Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 449 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN THƯƠNG GIA HATXAN – THỢ BỆN THỪNG (tt)

❊ ❊ ❊

Lúc ấy tôi mới kể lại cho vợ tôi nghe chuyện hai người bạn trở lại thăm và việc gì đã xảy ra giữa họ với tôi. Vợ tôi khấp khởi mừng được biếu con cá vừa dài vừa to thế này. Thị nói:

- Mình muốn tôi làm món gì bây giờ? Cái kẹp nướng của nhà chỉ nướng được con cá nhỏ, mà nhà thì chẳng có cái nồi nào đủ lớn để kho mặn cả con.

- Đó là công việc của bà, bà thích món gì bà làm món đấy; hoặc nướng, hoặc kho, tôi đều cho là được tất.

Nói xong, tôi trở về nơi làm việc.

Trong khi mổ cá, vợ tôi rút từ trong bộ lòng ra được một viên kim cương lớn, mà sau khi rửa sạch sẽ thị cho là viên ve chai. Thị cũng từng nghe nói đến kim cương thật đấy, nhưng cho dù có trông thấy hoặc sờ mó đến thứ ấy, cũng không đủ hiểu biết để phân biệt nó với ve chai. Thị mang cho đưa cháu bé nhất nhà tôi để nó làm đồ chơi. Mấy đứa lớn, anh chị nó, đều tranh nhau lần lượt cầm xem, trầm trồ khen là đẹp, viên bi đến là trong suốt và lấp la lấp lánh.

Buổi tối, nhà thắp đèn, lũ con tôi vẫn tiếp tục chuyền tay nhau chơi. Bà vợ tôi mang cây đèn đi đi lại lại trong khi làm món ăn, lũ trẻ nhận thấy, lúc đèn mang đi nơi khác, viên bi vẫn phát sáng, liền tranh nhau làm thử. Bị mấy đứa lớn giành mất, mấy đứa nhỏ khóc đòi, thế là lũ anh chị lại phải nhường cho em.

Một vật chẳng ra gì cũng có thể làm cho lũ trẻ con thích và giành giật lẫn nhau, nhưng việc đó vẫn thường xảy ra, cho nên cả vợ tôi và tôi đều chẳng ai để ý sao chúng nó làm ầm ĩ cả nhà. Các cháu chỉ chịu yên khi mấy đứa lớn ngồi vào bàn ăn với hai vợ chồng tôi, còn lũ bé thì được vợ tôi phần cho, mỗi đứa một bát cháo cá.

Ăn xong, lũ trẻ lại xúm xít tranh nhau chơi đùa ồn ào như trước. Tôi gọi thằng lớn đến hỏi có việc gì la ầm nhà lên vậy. Nó nói:

- Bố ạ, có một mảnh chai vụn, khi nào chúng con ngồi quay lưng vào đèn, thì nó lại phát sáng.

Tôi bảo nó mang đến để tự mình làm thử. Thấy chuyện lạ lùng quá, tôi gọi vợ tôi hỏi của này ở đâu ra và là thứ gì đây. Vợ tôi đáp:

- Tôi chẳng rõ, đó là một mảnh chai tôi móc ra từ ruột con cá khi làm lòng.

Cũng như vợ tôi, tôi không nghĩ đó là vật gì khác mảnh chai. Tuy nhiên, tôi vẫn còn làm thử cách khác nữa. Tôi bảo vợ tôi giấu đèn đi, thì cái gọi là mảnh chai ấy phát sáng tới mức không cần đèn ngủ. Tôi sai tắt đèn, và đặt mảnh chai đó lên lò sưởi, thay cho đèn. Tôi nói:

- Đây là thêm một cái lợi nữa mà hòn chì của người bạn ông Xătđi mang lại cho chúng ta; thế cũng đỡ được tiền mua dầu.

Khi lũ trẻ con thấy mảnh chai có thể thay cho đèn thì chuyện kỳ diệu ấy càng làm chúng reo hò lớn, đến nỗi các nhà hàng xóm cũng đều nghe tiếng.

Chúng ồn ào tới mức vợ tôi và tôi la mắng mãi chúng cũng chẳng chịu yên; đến khi đi nằm chúng còn chuyện trò một lúc khá lâu về sự kỳ diệu của mảnh chai rồi mới ngủ, lúc này trong nhà mới yên ắng.

Vợ tôi và tôi cũng đi nằm với lũ trẻ, và sáng hôm sau, chẳng nghĩ gì tới vật ấy nữa, tôi đi làm rất sớm theo lệ thường. Chẳng có gì lạ nếu chuyện đó xảy ra với tôi, một con người cả đời chỉ thấy chai lọ thủy tinh, chưa bao giờ nhìn thấy kim cương. Nếu có nhìn thấy chăng nữa, thì cũng chẳng chú ý để biết giá trị của thứ ấy. Tôi xin phép được lưu ý Người là, giữa nhà chúng tôi và nhà hàng xóm chỉ cách nhau có một lớp tường rất mỏng hoặc vách ván. Ngôi nhà cạnh tôi là của một người Do Thái khá giàu, làm nghề buôn kim hoàn; căn buồng vợ chồng lão nằm sát ngay bên vách nhà tôi. Hai vợ chồng đã đi ngủ rồi, thì lũ trẻ nhà tôi làm ồn khiến họ thức giấc, hồi lâu mới ngủ lại được.

