Tiếp theo câu chuyện về con ngựa thần kỳ, nàng Sêhêrazát kể tiếp chuyện về hoàng tử Atmét và tiên nữ Pari Banu như sau:
- Tâu bệ hạ, xưa kia có một trong các đấng tiên vương của bệ hạ từng trị vì nhiều năm ở nước Ấn Độ. Lúc về già, Người rất hài lòng thấy ba con trai có đầy đủ các đức tính của cha. Cùng sống trong hoàng cung, còn có một công chúa cháu họ của Người. Cô là niềm tự hào của cả triều đình.
Hoàng tử cả tên là Hutxanh, hoàng tử thứ hai tên là Ali, người trẻ nhất tên là Atmét, còn Nurunniha là tên nàng công chúa.[1]
Công chúa Nurunniha là con gái người em họ của nhà vua, sinh thời từng được vua ban cho một thái ấp có nhiều lợi tức lớn. Vua này đã qua đời ít lâu sau khi lấy vợ để lại một công chúa thơ dại. Vốn thương yêu người em họ khi còn sống lúc nào cũng hết sức quý trọng mình, vua đảm nhiệm việc nuôi dạy cháu gái cùng với ba hoàng tử. Đã có khuôn mặt xinh tươi cùng dáng người cân đối, công chúa lại cực kỳ thông minh. Còn về đức hạnh thì nàng ăn đứt tất cả các công chúa cùng thời.
Nhà vua vẫn có ý định, chừng nào cháu đến tuổi lấy chồng, sẽ gả cho hoàng tử một nước lân bang, qua đó mà làm thông gia với quốc vương nước đó. Vua đang tính toán một cách nghiêm túc việc này thì bỗng nhận thấy cả ba con trai mình đều tỏ ra yêu nàng tha thiết.
Điều đó làm cho vua rất phiền lòng. Sự phiền muộn của vua không chỉ ở chỗ tình yêu của các hoàng tử ngăn cản, không cho mình thực hiện việc thông hiếu với nước lân bang như từng mong mỏi, mà hơn nữa, còn ở khó khăn đã nhìn thấy trước, là làm sao cho ba chàng thỏa thuận được với nhau, ít nhất cũng là hai người em thuận nhường cho anh cả.
Vua nói chuyện riêng với từng hoàng tử. Sau khi giãi bày cho các con rõ không thể nào một nàng công chúa có thể làm vợ cả ba người, và nếu các chàng còn giữ nỗi đàm mê thì sẽ gây nên nhiều điều rắc rối, vua hết lời khuyên can họ. Hoặc là để cho công chúa tự chọn, muốn lấy ai tùy nàng. Hoặc là cả ba chàng từ bỏ ý định của mình mà nghĩ tới những đám khác, vua sẽ cho phép họ tự do lựa chọn, rồi sau đó vua sẽ gả công chúa cho hoàng tử nước ngoài. Nhưng, khi thấy cả ba đều khăng khăng một mực, vua cho gọi cả ba chàng cùng đến một lúc và nói như sau:
- Các con ơi, cha đã không thể, vì lợi ích và sự yên vui của các con mà thuyết phục các con chớ nên nghĩ tới chuyện yêu công chúa cháu gái của cha và là em họ của các con. Vì không muốn sử dụng quyền lực để ép buộc, và cha cũng chẳng thiên vị con nào, cha vừa nghĩ ra một cách khiến cho các con cùng hài lòng và bảo vệ được tình đoàn kết nhất thiết phải có giữa các con. Hãy nghe đây, và hãy cùng thực hiện lời cha nói.
Cha thấy nhân dịp này, các con nên đi xa, mỗi người theo một hướng riêng biệt đến một nước nào đó, và không gặp nhau ở dọc đường. Các con đã biết tính cha là hơn tất cả mọi sự, cha thích sưu tập những vật hiếm và của lạ. Vậy thì cha hứa sẽ gả cháu gái của cha cho con nào mang về được vật hiếm hoi kỳ lạ và độc đáo nhất. Như vậy, sự ngẫu nhiên sẽ cho phép các con tự mình phán xét về tính đặc biệt của những vật các con sẽ mang về. Sau khi so sánh chúng với nhau, các con sẽ chẳng khó khăn gì mà không nhường một cách công bằng cho người nào xứng đáng nhất. Về tiền tiêu pha dọc đường và dùng để mua vật lạ mà các con sẽ tìm thấy, cha sẽ cho mỗi con một số tiền ngang nhau, họp với địa vị của các con. Tuy nhiên, không được dùng số tiền ấy sắm sanh xe ngựa tùy tùng. Vì nếu để lộ cho người ta biết các con là ai, thì các con sẽ không còn được tự do thực hiện mục đích của mình và cũng không có điều kiện quan sát những sự vật đáng chú ý, có ích cho chuyến đi của các con.
Ba hoàng tử xưa nay vốn tuân phục mọi ý muốn của vua cha, và chàng nào cũng nghĩ rằng vận may sẽ giúp cho mình lấy được nàng Nurunniha, đều ngỏ ý sẵn sàng vâng lệnh. Không chậm trễ, nhà vua truyền quan tổng quản ngân khố giao cho mỗi người một số tiền như đã hứa. Ngay hôm ấy, các hoàng tử cho phát lệnh chuẩn bị khởi hành. Họ xin cáo biệt trước vua cha, để sáng hôm sau có thể lên đường thật sớm.
Họ ra khỏi kinh thành cùng một cổng. Mỗi chàng cưỡi lên một con tuấn mã yên cương đầy đủ, và đều cải trang thành nhà buôn. Mỗi người chỉ có một võ quan tâm phúc theo hầu, cải trang thành đầy tớ. Ba người cùng đến nhà trạm đầu tiên, ở đây con đường sẽ rẽ làm ba ngả, để rồi mỗi người sẽ đi theo hướng của mình, tiếp tục cuộc hành trình. Tối hôm đó, đặt một bữa ăn chung để chia tay, họ thỏa thuận với nhau chuyến đi sẽ kéo dài trong một năm, và giao hẹn sẽ cùng trở về gặp nhau tại trú xá này. Ai về đầu tiên sẽ chờ hai người kia, kỳ cho đủ mặt mới cùng một lúc về kinh đô ra mắt cha, y như thể lúc ra đi vậy.
Sáng hôm sau, vừa tảng sáng, ba hoàng tử ôm hôn nhau, chúc nhau một chuyến đi may mắn, rồi cùng lên ngựa mỗi người đi theo một nẻo khác nhau, do họ tự mình lựa chọn.
