Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 449 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ALÁTĐANH HAY CÂY ĐÈN KỲ DIỆU (tt)

❊ ❊ ❊

Công chúa Bađrunbuđua, từ khi bị lão phù thủy dùng ma thuật bắt cóc đưa sang châu Phi, sáng nào cũng thức dậy sớm hơn thường lệ. Cho đến lúc bấy giờ, ngày nào nàng cũng phải gặp mặt lão, bởi vì lão là chủ nhân tòa lâu đài. Song lần nào nàng cũng đối xử với lão rất tàn tệ đến nỗi lão chưa dám đến ở hẳn trong lâu đài.

Sáng hôm ấy, nàng vừa mặc áo xong thì một ả nô tì nhìn qua bức mành che cửa sổ, nhìn thấy Alátđanh, vội vàng chạy đến báo cho nàng biết. Công chúa không dám tin là thật, lật đật đến bên cửa sổ và cũng nhìn thấy Alátđanh. Nàng vén bức mành. Nghe tiếng động Alátđanh ngước mắt nhận ra nàng và chào nàng với một vẻ mừng vui đến cực độ. Công chúa nói: “Để khỏi mất thời giờ, sẽ có người xuống mở cánh cửa bí mật, chàng hãy vào và lên đây.” Nói xong hạ bức mành xuống.

Cái cửa bí mật ở ngay phía dưới phòng của công chúa. Cửa mở, Alátđanh bước lên buồng nàng. Không thể nào diễn tả hết vui mừng của đôi vợ chồng tưởng đã vĩnh viễn biệt ly, nay lại tái ngộ. Họ ôm hôn nhau nhiều lần và bằng nhiều cử chỉ tỏ rõ tình cảm nồng nàn sau thời gian xa cách đáng buồn và thật bất ngờ. Sau những cái hôn đầm đìa nước mắt, họ ngồi xuống ghế. Alátđanh bắt đầu nói:

- Công chúa ơi, trước khi nói đến chuyện gì khác, nàng hãy vì lợi ích của nàng, của phụ vương tôn kính và lợi ích của riêng tôi mà xin cho biết cây đèn cũ tôi để trên đầu cột trong phòng khách có hai mươi bốn cửa sổ trước khi đi săn, nay ra sao rồi.

- Chàng thân yêu ơi, – công chúa đáp – em đã ngờ ngợ rằng tai họa chung xảy đến cho hai ta là từ cây đèn ấy và điều làm cho em buồn khổ là chính tự em gây nên tai họa.

- Xin nàng chớ tự trách mình, gây nên mọi việc là tại tôi, lẽ ra tôi phải giữ gìn cây đèn cẩn thận hơn nữa thì mới phải. Thôi chúng ta hãy chỉ nên nghĩ tới cách bù đắp sự mất mát ấy, và vì vậy xin nàng hãy vui lòng kể cho tôi nghe sự việc đã xảy ra như thế nào, và cây đèn hiện rơi vào tay ai.

Công chúa Bađrunbuđua liền kể cho Alátđanh nghe đầu đuôi câu chuyện từ khi đổi cây đèn cũ lấy cây đèn mới – mà nàng sai mang đến cho chàng xem – cho đến đêm tiếp sau đó, nàng cảm thấy tòa lâu đài bị chuyển đi, rồi buổi sáng thức dậy thấy mình đã ở giữa châu Phi, mảnh đất xa lạ, mà sở dĩ nàng biết được là do chính miệng tên lừa bịp ấy nói ra sau khi đã dùng thuật yêu phép quỷ chuyển dịch tòa nhà.

Alátđanh ngắt lời nàng:

- Công chúa ơi, tôi hiểu ngay tên phản phúc ấy là ai rồi, khi nàng cho biết chúng ta đang ở trên đất Phi châu. Nhưng bây giờ không phải là lúc, là nơi kể lại cho nàng nghe chi tiết hơn về những hành vi độc địa của hắn. Tôi chỉ xin nàng cho biết hắn đã làm gì cây đèn, và hiện nay cây đèn để ở đâu.

- Nó gói ghém rất cẩn thận và luôn luôn giắt theo người, – công chúa đáp – em có thể quả quyết như vậy bởi vì hắn đã từng lấy từ trong người hắn ra và mở gói ngay trước mắt em.

Alátđanh liền bảo:

- Công chúa ơi, xin nàng chớ phiền lòng sao tôi hỏi chi nhiều cho nàng thêm mệt. Những việc này rất hệ trọng đối với nàng cũng như đối với tôi. Điều đặc biệt quan trọng mà tôi muốn biết là tên độc ác và gian trá ấy đối xử với nàng thế nào.