Ngày hôm sau, vợ lão Do Thái đến nhà tôi thay lời chồng và cả lời mụ nữa, phàn nàn với vợ tôi hôm qua vừa chạp mắt đã phải mất giấc ngủ vì lũ trẻ làm ồn. Vợ tôi nói:

- Bà Rasen ạ, – Rasen là tên mụ vợ lão Do Thái – tôi rất tiếc việc đã xảy ra, xin có lời mong bà bỏ quá cho. Bà cũng biết trẻ con là như vậy đó, một chút chi cũng có thể làm cho chúng reo cười, chuyện chẳng đáng chúng vẫn có thể khóc được. Mời bà vào chơi, tôi trỏ bà xem vật đã khiến bà có lời phàn nàn.

Mụ Do Thái vào, vợ tôi cầm lấy viên kim cương, vì đó là kim cương thật, và độc đáo nữa là khác. Nó vẫn còn trên lò sưởi; vợ tôi cầm đưa cho mụ Do Thái xem và nói:

- Đây chính mảnh chai này đã gây nên chuyện ầm ĩ tối hôm qua làm phiền tới bà.

Trong khi mụ Do Thái, vốn sành sỏi mọi thứ châu báu và kim cương, ngắm nghía lòng đầy thán phục, thì vợ tôi kể cho nghe đã bắt được nó trong bụng con cá như thế nào, và sự tình đã xảy ra làm sao.

Vợ tôi kể xong, mụ Do Thái liền đưa trả lại và nói:

- Chị Aisach à, tôi cũng nghĩ như chị đây là một mảnh chai, nhưng nó đẹp hơn những mảnh chai thông thường. Tôi cũng có một viên na ná thế này, thỉnh thoảng vẫn đeo làm vật trang sức, nếu chị vui lòng bán thì tôi xin mua để cho có được một đôi giống nhau.

Lũ con tôi nghe nói tới chuyện bán đồ chơi của chúng, kêu ầm lên không đồng ý, xin mẹ hãy giữ lại, khiến vợ tôi phải hứa chúng mới chịu yên cho.

Mụ Do Thái đành phải ra về, trước khi từ giã, bà vợ tôi tiễn ra tận cửa, mụ nói thầm, dặn nếu có ý định bán mảnh chai ấy thì nhớ đừng có đưa cho ai xem trước khi tin cho mụ biết.

Từ sáng sớm, lão Do Thái đã đến cửa hiệu của lão, trong khu phố những người mua bán vàng bạc. Mụ vợ đến tìm lão, báo cho lão biết mình vừa tìm ra được một món hời. Mụ mô tả viên kim cương to, nặng, sáng và đẹp như thế nào, nhất là về đặc điểm của nó là phát ra ánh sáng ban đêm theo như lời vợ tôi nói lại; điều này cũng đáng tin bởi bà ấy vốn thật thà.

Lão Do Thái phái mụ vợ về, với mệnh lệnh là, lúc đầu trả giá ít thôi, bao nhiêu tùy mụ định, sau đó nếu thấy khó khăn thì cứ tăng dần, cuối cùng phải mua cho bằng được với bất kỳ giá nào.

Mụ Do Thái, theo lời chồng dặn, nói chuyện riêng với vợ tôi, không chờ cho vợ tôi ngỏ ý có thuận bán hay không, mụ hỏi có đồng ý nhượng lại với giá hai mươi đồng tiền vàng. Một mảnh chai mà mụ trả như vậy, quả là một món hời to. Vợ tôi nghĩ thế, nhưng không đáp thuận bán hay không. Thị chỉ nói với mụ Do Thái là phải hỏi ý kiến tôi trước đã.

Giữa lúc ấy thì cũng vừa lúc tôi tạm nghỉ tay về nhà ăn trưa. Hai bà đang đứng nói chuyện trước cửa nhà tôi. Vợ tôi ngăn tôi lại, hỏi tôi có thuận bán mẩu chai bắt được trong bụng con cá với giá hai mươi đồng tiền vàng hay không; bà hàng xóm đây muốn mua.

Tôi không trả lời ngay. Tôi đã nghĩ tới vẻ quả quyết của Xắt khi đưa cho tôi hòn chì, rằng nó sẽ làm cho tôi giàu có. Ấy thế mà mụ Do Thái lại ngỡ là tôi khinh số tiền quá nhỏ mọn cho nên không thèm trả lời.

- Bác hàng xóm ạ, vậy tôi trả bác năm mươi đồng, hẳn bác vừa lòng rồi chứ?

Thấy từ hai mươi đồng vàng, mụ Do Thái chỉ một tiếng nhảy vọt lên năm mươi đồng vàng, tôi càng làm già, tôi nói rằng bà trả như vậy thật quá xa giá tôi muốn bán.

- Thôi thì bác cầm lấy một trăm vậy, bác hàng xóm ạ. Một trăm đồng vàng, nhiều đấy chứ. Tôi không biết rồi nhà tôi có thuận giá ấy với tôi hay không.

