu chuyện của cụ thì cụ già có hai con chó đen nói với vị thần như sau: “Tôi xin kể hầu ngài câu chuyện đã xảy ra với tôi và hai con chó đen này. Tôi tin chắc rằng câu chuyện của tôi còn đáng ngạc nhiên hơn câu chuyện ngài vừa nghe kể. Nhưng sau khi tôi kể xong, chẳng hiểu ngài có vui lòng giảm bớt một phần ba tội nữa cho người buôn kia hay không?”

- Có. – Thần đáp. – Miễn là câu chuyện của cụ kỳ lạ hơn chuyện về con hươu cái.

Được lời, cụ già thứ hai hướng vào vị thần, bắt đầu kể như sau:

❀ ❀ ❀

[1] Từ đây tác phẩm thôi phân thành từng đêm, và xin được lược bớt những lời đưa chuyện giữa Sêhêrazát và cô em gái, tương tự những lần trước (ND).

[2] Tết của đạo Hồi, mỗi năm hai lần; lần sau cách lần trước bảy mươi ngày (ND).

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.