Hoàng tử Hutxanh, người con cả, từng nghe nói nhiều đến đất đai rộng lớn, lực lượng hùng hậu, sự giàu có và phồn vinh của vương quốc Bixnagan, liền nhằm hướng biển Ấn Độ mà đi. Sau một cuộc đi dài chừng ba tháng, ghép với nhiều đoàn lữ hành khác nhau, khi thì băng qua sa mạc hoặc vùng núi non cằn cỗi, khi thì mượn đường qua những xứ đông dân cư, có văn hóa cao và phì nhiêu, cuối cùng chàng đến được Bixnagan, thủ phủ của vương quốc mang cùng tên ấy. Bixnagan là nơi các quốc vương nước này đóng đô.
Chàng trọ trong một cái khan dành riêng cho các thương nhân nước ngoài. Thành phố này có bốn khu chính. Mỗi khu đều có cửa hiệu của các nhà buôn bày bán đủ các thứ hàng. Ở giữa bốn khu phố này có tòa lâu đài, hay đúng hơn là cung điện của nhà vua, tọa lạc trên một vùng rất rộng ở trung tâm thành phố, bao bọc bởi ba lóp tường thành, và cứ cách hai dặm có một cổng ra vào.
Được biết như vậy, ngày hôm sau, chàng đến một trong bốn khu phố đó. Hoàng tử không thể nhìn xem khu phố mà không đem lòng thán phục. Nó rộng rãi, có nhiều đường ngang ngõ dọc; đường đi có vòm che nắng nhưng vẫn sáng sủa. Các cửa hiệu đều cùng một tầm cỡ và được bố trí cân xứng. Những hiệu bán cùng một mặt hàng không phân tán ra các nơi mà tập trung về cùng một dãy phố, lập thành phường. Những nhà làm nghề thủ công cũng như vậy.
Vô số các cửa hiệu, chứa đầy cùng một loại hàng, như các loại vải vóc đẹp nhất từ các vùng trong nước Ấn Độ, những tấm vải in màu rất tươi, có hình người, phong cảnh, cây cỏ, hoa lá; những loại lụa và gấm Ba Tư, gấm Trung Quốc hoặc từ nhiều nơi khác; hàng sứ Nhật Bản và sứ Trung Hoa; những tấm thảm to nhỏ đủ cỡ, tất cả cùng được bày ra khiến chàng cực kỳ ngạc nhiên, tưởng khó có thể tin vào mắt mình.
Nhưng, khi tới phường các hiệu buôn vàng bạc và ngọc ngà – vì hai ngành này thường chung một nhà buôn – chàng tưởng chừng mê mẩn khi nhìn thấy một khối lượng cực lớn những hàng mỹ nghệ bằng vàng và bằng bạc. Mắt chàng lóa đi trước ánh lấp lánh của ngọc trai, kim cương, hồng ngọc, tử ngọc, bích ngọc cùng nhiều loại đá quý khác. Đã ngạc nhiên vì bấy nhiêu của cải tập trung một nơi, chàng còn kinh ngạc hơn nhiều khi nghĩ đến sự giàu có của cả vương quốc nói chung, bằng chứng là trừ những người theo đạo Bàlamôn hoặc thờ các thần giáo khác vốn xa lánh mọi thứ phồn hoa trên đời, khắp cả nước không một người dân bản địa nào, nam hoặc nữ, mà không đeo ở cổ tay, vòng chân các chuỗi đính châu ngọc, những thứ này càng sáng chóe hơn bởi vì nước da họ đen nhánh.
Một đặc điểm làm hoàng tử Hutxanh rất thán phục là nhìn thấy rất đông người bán hoa hồng. Họ chiếm số đông hơn cả trong các phố xá. Chàng cho rằng người bản địa hẳn thích loại hoa này lắm, vì không một người nào là không cần một bó ở tay hoặc đeo thành vòng ở trên đầu, không một nhà buôn nào không bày nhiều lọ hoa trong hiệu của mình, khiến cho tất cả khu phố, rộng đến như vậy đấy, mà vẫn thơm nức mùi hoa.
Sau khi đi xem xét hết cả khu, đi từ phố này sang phố khác, lóa mắt bởi bao nhiêu là của cải, hoàng tử Hutxanh thấy đến lúc cần nghỉ. Chàng ngỏ ý đó với một nhà buôn. Người này rất lịch sự mời chàng vào ngồi ở cửa hiệu của mình. Chàng nhận lời. Ngồi trong hiệu buôn này chưa được bao lâu, bỗng chàng trông thấy xuất hiện một người rao hàng mang trên tay một tấm thảm rộng chừng sáu bộ, nói muốn bán đấu giá tấm thảm này, và đặt giá sàn từ ba mươi túi trở lên.[2]
Chàng gọi người rao hàng vào cho xem tấm thảm và thấy giá ấy quá lố, không những vì tấm thảm bé tẹo mà chất lượng cũng tồi. Sau khi xem xét kỹ, chàng bảo người rao hàng mình không thể hiểu được sao một tấm thảm trải nhà bé và chẳng lấy gì làm đẹp thế này, lại được đặt giá cao đến thế.
Tưởng hoàng tử Hutxanh là một nhà buôn, người rao hàng đáp:
- Thưa ngài, ngài cho rằng giá ấy quá cao, ngài hẳn sẽ ngạc nhiên nhiều nữa nếu biết rằng tôi được lệnh đòi cho được bốn mươi túi trở lên mới bán, và chỉ giao tấm thảm cho người nào trả đúng giá đó mà thôi.
- Như vậy là, – hoàng tử Hutxanh nói – nó còn có một mặt nào đó quý báu mà tôi chưa được biết.
- Ngài đoán đúng rồi đấy, thưa ngài, – người rao hàng lại nói – rồi ngài sẽ cho giá cả ấy phải chăng, nếu ngài biết rằng, cứ ngồi lên trên tấm thảm ấy ta muốn đi đến đâu thì lập tức nó chở ta bay đến ngay trong chốc lát, mà không bao giờ bị một trở lực nào ngăn cản.
Câu nói của người rao hàng làm cho hoàng tử nghĩ ra, bởi mục đích chính trong chuyến đi này của chàng là tìm và mang về cho phụ vương một vật hiếm hoi đặc biệt chưa từng ai nghe nói tới bao giờ. Vậy thì chàng không thể kiếm đâu ra một vật nào khác có thể làm hài lòng Người hơn. Chàng bảo người rao hàng:
- Nếu quả thực tấm thảm đó có đặc tính như anh vừa nói, thì không những ta tin là bỏ ra bốn mươi túi tiền để mua nó cũng không lấy gì làm đắt, mà hơn nữa ta còn có thể bằng lòng mua ngay với giá ấy, lại còn thưởng thêm cho anh một món làm anh hài lòng.