Nghe mụ nói tăng lên như vậy, tôi liền nói tôi muốn bán với giá mười vạn đồng vàng.

- Tôi biết rõ là viên kim cương này trị giá còn hơn thế, nhưng để làm vui lòng bà cũng như ông nhà, vốn là bà con hàng xóm láng giềng với nhau cả, tôi chỉ đặt giá ấy thôi, không kém một đồng; nếu hai ông bà không mua, thì chắc các nhà buôn kim hoàn khác sẽ còn trả giá cao hơn.

Mụ Do Thái càng làm cho tôi thêm nhất quyết, bởi mụ tỏ vẻ muốn mua cho bằng được. Mụ trả lên mãi, cho tới năm mươi nghìn đồng. Tôi vẫn lắc.

- Tôi không thể trả nhiều hơn nữa mà không được sự ưng thuận của nhà tôi. Đến tối nhà tôi mới về, xin bác làm ơn chờ cho đến lúc nhà tôi xem và nói chuyện với bác.

Tôi hứa với mụ sẽ chờ.

Đến chiều, lão Do Thái về nhà, được vợ cho biết chẳng ăn thua gì trong chuyện mua bán với tôi, và việc tôi bằng lòng chờ lão về xem.

Lão ngóng lúc tôi nghỉ tay để vào nhà.

- Ông bạn Hatxan ạ, – lão đến gần và nói với tôi – xin bác cho tôi xem viên kim cương mà vợ bác đã trỏ cho vợ tôi. Tôi mời lão vào nhà và đưa cho xem.

Vì trong nhà khá tối mà đèn chưa thắp, nhìn viên kim cương lấp lánh, rọi sáng cả bàn tay tôi đang cầm, lão biết ngay lời vợ lão nói đúng. Lão cầm lấy, xem xét hồi lâu và không ngớt thán phục.

- Bác ạ, theo như lời vợ tôi nói, đã trả bác năm vạn đồng mà bác chưa chịu bán, thôi thì để bác vui lòng, tôi trả thêm hai vạn nữa vậy.

- Bác ạ, – tôi đáp – chắc bác gái đã nói lại là tôi đặt giá mười vạn, hoặc là bác trả tôi đúng số tiền ấy, hoặc là viên kim cương vẫn thuộc về tôi, không có chuyện nửa vời.

Lão cò kè mặc cả nữa, với hy vọng là tôi chịu bớt cho lão ít nhiều, nhưng chẳng ăn thua. Sợ tôi đưa viên kim cương cho các nhà buôn kim hoàn khác xem, như tôi đã nói, lão không dám ra về mà chưa ngã giá xong.

Lão nói trong nhà chưa có đủ mười vạn đồng tiền vàng, nhưng nội nhật ngày mai lão sẽ giao cho tôi đủ số vào đúng giờ này. Thế là ngày hôm đó, lão sai mang sang tôi hai túi mỗi túi đựng một nghìn đồng đặt cọc, coi như việc mua bán thế là xong.

Ngay hôm sau, tôi không rõ lão Do Thái vay mượn của bạn bè hay chung lưng với các nhà buôn ngọc khác, dù sao lão vẫn mang trả cho tôi đủ mười vạn đồng vàng, đúng vào thời gian giao hẹn, và tôi trao viên kim cương cho lão.

Bán viên kim cương xong, thấy mình cực kỳ giàu có hơn mọi ước vọng, tôi tạ ơn Thượng đế đã hào hiệp đoái thương. Có lẽ tôi đã chạy tới quỳ xuống dưới chân ông Xắt để tỏ lòng biết ơn, nếu tôi biết nhà ông ở đâu. Hẳn tôi cũng đã làm như vậy với Xătđi, người tôi chịu ơn đầu tiên, mặc dù thiện ý của ông đã không mang lại kết quả như ông mong muốn.

Tiếp đó tôi nghĩ tới chuyện sử dụng cho tốt số tiền to lớn này. Vợ tôi, chưa chi đầu óc đã huênh hoang, bảo hãy nên mua cho thị và lũ trẻ con áo quần thật đẹp, tậu một ngôi nhà lớn và sắm sanh đồ đạc thật đắt tiền vào.

Tôi đáp:

- Bà nó ơi, chúng ta không phải bắt đầu bằng kiểu tiêu pha như vậy. Bà cứ để việc đó tôi lo. Những thứ bà cần dần dà rồi sẽ có tất. Mặc dù tiền sinh ra để mà tiêu, ta vẫn phải tính như thế nào để có một cái vốn, có thể tiêu xài hoài mà không cạn. Tôi đang nghĩ chuyện đó, ngay ngày mai, tôi tính chuyện gây dựng cơ nghiệp.

Hôm sau, tôi dành cả ngày đi gặp một số khá đông những người làm cùng nghề, họ cũng đều túng thiếu như tôi cho đến lúc bấy giờ. Tôi ứng tiền trước, đặt họ làm các mặt hàng thừng chão khác nhau, mỗi người tùy theo tay nghề của họ. Tôi hứa sẽ chẳng để họ phải chờ đợi, sẽ trả công khá và đúng hạn tùy theo số hàng họ mang đến giao cho tôi. Ngày hôm sau, tôi đi đặt cho những người chịu làm khoán cho tôi y như vậy. Từ dạo ấy, tất cả những người làm thừng chão trong toàn kinh thành Bátđa tiếp tục làm ăn theo cách đó, rất hài lòng vì tôi giữ đúng lời đã hứa với họ.