- Thưa ngài, – người rao hàng đáp – tôi đã nói sự thật, và cũng dễ làm cho ngài tin chắc thôi. Chỉ cần ngài ngã giá bốn mươi túi, tôi sẽ làm thử cho ngài coi. Chắc ngài không mang theo sẵn bốn mươi túi trong người, để nhận đủ tiền, hẳn tôi cần phải đi cùng với ngài về cái khan ngài trọ. Vậy thì nếu được sự đồng ý của ông chủ đây, chúng ta xin phép sẽ lui ra sau cửa hiệu, tôi trải tấm thảm ra, ngài cùng tôi ngồi lên trên đó. Lúc ấy ngài và tôi cùng có điều ước là, được đến căn buồng ngài thuê; nếu chúng ta không được đưa đến đó ngay tức khắc thì coi như không có chuyện mua bán nữa, và ngài không còn bị ràng buộc gì. Còn về khoản hoa hồng, vì đã có người bán trả công cho tôi rồi, tôi sẽ rất cảm kích mà đón nhận món tiền thưởng của ngài như một ân huệ ngài ban cho.
Thấy người rao hàng có vẻ nhiệt thành, hoàng tử đồng ý mua theo điều kiện vừa nói. Được phép của ông chủ, hai người lui vào nhà sau. Hoàng tử vừa tỏ ý muốn được về phòng riêng của mình ở trong khan, nhoáng một cái, chàng đã thấy mình ở trong căn phòng, mà vẫn ngồi trên tấm thảm. Vì không còn cần gì khác hơn nữa để chắc chắn về đặc tính của tấm thảm, chàng liền trả cho người rao hàng bốn mươi túi tiền vàng, lại còn thưởng riêng cho anh ta hai mươi đồng vàng nữa.
Như vậy đó, hoàng tử Hutxanh trở thành người sở hữu tấm thảm. Chàng cực kỳ mừng rỡ vì vừa mới tới Bixnaga chưa lâu, đã kiếm được một vật hiếm hoi dường ấy, nhờ đó, chắc chắn sẽ lấy được nàng Nurunniha. Quả vậy, chàng cho rằng không thể nào hai chú em của mình có thể mang về sau chuyến đi của họ một vật gì khả dĩ so sánh với tấm thảm mà chàng đã may mắn mua được. Chẳng lưu lại ở Bixnaga lâu hơn làm gì nữa, chàng có thể ngay ngày hôm đó, ngồi lên tấm thảm và trở lại nơi hẹn mà ba anh em đã thỏa thuận với nhau, nhưng như vậy thì chàng sẽ phải chờ ở đấy quá lâu. Vốn hiếu kỳ, muốn nhìn thấy tận mắt quốc vương Bixnaga và triều đình của ông ta, tìm hiểu lực lượng, luật pháp, phong tục, tôn giáo và hiện trạng của nước này, chàng định bụng để ra mấy tháng để thỏa mãn sự hiếu kỳ của mình.
Quốc vương Bixnaga có lệ, mỗi tuần một lần, tiếp xúc với các nhà buôn người ngoại quốc. Chính dưới danh nghĩa ấy mà hoàng tử Hutxanh, không muốn để lộ mình là ai, được gặp vua nhiều lần. Vốn là một người rất khôi ngô, cực kỳ thông minh và hết mực lịch sự (chính vì vậy mà chàng nổi bật giữa các thương nhân cùng vào yết kiến), chàng thường được quốc vương Bixnaga ngỏ lời nhiều lần hơn các nhà buôn khác để hỏi về vua nước Ấn Độ, về lực lượng quân sự, các nguồn tài nguyên và về chính phủ của đế quốc này.
Hoàng tử dành những ngày khác đi xem những gì đáng chú ý nhất trong thành phố và các vùng phụ cận.
Chàng có đến xem một ngôi đền thờ tượng thần, kiến trúc thật đặc biệt, mỗi bề rộng chừng mười cánh tay[3] và cao mười lăm cánh. Vật đẹp nhất trong ngôi đền này là một tượng đúc bằng vàng khối, cao tày người thật, hai mắt là hai viên ngọc được gắn vào một cách tài tình, đến nỗi bất kỳ ai đứng ở đâu mà nhìn cũng đều tưởng như đôi mắt ấy đang ngó mình vậy.
Chàng còn đi xem một ngôi đền khác cũng đáng lấy làm lạ không kém. Ngôi đền này được xây cất trong một làng. Ở đây có khu đất bằng phẳng rộng chừng mươi mẫu, đúng là một khu vườn kỳ thú, trồng nhiều hoa hồng và các loại hoa khác rất đẹp mắt, chung quanh có tường cao ngang tầm tựa, chỉ nhằm ngăn không cho súc vật vào trong vườn. Giữa bãi đất bằng có một nền đắp cao bằng người, lát đá ghép với nhau một cách cẩn thận và tinh xảo đến nỗi thoạt nhìn tưởng như cả nền là một phiến đá nguyên. Ngôi đền có cái tháp, xây chính giữa nền đá, cao tới năm mươi cánh tay, nhờ thế, đứng cách xa nhiều dặm đã nhìn thấy tháp. Đền có chiều dài ba mươi cánh tay, rộng hai mươi cánh tay, xây bằng cẩm thạch đỏ cực kỳ nhẵn bóng. Tháp được trang trí ba hàng tranh, màu sắc tươi và đẹp. Ngôi đền nhan nhản những tranh vẽ, phù điêu, tượng gỗ; từ trên cao xuống sát đất, không hở chỗ nào không có trang trí tranh và tượng.
Sáng sáng, chiều chiều trong đền đều có cúng lễ; tiếp đó là các trò vui, hòa nhạc, nhảy múa, hát ca, yến tiệc.
Những người lo việc thờ phụng ngôi đền cũng như dân chúng cả vùng sống nhờ vào lễ vật của rất đông người hành hương từ mọi nơi xa xôi nhất trong vương quốc đến cầu khẩn và cúng tiến.
Hoàng tử Hutxanh còn được chứng kiến một buổi lễ trọng thể vẫn cử hành hằng năm tại triều đình Bixgana. Tất cả các vị thống đốc tỉnh, chỉ huy các đồn trú, đốc lý và thẩm phán các thành phố và các nhà tu hành đạo Bàlamôn nổi tiếng về đạo pháp, đều buộc phải về dự đông đủ lễ này. Có những người ở xa đến nỗi phải đi mất bốn tháng trời mới tới kinh đô, dự xong phải mất bốn tháng đi đường nữa mới trở về đến nhà. Người tham dự lễ gồm không biết cơ man nào là dân bản địa, tụ tập trên một cánh đồng rộng, tạo nên một cảnh tượng lạ lùng, người đông nhìn đến hút tầm mắt.
Chính giữa đồng bằng ấy, có một quảng trường rất dài và rất rộng, bốn mặt có những giàn cao. Mặt chính là một khối nhà kiểu giàn giáo cao chín tầng, dựng trên bốn mươi cột, dành riêng cho nhà vua, triều đình, và các vị khách ngoại quốc mà vua cho triều yết mỗi tuần một lần. Bên trong có kê sẵn bàn ghế và được trang hoàng lộng lẫy. Phía bên ngoài vẽ tranh phong cảnh, có cầm thú, côn trùng, thậm chí vẽ cả ruồi và muỗi, tất cả đều to bằng thật. Ba mặt kia là những giàn cao ít ra bốn hoặc năm tầng, sơn vẽ đại thể như nhau. Những giàn này có cái đặc biệt là có thể cứ mỗi giờ một thì được cho quay quanh trục của nó, để người xem dù đứng một chỗ vẫn nhìn đủ các mặt và cách trang trí ở từng mặt một.
Hai bên quảng trường, cách nhau không xa mấy, xếp hàng một nghìn con voi mang bành đai rực rỡ, trên lưng mỗi con có một bành vuông bằng gỗ thếp vàng dành cho các nhạc công và kịch sĩ ngồi. Vòi voi, tai voi và cả mình voi đều được vẽ những hình thù cổ quái bằng châu sa và bột phấn đủ màu sắc.
Trong tất cả cảnh tượng ấy, điều làm cho hoàng tủ Hutxanh khâm phục hơn cả là cảnh một con voi khỏe nhất trong tất cả đàn, nhưng bốn chân lại đứng chụm trên một cái cột chôn thẳng đứng, cao hơn mặt đất chừng hai bộ. Nó cứ đứng chông chênh như vậy rồi theo tiết tấu nhạc mà giơ vòi đánh nhịp. Lại có một con voi khác, cũng không kém to, đứng vắt vẻo trên đầu một cái xà gỗ gác ngang trên cái cọc cao chừng mười bộ; đầu kia xà treo một tảng đá lớn để làm đối trọng. Trước mặt nhà vua và triều đình, chú voi này chơi bập bênh theo điệu nhạc, khớp với nhịp của chú voi kia. Muốn cho con voi bước lên xà gỗ, những người dân, sau khi buộc chặt tảng đá vào đu xà, xúm nhau thật đông vít đầu kia xuống.
Hoàng tử Hutxanh còn có thể lưu lại lâu hơn nữa ở triều đình và vương quốc Bixnaga. Còn cơ man là những điều kỳ thú khác có thể giữ chân chàng một cách thú vị cho tới ngày cuối cùng của thời hạn một năm, mà các hoàng tủ giao ước sẽ gặp lại nhau. Nhưng, vì đã hoàn toàn thỏa thuê với những gì mà mình thấy, (và từ khi chàng mua được tấm thảm lại càng nung nấu thêm tình yêu cuồng nhiệt đối với Nurunniha), chàng cho rằng về gần nơi nàng ở hơn thì tâm trí mình mới được yên tĩnh hơn vì có vẻ gần gũi với hạnh phúc hơn.
Sau khi thanh toán đầy đủ với người quản lý khan số tiền thuê phòng, chàng hẹn người đó đến nhận chìa khóa sẽ treo ở trước cửa phòng, mà không nói rõ mình sẽ ra đi bằng cách nào. Chàng vào buồng, đóng cửa lại, để chìa khóa ở ngoài. Chàng trải tấm thảm, rồi cùng viên võ quan theo hầu ngồi lên trên. Tập trung tâm trí lại vừa tỏ ý ước mong một cách nghiêm túc được trở về trú xá, nơi đã hẹn gặp hai hoàng tử em, chàng chợt thấy mình đã tới nơi. Chàng lưu lại đấy, vẫn dưới dạng cải trang thành nhà buôn, chờ hai em trai trở về.
Hoàng tử Ali, người em thứ hai của hoàng tử Hutxanh, vốn có ý định sang Ba Tư để thực hiện ý muốn của phụ vương. Sang ngày thứ ba kể từ khi chia tay nhau, chàng sáp nhập vào một đoàn lữ hành lên đường sang nước ấy. Sau một chuyến đi dài gần bốn tháng, cuối cùng chàng tới Sirazơ, hồi bấy giờ là kinh đô vương quốc Ba Tư. Dọc đường, chàng làm quen và kết bạn với một nhóm nhỏ các nhà buôn và tự xưng mình là người buôn kim hoàn, chàng trọ chung với họ trong cùng một cái khan.
Ngày hôm sau, trong khi các nhà buôn khác mải tháo dỡ các hòm hàng hóa của họ, thì hoàng tử Ali chỉ cần bỏ bót hành trang cho thoải mái, thay áo quần rồi nhờ người dẫn tới khu phố bán ngọc ngà, hàng vàng hàng bạc, gấm vóc lụa là, cùng những thứ hàng hiếm nhất và quý nhất.
Khu phố này rất rộng, xây dựng kiên cố, trên có mái vòm đỡ bằng những cột trụ lớn. Các hiệu buôn dàn ra bốn chung quanh, dọc theo các tường, cả bên trong lẫn bên ngoài tường, ở Sirazơ, người ta gọi khu này là chợ trời.
Thoạt tiên, hoàng tử Ali đi quanh một lượt. Chàng rất thán phục trước số lượng cực kỳ lớn những hàng hóa quý giá bày ra ở đây. Giữa đám đông những người đi đi lại lại cầm hàng trên tay, vừa đi vừa rao giá, chàng khá ngạc nhiên thấy một người cầm một cái ống bằng ngà voi dài chừng một bộ và chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái một chút, thế mà đặt giá những bốn mươi túi tiền. Lúc đầu, chàng cho rằng cu cậu này có vẻ hơi lẩm cẩm. Để làm sáng tỏ, chàng ghé vào một hiệu buôn, trỏ người rao hàng và hỏi ông chủ hiệu:
- Thưa ngài, xin ngài vui lòng cho tôi rõ, chàng rao bán cái ống ngà voi kia với giá những bốn mươi túi tiền, có phải là đầu óc hắn ta không được bình thường lắm chăng?