Vì thợ thuyền đông, làm ra hàng hóa rất nhiều, tôi thuê kho ở nhiều nơi khác nhau. Ở mỗi kho tôi đặt một người đại lý thu nhận hàng cũng như để trông nom việc bán buôn hoặc bán lẻ. Chẳng bao lâu, qua cách làm ăn đó, tôi thu được một món lời đáng kể.

Tiếp đó, để tập trung về một nơi các kho phân tán, tôi mua một ngôi nhà lớn trên một mảnh đất rộng, nhưng đã đổ nát. Tôi cho triệt hạ ngôi nhà ấy, thay vào đó, xây cất một ngôi nhà mà Người thấy hôm qua.

Nhưng cho dù mặt ngoài nó trông bề thế vậy, bên trong gồm phần lớn là kho, chỉ có một ít căn buồng vừa đủ cho tôi và gia đình tôi ở.

Tôi rời bỏ ngôi nhà cũ kỹ, dọn về ngôi nhà mới này được ít lâu thì một hôm Xătđi và xắt, đã lâu không hề nghĩ tới tôi, chợt nhớ đến. Một bữa cùng đi dạo mát, họ đi ngang qua phố tôi ở trước, và rất lấy làm lạ không thấy tôi ngồi miệt mài bện thừng, như từng thấy mọi lần. Họ hỏi thăm tôi ra sao rồi, còn sống hay đã chết.

Họ càng ngạc nhiên hơn khi biết người họ hỏi thăm ấy đã trở thành một nhà buôn lớn, bây giờ người ta không gọi tên cộc lốc là Hatxan như trước, mà là Côjia Hatxan Anhaphan, có nghĩa là “thương gia Hatxan người bện thừng.” Vị thương gia ấy đã cho xây cất ở phố nọ, một ngôi nhà trông giống như dinh thự các quan to.

Hai người bạn đến phố ấy tìm tôi. Dọc đường, Xătđi không thể nào hiểu nổi, tại sao một hòn chì Xắt biếu tôi dạo nọ lại có thể là căn nguyên khiến cho tôi trở thành giàu có lớn vậy. Ông nói với Xắt:

- Tôi hoàn toàn vui mừng ông đã tạo nên cơ nghiệp của Hatxan Anhaphan. Nhưng tôi không thể nào chấp thuận việc gã hai lần nói dối để rút cho được của tôi bốn trăm đồng vàng, chứ không phải chỉ có hai trăm. Bởi vì cho rằng gã trở nên giàu có to nhờ hòn chì anh biếu, là việc tôi không thể nào nghĩ tới; chẳng riêng gì tôi mà bất cứ ai cũng không thể nghĩ như vậy.

- Anh nghĩ thế, nhưng tôi lại cho khác. – Xắt đáp. – Tôi không hiểu sao anh lại bất công, cứ cho Hatxan là một kẻ điêu toa. Xin phép anh cho tôi được nghĩ rằng anh ta nói thật, rằng anh ta chẳng hề tìm cách giấu giếm chúng ta chút gì, chính hòn chì tôi cho mới là căn nguyên làm nên hạnh phúc của anh ta. Điều này rồi chính Côjia Hatxan sẽ làm cho hai anh em ta cùng sáng tỏ.

Hai người bạn vừa đi đến phố tôi ở vừa nói chuyện ấy với nhau. Họ hỏi nhà tôi là cái nào, người ta chỉ cho. Hai người ngắm mặt trước và khó tin rằng đây là nhà của tôi. Họ gõ cửa, người canh cửa ra mở.

Xătđi sợ mình phạm điều bất lịch sự nếu vào nhầm nhà một vị đại thần nào chăng, liền hỏi người canh cửa:

- Người ta chỉ cho tôi đây là nhà của Côjia Hatxan Anhaphan, anh cho biết chúng tôi có vào nhầm nhà chăng?

- Không đâu, thưa ngài, ngài không nhầm. – Người canh cửa đáp và mở rộng cửa. – Chính ngôi nhà này đây, mời các ngài vào, ông chủ đang ở trong phòng, các ngài sẽ bảo một tên nô lệ nào đó vào báo với ông.

Người nhà vào báo có hai người bạn đến, tôi nhận ra họ ngay. Vừa trông thấy họ, tôi đã đứng vội lên, chạy tới cầm tà áo họ định ghé môi hôn. Họ ngăn lại, và tôi bất đắc dĩ để cho họ ôm hôn mình vậy. Tôi mời họ ngồi lên một chiếc sập rộng, rồi chỉ cho họ xem một cái nữa nhỏ hơn, vừa bốn người ngồi, trông ra vườn. Tôi mời họ ngồi, họ lại muốn ép tôi ngồi vào chỗ trọng vọng nhất. Tôi nói:

- Thưa các ngài, tôi vẫn không quên mình là anh chàng Hatxan thợ bện thừng khốn khổ, giá không được các ngài làm ơn cho thì chẳng bao giờ được như ngày nay. Tôi đội ơn các ngài đến thế nào. Xin các ngài chớ làm cho tôi bối rối thêm.