- Thưa ngài, – người chủ hiệu đáp – trừ phi anh ta mới bị mất trí hôm qua, tôi có thể quả quyết với ngài đấy là người rao hàng khôn ngoan nhất và được người ta thuê mướn nhiều nhất ở đây. Anh ta là người được tin cậy hơn cả khi có ai muốn nhờ bán một vật gì rất đắt tiền. Còn cái ống ngà voi mà anh ta rao bán những bốn mươi túi ấy, nhất định giá nó là như vậy, mà còn có thể cao hơn nữa là khác, do một đặc điểm nào đấy mà chúng ta chưa rõ. Anh ta sắp quay trở lại đây trong chốc lát. Chúng ta sẽ gọi anh ta vào, và mời ngài sẽ tự hỏi lấy cho rõ. Trong khi chờ đợi, xin mời ngài ngồi nghỉ tạm ở trường kỷ của tôi.
Hoàng tử Ali không từ chối lời mời lịch sự của nhà buôn. Lát sau, người rao hàng quay trở lại. Nghe nhà buôn gọi đúng tên, anh ta tiến đến gần. Trỏ vào chỗ hoàng tử Ali ngồi, nhà buôn bảo:
- Ngài đây có hỏi cậu có mất trí không, mà đòi tới ba mươi túi tiền một cái ống ngà voi xem ra chẳng có mấy giá trị. Cậu hãy trả lời ngài đi. Chính tôi cũng sẽ rất ngạc nhiên về giá cả đó, nếu không biết trước cậu vốn là một con người khôn ngoan.
Hướng về hoàng tử Ali, người rao hàng đáp:
- Thưa ngài, không phải ngài là người đầu tiên cho tôi là điên, vì chuyện cái ống bằng ngà voi này. Nhưng xin ngài hãy tự suy xét lấy sau khi tôi trình bày ngài nghe đặc tính của nó. Tôi hy vọng lúc ấy ngài cũng sẽ tham gia cuộc bán đấu giá như những người mà tôi đã đưa cho xem, lúc đầu họ cũng nghĩ không đúng về tôi y như ngài vừa rồi.
- Trước hết, thưa ngài, – người rao hàng đưa cái ống cho hoàng tử xem và nói tiếp – xin hãy chú ý cái ống này, mỗi đầu có gắn một tấm kính, mong ngài biết cho rằng hễ nhìn vào một đầu ống và trong lòng mình đang mong muốn được thấy bất kỳ ai, thì sẽ nhìn thấy người đó ngay tức khắc.
- Ta chịu bồi thường danh dự cho anh, – hoàng tử Ali nói – nếu anh giúp ta thấy đúng như lời anh nói.
Vì đang cầm cái ống trên tay, chàng ngắm nghía hai đầu và nói:
- Để ta làm thử!
Người rao hàng chỉ dẫn. Hoàng tử vừa nhìn vào ống vừa nảy ra mong ước được thấy quốc vương Ấn Độ, thì liền trông thấy ngay cha mình đang hoàn toàn khỏe mạnh, ngồi trên ngai, giữa quần thần. Bởi vì sau nhà vua, không còn ai thân thiết với chàng hơn công chúa Nurunniha, tiếp đó chàng ngỏ lòng mong ước muốn thấy nàng, thế là lại nhìn thấy ngay công chúa đang đứng giữa đám người hầu. Hoàng tử Ali không cần có thêm bằng chứng gì nữa để tin chắc cái ống này là vật quý báu nhất thời bấy giờ, không riêng ở kinh đô Sirazơ mà trong khắp cả vũ trụ. Chàng nghĩ rằng, nếu bỏ qua cơ hội không mua, thì chẳng bao giờ còn có thể gặp được một của hiếm hoi như vậy để mang về sau chuyến đi của mình, cho dù chàng có lưu lại mười năm ở Sirazơ hoặc ở những nơi nào khác. Chàng bảo người rao hàng:
- Ta xin rút bỏ ý kiến không đúng của ta hồi nãy, cho rằng hình như anh không được minh mẫn lắm. Nhưng, ta nghĩ anh sẽ hài lòng với cách sửa sai của ta, nếu ta bằng lòng mua cái ống này. Ta sẽ không vui nếu có một người nào khác chứ không phải ta, mua được nó. Vậy anh hãy cho ta rõ, người bán định đúng giá là bao nhiêu. Như vậy, anh khỏi phải vất vả đi đi lại lại, tốn hơn sức rao nhiều hơn nữa, mà chỉ cần về chỗ ta ở, ta sẽ đếm trả cho anh đủ số tiền.
Người rao hàng thề rằng mình được lệnh bán với giá bốn mươi túi tiền; nếu chàng còn chút nghi ngờ, anh ta xin dẫn chàng đến gặp trực tiếp người bán. Hoàng tử tin lời, đưa anh ta đi theo. Về tới khan chàng trọ, chàng đếm giao đủ cho anh ta bốn mươi túi tiền bằng tiền tốt, và thế là chàng trở thành người chủ sở hữu cái ống bằng ngà voi.
Mua được vật ấy rồi, hoàng tử Ali cực kỳ vui sướng. Chàng tin chắc hai hoàng tử anh và em của mình không thể nào bắt gặp một vật quý báu như thế này; và như vậy hẳn công chúa Nurunniha sẽ là phần thưởng cho chuyến đi vất vả của mình. Chàng chỉ còn việc tìm hiểu về triều đình nước Ba Tư, mà không để lộ diện. Chàng đi xem những điều kỳ lạ nhất ở Sirazơ và các vùng phụ cận, trong khi chờ đợi có đoàn lữ hành để sáp nhập và lên đường trở lại Ấn Độ. Chàng vừa thỏa mãn sự hiếu kỳ của mình thì cũng vừa lúc có đoàn lữ hành chuẩn bị khởi hành. Hoàng tử liền cùng đoàn lên đường, chuyến đi không gặp bất trắc, trừ những ngày dài đằng đẵng và nỗi mệt nhọc đường trường. Chàng may mắn về tới nơi hẹn, ở đây hoàng tử Hutxanh đã tới trước rồi. Hai anh em gặp nhau, cùng nán lại chờ hoàng tử Atmét.