Hai người ngồi vào chỗ dành cho khách, tôi ngồi đó đối diện.

Lúc này Xătđi mới ngỏ lời nói với tôi:

- Ông Côjia Hatxan ạ, tôi không thể nào diễn tả hết lòng vui sướng thấy ông đạt tới địa vị tôi hằng mong muốn, khi biếu ông hai trăm đồng tiền vàng mà không một lời căn dặn, lần trước cũng như lần sau. Tôi tin chắc, bốn trăm đồng của tôi đã giúp ông có được sự thay đổi kỳ diệu về gia sản này, và thật lòng tôi rất lấy làm thú vị về chuyện đó. Điều duy nhất làm cho tôi phiền lòng, là không rõ tại sao ông lại hai lần nói không đúng sự thật, khi kể lại những chuyện mất mát trong những trường họp thật bất ngờ mà tôi đã thấy và bây giờ cũng vẫn thấy là khó tin. Có phải là lần thứ hai gặp chúng tôi, công việc làm ăn của ông chưa mang lại kết quả nhiều lắm, cho nên ông chưa muốn nói thật? Tôi nghĩ như vậy đó, và xin chờ ông xác nhận xem tôi nghĩ có đúng hay không.

Nghe Xătđi nói, Xắt tỏ vẻ sốt ruột, nếu không nói là không hài lòng. Ông ta cứ lắc đầu và cúi nhìn xuống đất. Tuy nhiên, ông vẫn để cho bạn nói hết. Xătđi nói xong, ông mới lên tiếng:

- Anh Xătđi à, xin anh thứ lỗi cho là tôi không đợi ông Côjia trả lời anh xong mới lên tiếng. Tôi xin nói là tôi khâm phục lòng thật thà của anh khi anh vẫn cứ khăng khăng không chịu tin lời phân trần của ông Côjia hai lần trước. Tôi đã nói với anh, và bây giờ xin lặp lại, là nghe ông Côjia kể lại hai chuyện bất thường xảy ra, tôi đã tin ngay. Cho dù anh muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cho những lời ông Côjia cho chúng ta biết là đúng sự thật. Nhưng chúng ta hãy để cho ông lên tiếng, rồi ông sẽ cho biết giữa hai chúng ta ai là người nghĩ đúng, ai nghĩ sai.

Sau khi hai ông bạn đã nói rõ ý kiến của họ như trên, đến lượt tôi thưa với cả hai người:

- Thưa các ngài, tôi sẽ xin im lặng mãi mãi chứ không làm sáng tỏ điều hai ngài đòi hỏi, nếu không sợ sự tranh cãi nhân việc của tôi, có thể làm phương hại đến tình bạn giữa hai ngài. Vậy thì hai ngài đã muốn, tôi xin trình bày, nhưng trước hết xin cho phép tôi được nói là cả hai lần trước, tôi đều đã nói chân thực, cũng như lúc này đây về những chuyện đã xảy ra cho tôi.

Thế là tôi thuật lại cho họ nghe đầy đủ từng điểm một, không bỏ quên một chi tiết nào, đúng như bệ hạ vừa nghe.

Mặc dù tôi phản kháng, Xătđi vẫn không thôi định kiến. Nghe tôi kể xong, ông nói:

- Ông Côjia Hatxan à, câu chuyện về con cá và hạt kim cương bắt được trong bụng của nó đối với tôi thật cũng khó tin như câu chuyện con chim cắt giật chiếc khăn đội đầu của ông cùng với chuyện cái hũ đựng cám đổi lấy đá kỳ. Dù thế nào đi nữa, ít ra tôi cũng tin chắc là hiện nay ông không còn nghèo túng như trước nữa mà là giàu có, đúng với mong ước của tôi khi giúp cho ông vốn để làm giàu, và tôi chân thành vui mừng về việc đó.

Vì lúc ấy cũng đã muộn, ông ta đứng lên định cáo từ và Xắt cũng làm như thế. Tôi liền nói:

- Thưa ngài, cho phép tôi xin hai ngài một ân huệ, và rất mong không bị khước từ. Ấy là xin hai ngài cho tôi vinh dự được mời một bữa cơm thanh đạm, và mời hai ngài nghỉ đêm tại tệ xá, để sáng mai cho tôi được dịp rước các ngài đi thuyền về thăm một ngôi nhà nghỉ ở nông thôn, mà tôi đã mua để thỉnh thoảng về nghỉ mát, sau đó sẽ mời hai ngài trở về đây bằng đường bộ, trên hai con ngựa lấy trong đàn ngựa của tôi.

- Tôi đồng ý, nếu anh Xătđi không có việc gì gấp cả, và nếu cần phải có người đi với anh cho có bạn. – Xắt đáp, và nói thêm – Vậy phải cử người tin cho gia đình anh và gia đình tôi biết, để mọi người khỏi phải trông.

Tôi cho gọi một tên nô lệ, trong khi hai người bạn dặn dò nó, tôi sai người đi làm bữa cơm chiều.