Hoàng tử Atmét đã lên đường đi Xamacăng. Cũng như hai ông anh, vừa mới tới nơi hôm trước, là hôm sau ra chợ trời ngay. Chàng vừa bước vào chợ, đã gặp một người rao hàng đi tới, tay cầm một quả táo nhân tạo, và đặt giá ba mươi lăm túi tiền. Chàng giữ anh ta lại và bảo.
- Hãy đưa ta xem quả táo, và hãy nói cho ta biết, do đặc tính kỳ lạ nào mà nó được rao giá cao như thế?
Đặt quả táo vào tay cho chàng xem xét, người rao hàng thưa:
- Thưa ngài, nhìn bề ngoài thì quả táo này chẳng đáng giá bao nhiêu, nhưng xét về tính chất, cách dùng và tác dụng của nó cho lợi ích của con người, thì có thể nói rằng nó vô giá. Chắn chắn người nào sở hữu nó là sở hữu cả một kho tàng. Quả vậy, không một người ốm nào, cho dù bị bệnh tình nguy kịch đến đâu, như sốt kéo dài, sốt phát ban, viêm phổi, dịch hạch hoặc những bệnh khác đại loại, thậm chí đã thập tử nhất sinh, mà quả táo này không chữa khỏi. Người bệnh hoàn toàn phục hồi sức khỏe ngay tức khắc, như thể cả đời chưa từng ốm đau bao giờ. Hơn nữa, cách chữa lại hết sức giản đơn, tức là chỉ cần cho người bệnh ngửi quả táo.
Hoàng tử Atmét nói:
- Theo lời anh thì quả táo này thật có đặc tính diệu kỳ, có thể nó vô giá. Nhưng, một người thật thà như tôi, có thể tôi muốn mua đấy, thì biết căn cứ vào đâu để tin rằng lời giới thiệu của anh là không quá đáng?
- Thưa ngài, – người rao hàng đáp – cả thành phố Xamacăng đều biết và đều chứng thực việc này. Chẳng cần đi đâu xa, xin ngài hãy cứ hỏi các vị thương nhân tụ tập ở đây; ngài sẽ nghe họ nói thế nào. Hơn nữa, chắc ngài còn có thể được nhiều vị cho biết, họ đã không còn sống đến bây giờ nếu không được dùng môn thuốc ấy. Để ngài hiểu tường tận hơn, tôi xin nói thêm, đây là kết quả sau bao nhiêu đêm trường miệt mài nghiên cứu của một vị học giả rất nổi danh ở thành phố này. Suốt đời, ông ta chuyên tìm hiểu những đặc tính của thảo mộc, khoáng chất, và cuối cùng đã đi tới chỗ tổng họp được cái quả mà ngài trông thấy đây. Nhờ vậy, ông đã chữa khỏi nhiều cơn bệnh kỳ lạ ở thành phố này, khiến cho tiếng tăm của ông trở nên bất hủ. Chẳng may ông qua đời đột ngột đến mức không kịp dùng môn thuốc thần của mình, để lại người vợ góa cùng một đàn con đông với rất ít tài sản. Cuối cùng, bà ta đành phải đi đến chỗ quyết định cho bán vật này đi để đỡ đần gia đình mẹ góa con côi.
Trong khi người rao hàng trình bày cho hoàng tủ Atmét nghe về những đặc tính của quả táo nhân tạo, thì có nhiều người dừng chân và tụ tập chung quanh để nghe, phần đông xác nhận anh ta nói đúng sự thật. Vừa lúc ấy, có một người cho biết, anh ta có một người bạn mắc một cơn bệnh hiểm nghèo hiện đang gần đất xa trời, đây là một cơ hội thuận lợi để làm thực nghiệm tác dụng của quả táo cho hoàng tử Atmét xem. Hoàng tử Atmét liền bảo người rao hàng, mình thuận mua với giá bốn mươi túi tiền, nếu anh ta cho người bệnh kia ngửi quả táo và chữa lành cho người ấy.
Vốn đã được lệnh bán với giá ấy, người rao hàng đáp:
- Thưa ngài, chúng ta hãy cùng đi làm cuộc thực nghiệm, rồi quả táo sẽ thành vật sở hữu của ngài. Tôi rất tin tưởng như vậy vì chắc chắn lần này nó cũng sẽ có hiệu quả như bao nhiêu lần trước, nó đã đưa trở lại cuộc sống cho bao người từng bước chân vào ngưỡng cõi chết, bởi mắc phải những bệnh tưởng chừng vô phương cứu chữa.
Cuộc thực nghiệm thành công. Hoàng tử, sau khi trả đủ cho người rao hàng bốn mươi túi tiền mua quả táo nhân tạo, rất nôn nóng chờ đoàn lữ hành đầu tiên lên đường trở về đất nước Ấn Độ. Trong khi chờ đợi, chàng dùng thời giờ đi xem những gì đáng gợi sự hiếu kỳ nhất ở Xamacăng và các vùng phụ cận, nhất là ở thung lũng Xôtđơ. Thung lũng này vẫn được người A Rập coi là một trong bốn cõi thiên đàng trong hạ giới, bởi vẻ đẹp của những đồng ruộng và vườn cây bao quanh các lâu đài, bởi vị ngon ngọt của đủ loại cây trái, cùng những lạc thú khác mà con người được hưởng ở đây vào mùa đẹp trời.
Hoàng tử Atmét không bỏ lỡ cơ hội theo đoàn lữ hành đầu tiên trở về Ấn Độ. Chàng vượt qua mọi nỗi gian lao của một chuyến đi dài, về tới được trú xá khỏe mạnh bình yên. Ở đây, hai hoàng tử Hutxanh và Ali cũng hoàn toàn sung sức, đang đợi chàng.
Hoàng tử Ali vừa về trước hoàng tử Atmét được ít lâu. Chàng có hỏi hoàng tử Hutxanh, người trở về đầu tiên và được biết anh đã trở về ngót ba tháng nay rồi, chàng ngạc nhiên:
- Vậy ra anh không phải đi xa lắm?
- Bây giờ thì chưa thể nói được với chú nơi ta đến. -Hoàng tử Hutxanh đáp. – Nhưng có thể khẳng định rằng ta phải bỏ mất hơn ba tháng mới đi được tới nơi.
- Nếu vậy thì anh chẳng lưu lại đó ít thời gian lắm sao?
- Hoàng tử Ali lại hỏi.
- Chú em ạ, chú nhầm rồi, – hoàng tử Hutxanh nói
- Anh lưu lại đấy chừng bốn, năm tháng, và tại anh không muốn lưu lại lâu hơn nữa đó thôi.