Trong khi chờ đợi, tôi mời hai ân nhân của tôi thăm ngôi nhà với tất cả những gì có trong đó, họ đều thấy thỏa đáng đối với cương vị của tôi. Tôi cùng gọi cả hai người là ân nhân, không phân biệt, bởi vì không có Xătđi thì Xắt đã không cho tôi hòn chì, và không có Xắt, hẳn Xătđi đã không tìm tôi biếu bốn trăm đồng vàng, mà tôi cho là nguồn gốc làm nên hạnh phúc của mình.

Tôi mời họ trở lại phòng khách, họ hỏi tôi khá nhiều về công việc làm ăn, nghe trả lời họ đều tỏ vẻ hài lòng về cung cách xử sự của tôi.

Cuối cùng, người nhà đến báo bữa cơm chiều đã dọn. Tôi mời họ sang phòng ăn. Hai người đều tấm tắc khen cách bài trí đèn nến trong đó, sự ngăn nắp sạch sẽ, cũng như tủ rượu và các món ăn, mà họ cho là rất họp khẩu vị. Trong bữa ăn, tôi cũng mời họ nghe ca nhạc. Sau bữa, lại có những vũ công và vũ nữ vào nhảy múa, cùng làm nhiều trò giải trí khác, để biểu lộ cho họ thấy tôi hàm ơn họ đến chừng nào.

Ngày hôm sau, vì đã thỏa thuận với Xătđi và Xắt là nên đi thật sớm cho mát, chúng tôi ra bờ sông trước khi mặt trời mọc. Chúng tôi xuống một chiếc thuyền sạch sẽ có trải thảm, thuyền đã chờ sẵn. Nhờ có sáu tay chèo khỏe và thuận nước, đi chừng một giờ rưỡi thì đến ngôi nhà nghỉ mát của tôi ở nông thôn.

Vừa đặt chân lên bờ, hai người bạn đã dừng lại, không phải chỉ để ngắm mặt ngoài của ngôi nhà thôi mà còn để thán phục vị trí thuận tiện, cảnh quan đẹp, không chật lắm cũng không quá rộng, nhìn từ phía nào cũng thấy vui mắt. Tôi mời họ đi xem xét các buồng cùng mọi công trình phụ và tiện nghi, họ thấy ngôi nhà thật sáng sủa dễ thương.

Tiếp đó chúng tôi ra vườn. Điều họ thích hơn cả là một rừng cam và chanh đủ loại, cây nào cũng trĩu quả sai hoa, khiến cho không khí thơm ngát. Cây trồng thẳng hàng ngay lối, giữa các hàng cây lại có những con mương dẫn nước ngọt từ sông vào tưới. Mặc dù trời nắng to, bóng râm và hơi mát trong vườn, cũng như tiếng nước chảy rì rào, tiếng chim hót líu lo cùng muôn vàn điều thích thú khác khiến cho họ đi vài bước đã dừng lại, hoặc để cảm ơn tôi đã đưa họ về chơi một nơi tuyệt diệu, hoặc để khen tôi giỏi tậu được cơ ngơi này, hoặc tỏ nhiều lời ca ngợi lịch sự khác.

Tôi đưa họ đi xem hết khu trồng cam và chanh ấy, cũng khá rộng, từ đây tôi chỉ cho họ thấy rừng cây, đó là phần cuối của khu vườn bao quanh ngôi nhà nghỉ mát. Tôi dẫn họ tới tận một căn phòng, chung quanh trống trải nhưng lại được một khóm cọ che, vừa để tỏa bóng mát vừa khỏi che khuất tầm nhìn, mời họ bước vào ngồi nghỉ trên một cái sập đã trải sẵn thảm và đặt gối tựa.

Hai cháu trai của tôi, được đưa về đây ở cùng với gia sư của chúng, sau khi chào khách đã xin phép được đi chơi trong rừng. Chúng đang tìm tổ chim thì chọt trông thấy trên một cây cổ thụ có một cái tổ chim. Chúng định trèo lên lấy nhưng vì không đủ sức leo lên tận ngọn, liền nhờ tên nô lệ mà tôi vẫn cho theo hầu không rời một bước lên lấy giúp chúng cái tổ chim.

Leo lên đến ngọn cây, tên nô lệ rất ngạc nhiên thấy tổ chim được làm trong một chiếc khăn đội đầu. Nó gỡ nguyên như vậy, xuống khoe với lũ trẻ nhà tôi, và nghĩ rằng hẳn tôi cùng vui lòng khi thấy vật này, liền giao cho cháu trai lớn, bảo mang đến tôi xem.

Tôi thấy nó từ xa, với vẻ mừng rỡ thông thường của lũ trẻ con khi bắt được một tổ chim. Cháu đưa tôi xem và nói:

- Bố ơi, cái tổ chim này làm bằng một cái khăn đội đầu.

Xătđi và Xắt cùng lấy làm ngạc nhiên về chuyện lạ này không kém tôi. Nhưng tôi còn kinh ngạc hơn họ nhiều khi nhận ra đấy chính là chiếc khăn của tôi bị con chim cắt cướp mang đi dạo nọ. Sau khi lật đi lật lại xem xét kỹ, tôi hỏi hai người bạn:

- Thưa hai ngài, hai ngài có còn nhớ được đây chính là chiếc khăn tôi đội, hôm hai ngài hạ cố tới gặp tôi hôm đầu tiên không?

- Tôi không nghĩ là anh Xătđi cũng như tôi để ý đến chuyện đó. Song tôi sẽ chẳng chút nghi ngờ nếu tìm thấy trong chiếc khăn này một trăm chín mươi đồng tiền vàng.

- Thưa ngài, – tôi đáp – xin ngài hãy tin chắc chính chiếc khăn ấy đây. Ngoài việc nhận ra chiếc khăn, tôi còn cảm thấy nó nặng hơn những chiếc khăn thông thường. Nếu ngài vui lòng cầm, ngài sẽ thấy như tôi.

Sau khi bắt hết chim con cho lũ trẻ, tôi đưa chiếc khăn cho Xắt và Xătđi, để thấy nó nặng như thế nào, Xătđi nói:

- Tôi tin đây là chiếc khăn của ông, tuy nhiên tôi sẽ càng tin chắc hơn nữa nếu nhìn thấy được một trăm chín mươi đồng tiền vàng.

- Thưa các ngài, – tôi lấy lại chiếc khăn và nói tiếp – ít ra cũng xin các ngài biết cho, trước khi tôi mó tay vào, là không phải chiếc khăn này mới ở trên cây hôm qua. Có thể thấy rõ tổ chim được làm ngay trong khăn, không có bàn tay nào động vào, điều đó chứng tỏ nó đã có ở trên cây từ hôm con cắt đặt xuống đấy, hoặc từ trên cao buông xuống và bị cành cây giữ lại không cho rơi xuống đất. Xin các ngài chớ lấy làm khó chịu, sao tôi lại xin lưu ý các ngài chi tiết như vậy, chả là tôi rất quan tâm tới việc để các ngài thôi nghi ngờ tôi là tên dối trá.

Xắt phụ họa với tôi:

- Anh Xătđi ạ, việc đó có liên quan tới anh, chứ không phải đến tôi, bởi vì từ trước tới nay tôi vẫn tin là ông Côjia Hatxan đây không nói sai.

Trong khi Xắt nói, tôi tháo các lần vải bao quanh cái cốt chiếc khăn và lấy ra túi tiền, mà Xătđi nhận đúng là túi tiền ông đã biếu tôi. Tôi dốc cái túi ra mặt thảm trước mặt họ và nói:

- Thưa ngài, món tiền ấy đây, xin ngài tự tay đếm xem còn đúng số không.

Xătđi xếp lại thành hàng mười đồng, và đếm được một trăm chín mươi đồng chẵn. Không thể chối cãi một sự thật rành rành như vậy, Xătđi liền nói:

- Ông Côjia Hatxan ạ, tôi chịu nhận là không phải một trăm chín mươi đồng tiền vàng này đã giúp cho ông trở nên giàu. Nhưng một trăm chín mươi đồng kia, mà ông bảo cất trong cái hũ đựng cám, có thể góp phần vào việc đó được chăng?

- Thưa ngài, – tôi đáp – tôi đã nói sự thật về số tiền sau cũng giống như số tiền trước, chẳng nhẽ ngài lại muốn tôi thay đổi ý kiến cũ để đi nói một điều khác, không đúng sự thật hay sao?

- Ông Côjia Hatxan ạ, – Xắt bảo tôi – hãy để mặc Xătđi với ý kiến của anh ấy. Tôi sẵn lòng đồng ý với anh ấy, khi anh ấy cho rằng ông chịu ơn anh về một nửa tài sản của ông hiện nay, nhờ có số tiền anh ta giúp ông mới làm nên. Miễn là anh thừa nhận phần nửa gia sản kia là nhờ hòn chì tôi cho ông mà có, và anh ấy không được hoài nghi chuyện bắt được viên kim cương trong bụng con cá.

- Anh Xắt ạ, – Xătđi lại nói – tôi xin làm theo ý anh, miễn là anh để cho tôi được tự do tin rằng người ta chỉ tích tụ được tiền bạc nhờ có tiền bạc mà thôi.

- Sao? Nếu tình cờ tôi nhặt được viên kim cương bán năm vạn đồng vàng, anh vẫn cho rằng tôi tích được số vốn nhờ tiền bạc hay sao?

Cuộc tranh cãi chỉ đến đây. Chúng tôi vào nhà. Cơm trưa đã dọn, chúng tôi cùng ngồi vào bàn. Sau bữa cơm, tôi để lại hai người khách nghỉ ngơi trong nhà để tránh nắng gắt, trong khi tôi đi giao việc cho người làm. Sau đó trở về ngồi với họ, chúng tôi nói chuyện bâng quơ chờ cho tới khi dịu nắng, lại ra vườn chơi mát cho tới lúc mặt trời gần lặn. Lúc này hai người bạn và tôi cùng lên ngựa, có một tên nô lệ theo hầu, trở về Bátđa dưới ánh trăng, đi khoảng hai giờ thì đến.