- Trừ phi là anh từ đó bay về đây, – hoàng tử Ali nói – còn không em không thể nào hiểu nổi, như vậy thì làm sao anh có thể về đây đã hơn ba tháng rồi, như lời anh vừa bảo.
- Anh đã nói sự thật. – Hoàng tử Hutxanh nói tiếp. – Đó là điều bí mật mà anh chỉ giải thích cho chú hay chừng nào hoàng tử Atmét cũng có mặt ở đây. Lúc đó, anh sẽ cho hai chú biết vật hiếm mà anh mang về từ chuyến đi ấy. Về phần chú, anh không rõ chú mang về được thứ gì, hẳn là ít ỏi lắm, quả vậy, anh thấy hành trang của chú chẳng có gì nhiều nhặn thêm.
- Còn anh, đức anh ạ, – hoàng tử Ali đáp – ngoài tấm thảm trông chẳng lấy gì làm đẹp để trên chiếc ghế anh ngồi kia, mà có vẻ như anh vừa tậu được, em nghĩ là em có thể nói với anh câu anh vừa bảo em đó. Nhưng, vì anh có vẻ muốn giữ bí mật vật quý hiếm mới mang về, xin anh vui lòng cho em cũng được làm như vậy về vật quý hiếm em đã mua.
Hoàng tử Hutxanh nói:
- Anh cho là vật hiếm anh mang về đây quý hiếm hơn tất cả mọi vật khác trên đời. Vì vậy anh chẳng khó dễ gì mà không đưa cho chú xem và chỉ cho chú rõ nó hiếm ở chỗ nào. Anh tin rồi chú sẽ đồng tình với anh. Tuy nhiên, nên đợi hoàng tử Atmét, em út của chúng ta, cùng có mặt ở đây thì tốt hơn. Lúc đó ba chúng ta sẽ cho nhau xem những vật báu mà vận may đưa tới cho mỗi người, một cách thoải mái và có tình có lý hơn.
Hoàng tử Ali không muốn tranh luận thêm với anh. Chàng tin rằng nếu đưa cái ống của mình ra khoe thì dù nó không hơn cũng không thể nào kém vật báu của ông anh. Vì vậy chàng thỏa thuận là nên chờ hoàng tử Atmét có mặt, rồi sẽ cùng nhau phô ra luôn một thể.
Khi hoàng tử Atmét về tới nơi, ba anh em thương mến ôm hôn và cùng chúc mừng hạnh phúc được gặp lại nhau ở đúng nơi từng chia tay nhau năm trước. Với tư cách là anh cả, hoàng tử Hutxanh cất lời nói:
- Các em ạ, chúng ta sẽ còn khối thời giờ để thuật cho nhau nghe những điều đặc biệt trong các chuyến đi của mỗi người. Giờ ta hãy nói tới việc quan trọng cần thiết hơn cả. Anh tin rằng các em cũng như anh, còn nhớ rõ mục đích khiến chúng ta phải ra đi. Vậy thì chúng ta chớ nên giấu nhau về báu vật chúng ta mang về. Chúng ta đưa cho nhau xem, rồi cùng nhau cân nhắc trước một cách công bằng, và xem thử rồi phụ vương chúng ta sẽ chuộng vật nào hơn cả.
- Để nêu gương, – hoàng tử Hutxanh nói tiếp – anh xin nói rằng báu vật mà anh mang về sau chuyến đi đến vương quốc Bixnaga, là tấm thảm anh đang ngồi lên trên đây. Như các em thấy đấy, trông nó bề ngoài chẳng có gì đẹp mã, nhưng khi nghe anh trình bày đặc tính của nó rồi, thì các em sẽ cực kỳ thán phục, bởi vì chưa từng nghe ai nói tới một vật như vậy bao giờ, và rồi các em sẽ đồng ý với anh thôi.
Quả vậy, trông nó như vậy đấy, nhưng nếu ta ngồi lên trên thảm, y hệt như chúng ta đang ngồi ở chỗ này, và đồng thời nếu ta tỏ ý muốn đi tới một nơi, cho dù xa xôi cách trở tới bao nhiêu, ta cũng sẽ tới được nơi đó ngay tức khắc. Anh đã làm thực nghiệm trước khi trả đủ bốn mươi túi tiền theo đúng giá của nó, mà chẳng tiếc rẻ gì. Sau khi đã thỏa mãn đầy đủ những điều muốn tìm hiểu về vương quốc Bixnaga, lúc trở về, anh đã chẳng dùng tới xe cộ gì khác ngoài tấm thảm kỳ diệu này, nó đã chở anh và cùng với chú hầu của anh về đây. Chú hầu có thể nói cho các em rõ đã đi mất bao nhiêu thời gian. Anh sẽ làm thực nghiệm cho hai em xem, chừng nào các em thấy thuận tiện. Bây giờ anh chờ đến lượt các em cho biết, có mang được báu vật gì về khả dĩ so sánh với tấm thảm của anh không?
Hoàng tử Hutxanh phô trương sự quý hiếm của tấm thảm mình đến đấy là thôi. Hoàng tử Ali liền cất lời, nói với chàng như sau:
- Thưa anh, phải nhận rằng tấm thảm của anh là một trong những vật kỳ diệu nhất mà con người có thể tưởng tượng nên, nếu như nó có đặc tính đúng như anh vừa trình bày, mà riêng em chẳng chút nghi ngờ. Nhưng em xin thú thật rằng còn có nhiều vật khác nữa, em không dám nói hơn nhưng ít ra cũng kỳ diệu ngang tấm thảm, theo một cách khác. Để được anh đồng tình, em xin nói cái ống bằng ngà voi của em đây, trông bề ngoài cũng như tấm thảm của anh, chẳng có vẻ gì là một vật hiếm đáng cho ta chú ý nhiều lắm. Tuy nhiên, em đã phải mua nó không kém tiền tấm thảm của anh, và em cũng hài lòng về việc mua bán ấy chẳng khác gì anh. Người công minh như anh, chắc chắn sẽ đồng tình rằng em đã không bị đánh lừa, một khi anh biết rõ và thực nghiệm đặc tính của nó là cứ nhòm vào đầu ống, mà trong lòng ta lúc ấy muốn nhìn thấy ai, khắc sẽ trông thấy người đó ngay lập tức.
Đưa cái ống bằng ngà cho anh, hoàng tử Ali nói tiếp:
- Em không muốn anh chỉ tin lời em nói mà thôi, cái ống đây, xin anh thử nhìn xem có phải em muốn ép anh phải tin lời em hay không.