Tôi không rõ do làm ăn trễ nải thế nào mà bọn người nhà tôi để thiếu đại mạch cho ngựa. Các kho đều đã đóng cửa, với lại cũng quá xa để đi mua thứ đó vào lúc này.

Trong khi tìm tòi quanh xóm, một chú nô lệ của tôi mua được một hũ cám ở một quán nhỏ; nó đưa về nhà với điều kiện là sáng hôm sau mang hũ đến trả lại cho bà chủ quán – trong khi rải đều cám trong hũ vào máng cho ngựa ăn, nó chọt hốt được một vật nặng gói trong một mảnh vải. vẫn để nguyên cái gói vải như vậy, nó mang đến cho tôi, thưa rằng có lẽ đây là gói vải nó thường nghe tôi nói chuyện, khi thuật lại cho bạn bè nghe điều không may xảy ra. Rất mừng rỡ, tôi nói với các vị ân nhân của mình:

- Thưa các ngài, Thượng đế không muốn để các ngài chia tay tôi ra về mà trong lòng chưa hoàn toàn tin chắc sự thật tôi hằng quả quyết với các ngài. Đây là số tiền một trăm chín mươi đồng vàng nữa ngài đã cho tôi, – tôi quay sang nói với Xătđi – nhìn mảnh vải này tôi nhận ra ngay.

Tôi mở gói vải, đếm tiền trước mặt họ. Sai mang chiếc hũ đến, tôi nhận thấy đó chính là cái hũ nhà. Tôi lại đưa cho vợ tôi xem, hỏi xem có nhận được hay không, và dặn chớ nói cho bà rõ chuyện vừa xảy ra. Vợ tôi nhận ngay ra đúng chiếc hũ ấy, và sai người đến nói cho tôi biết đây đúng là cái hũ bà đã mang đổi lấy đá kỳ dạo nọ.

Bây giờ thì Xătđi hết hoài nghi, ông nói với Xắt:

- Tôi chịu thua anh. Tôi thừa nhận rằng tiền không phải bao giờ cũng là một phương tiện chắc chắn để tích tụ tiền bạc và trở nên giàu có.

Đợi Xătđi dứt lời, tôi nói:

- Thưa ngài, tôi không dám xin ngài lấy lại số tiền ba trăm tám mươi đồng mà hôm nay Thượng đế cho đưa về đây để ngài hết ngờ tôi không thành thực. Tôi tin chắc ngài đã không cho tôi với ý định là rồi sau này tôi sẽ trả lại ngài. Về phần mình, tôi không mong muốn hưởng món tiền này, bởi Thượng đế đã cho tôi hưởng nhiều thứ khác. Tôi hy vọng ngài đồng ý cho tôi được ngày mai mang phân phát cho những người nghèo, để rồi Thượng đế sẽ ban phước lành cho cả các ngài lẫn tôi.

Đêm hôm ấy, hai người bạn ngủ lại nhà tôi một tối nữa, và sáng hôm sau, từ biệt về nhà, rất hài lòng về sự đón tiếp, cũng như biết rõ tôi không hề lạm dụng hạnh phúc mà tôi được hưởng nhờ có họ giúp đỡ và ơn sâu của Thượng đế. Sau đó tôi không quên đến nhà riêng từng người để tạ ơn; và từ hôm ấy, rất làm vinh hạnh được họ coi là bạn bè, tôi thỉnh thoảng đến thăm họ.

Hoàng đế Hatxan An-Rasít lắng nghe Côjia Hatxan chăm chú tới mức không nhận ra ông đã dứt lời. Vua phán:

- Côjia Hatxan à, đã lâu lắm ta chưa được nghe một câu chuyện nào làm ta thú vị bằng chuyện này; qua đó thấy rõ Thượng đế mang lại cho anh hạnh phúc bằng con đường kỳ diệu như thế nào. Anh hãy tiếp tục tỏ lòng biết ơn Người bằng cách dùng của cải vào nhiều việc thiện. Ta cũng vui lòng nói cho anh biết, viên kim cương đã làm cho anh nên cơ nghiệp ấy hiện nằm trong kho báu của hoàng gia. Về phần mình, ta thú vị được biết nó trở thành vật báu của ta bằng con đường nào. Nhưng, vì trong tâm trí của Xătđi có thể còn chút nghi ngờ về sự độc đáo của viên kim cương mà ta cho là vật quý báu nhất, đáng xem nhất trong tất cả những gì ta có, ta muốn anh đưa ông ấy đến đây, cùng với cả Xắt nữa, để viên quan coi giữ kho tàng của ta cho họ xem, qua đó cho Xătđi thấy rằng, chớ nên nghi ngờ gì nữa, tiền bạc không phải là cái vốn chắc chắn cho một người nghèo mau chóng trở nên giàu có với ít gian lao. Ta cũng muốn anh thuật lại câu chuyện vừa rồi cho viên quan coi giữ kho tàng của ta nghe, để ông ấy sai người chép lại và cất giữ bản văn ấy cùng với viên kim cương.

Nói đến đây, hoàng đế gật đầu, tỏ cho Côjia Hatxan, Xiđi Numan và Baba Apđanla biết mình hài lòng về họ. Ba người liền phủ phục trước ngai vàng, sau đó cùng lui về.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.