Hoàng tử Hutxanh đón cái ống ngà voi từ tay hoàng tử Ali. Muốn nhìn thấy công chúa Nurunniha và xem sức khỏe nàng hiện nay thế nào, chàng ghé mắt nhòm vào một đầu ống. Hai hoàng tử Ali và Atmét, đang dán mắt vào anh, đều cực kỳ ngạc nhiên thấy chàng đột ngột biến sắc, biểu lộ sự ngạc nhiên cực kỳ cùng nỗi buồn sâu sắc. Không để cho các em kịp hỏi, hoàng tử Hutxanh kêu lên:
- Các em ơi, thật uổng công cho ba anh em ta đã làm một chuyến đi vất vả dường này, với niềm hy vọng sẽ được thưởng công là mình sẽ kết hôn cùng nàng Nurunniha xinh đẹp. Nàng công chúa đáng yêu ấy không còn sống được bao lâu nữa. Anh vừa trông thấy nàng nằm trên giường bệnh, chung quanh các người hầu và bọn hoạn nô đang đầm đìa nước mắt, có vẻ như đang chờ nàng trút hơi thở cuối cùng. Đây, hai em hãy nhìn xem nàng trong tình trạng thảm thương ấy, và hãy cùng nhỏ nước mắt khóc nàng, giống như anh.
Hoàng tử Ali đón chiếc ống ngà từ tay hoàng tủ Hutxanh và nhìn vào; chàng trao tiếp chiếc ống cho hoàng tử Atmét, để cùng được nhìn thấy cảnh tượng đáng buồn quan hệ đến cả ba người.
Sau khi đón cái ống ngà voi từ tay hoàng tử Ali, nhìn vào và trông thấy rõ công chúa Nurunniha sắp tới lúc từ giã cõi trần, hoàng tử Atmét liền cất lời, thưa với hai anh:
- Thưa các anh, đúng là công chúa Nurunniha, niềm ước mơ của chúng ta, hiện đang trong tình trạng thập tủ nhất sinh. Nhưng, theo như em biết, chỉ cần chúng ta đừng để mất thời gian, nếu về kịp vẫn còn có cách cứu nàng khỏi phút giây tai hại này.
Thế là hoàng tử Atmét rút từ túi áo mình ra quả táo nhân tạo, đưa cho hai ông anh xem, và nói:
- Quả táo hai anh thấy đây cũng tốn cho em bằng số tiền các anh đã dùng để mua tấm thảm hoặc cái ống bằng ngà trong chuyến đi của các anh. Hiện đang có cơ hội để các anh thấy đặc tính diệu kỳ của nó. Xin nói ngay để các anh khỏi chờ đợi, đặc tính ấy là đưa quả táo này cho một người bệnh ngửi, dù người đó đang hấp hối, bệnh cũng sẽ thuyên giảm ngay tức khắc. Em tin chắc như vậy vì đã tự mình làm thực nghiệm, và em có thể lại thử cho các anh thấy ngay hiệu quả, qua việc cứu chữa cho công chúa Nurunniha, nếu chúng ta cùng khẩn trương lên để kịp cứu sống nàng.
- Nếu quả như vậy thì, – hoàng tử Hutxanh nói – không có cách nào nhanh bằng cách dùng tấm thảm của anh để chở cả ba anh em ta đến ngay trong phòng riêng của công chúa. Chớ để mất thời giờ, hai em hãy xích lại và cùng ngồi lên trên tấm thảm y như anh đây. Nó đủ rộng để cho cả ba ta cùng ngồi thoải mái. Nhưng, trước tất cả mọi sự, hãy truyền cho mấy tên hầu hãy lên đường trở về ngay và bảo chúng tìm gặp anh em ta ở hoàng cung.
Lệnh vừa nói được truyền cho những người hầu.
Hoàng tử Ali và hoàng tử Atmét đến ngồi lên trên tấm thảm cùng với hoàng tử Hutxanh.
Vì cùng có một mối quan tâm như nhau, ba người cùng ngỏ ý muốn được đến buồng công chúa Nurunniha. Ước mong của họ được thực hiện nhanh chóng tới mức trong nháy mắt đã đến nơi muốn đến, mà chẳng ai nhận ra mình đã rời khỏi trú xá như thế nào.
Sự xuất hiện đột ngột, chẳng ai chờ đợi của ba hoàng tử làm cho những người hầu và hoạn nô của công chúa hoảng hốt, không rõ bằng phép thần nào mà ba chàng cùng hiện ra giữa bọn họ như vậy. Lúc đầu, chưa ai nhận ra ngay. Bọn hoạn nô tưởng như sắp phải bổ nhào vào ba hoàng tử, mà họ coi như những người tự tiện đột nhập một nơi không ai được phép tới gần. Nhưng chúng đã nhanh chóng nhận diện được các ông hoàng.
Hoàng tử Atmét vừa thấy mình ở trong phòng riêng của công chúa và thấy nàng sắp qua đời, vội đứng lên khỏi tấm thảm cùng một lúc với hai ông anh. Chàng tiến tới gần giường và đặt quả táo thần dưới mũi nàng.
Lát sau, công chúa mở mắt, quay đầu ra hai bên, nhìn những người đang vây quanh, rồi ngồi nhỏm dậy đòi thay áo, vẻ thoải mái và tỉnh táo y hệt như vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Những người hầu đều vui mừng nhận thấy, chính nhờ ba hoàng tử, đặc biệt là hoàng tử Atmét, cho nên nàng mau chóng và đột ngột bình phục sức khỏe như vậy. Vì nàng đòi đi thay áo, các hoàng tử đành bằng lòng bày tỏ vắn tắt với nàng niềm vui sướng được về đúng lúc, để góp phần, mỗi người theo cách của mình, đưa nàng thoát khỏi hiểm nghèo. Ba chàng nồng nhiệt chúc nàng mạnh khỏe sống lâu, sau đó cả ba cùng lui ra.
❀ ❀ ❀
[1] ‘Nurunniha’ có nghĩa là ánh sáng.
[2] Mỗi túi đựng 500 đồng êquy, vậy là chiếc thảm được đặt giá 15.000 êquy. Túi ở đây chỉ một đại lượng, cũng giống như quan tiền của ta ngày trước (N.D).
[3] ‘Cánh tay’ (tính từ khuỷu đến hết ngón giữa), và ‘Sải tay’ đều là các đơn vị đo chiều dài cổ (ND).