- Từ hôm em đến đây, mỗi ngày hắn ta chỉ đến gặp em một lần, và em tin chắc là vì không hài lòng về những chuyến viếng thăm ấy cho nên hắn không quấy rầy em nhiều hơn nữa. Lần nào hắn ta cũng chỉ nói đi nói lại với em mỗi một chuyện là thôi đừng gắn bó với chàng nữa mà nên lấy hắn làm chồng. Hắn muốn làm cho em tin rằng không còn hi vọng gặp lại chàng, rằng chàng không còn nữa, phụ vương em đã sai hành quyết chàng rồi. Để thanh minh, hắn nói thêm, chàng là một người vong ân bội nghĩa, mọi phú quý vinh hoa của chàng chẳng qua đều nhờ hắn, hắn còn nói bao nhiêu chuyện khác nữa mà em đều để ngoài tai.

Nhưng, bởi vì chỉ nhận được ở em những lời khóc lóc thở than, lần nào hắn cũng buộc phải ra về không hài lòng gì hơn lúc đến. Tuy nhiên, em cũng biết là hắn chờ cho em khuây khỏa bót những nỗi buồn sâu sắc nhất, may ra sẽ thay đổi ý kiến, sau đó nếu em còn khăng khăng cự tuyệt hắn, hắn sẽ dùng đến lối vũ phu. Nhưng, hỡi chàng thân yêu, chàng tới được đây làm cho mọi nỗi lo âu của em tan biến hết.

- Công chúa ơi, – Alátđanh ngắt lời – nàng nghĩ như vậy là rất tốt, và ta tưởng đã tìm ra được cách xử trí với kẻ thù của nàng và cũng là của ta. Nhưng để thực hiện được việc đó, ta cần phải lên thành phố. Đến trưa ta sẽ quay lại, lúc ấy ta sẽ nói cho nàng rõ ý định của ta và những việc nàng cần làm để cho ý định ấy đạt kết quả. Song cũng xin nói trước để nàng khỏi ngạc nhiên, là ta sẽ trở về trong một bộ quần áo khác, nàng hãy truyền để có người mở cánh cửa bí mật ngay cho ta khi nghe tiếng gõ.

Công chúa hứa với chàng là sẽ có người túc trực, sẵn sàng mở cửa ngay cho chàng.

Alátđanh rời phòng riêng của công chúa vẫn bằng cái cửa ngách ấy. Ra ngoài đường đưa mắt nhìn quanh, chàng trông thấy một nông dân đang đi ra đồng.

Người nông dân ở phía bên kia tòa lâu đài và đi cũng khá xa, Alátđanh rảo bước, đuổi theo. Đuổi kịp, chàng đề nghị người đó đổi áo và nói thiết tha đến nỗi anh ta nhận lời. Hai người ghé vào thay áo ở bụi rậm rồi chia tay. Alátđanh trở về thành phố. Chàng đi vào thành phố chính thẳng đến cổng thành, rồi rẽ qua những đường phố đông đúc nhất tới một nơi có những phố phường riêng của mỗi loại nhà buôn và thợ thủ công. Đến phố hàng thuốc, chàng vào cửa hiệu to nhất, có nhiều mặt hàng nhất, hỏi chủ tiệm có bán một loại bột nọ hay không.

Người chủ hiệu thấy Alátđanh ăn mặc xoàng xĩnh, tưởng chàng nghèo, e không đủ tiền trả, đáp rằng có nhưng cũng khá đắt đấy. Biết gã cho là mình nghèo, Alátđanh rút túi tiền ra cho gã xem tiền vàng, rồi hỏi mua nửa cân loại bột ấy. Chủ hiệu cân xong, gói lại trao cho Alátđanh và đòi giá một đồng vàng. Alátđanh đặt đồng tiền vào tay lão, rồi chỉ nán lại trong phố một chốc lát vừa vặn để ăn qua loa một thức gì đó rồi trở về ngay dinh cơ của mình. Đến cánh cửa bí mật, chàng không phải chờ đợi lâu, có người mở ngay, và chàng đi thẳng lên phòng riêng của công chúa:

- Nàng ơi, căm ghét tên cưỡng đoạt ấy, chắc nàng sẽ không lấy gì làm vui mà thực hiện điều ta sẽ khuyên đây. Nhưng, cho phép ta được nói thật, giờ đây nàng phải giấu giếm tình cảm thật của mình, thậm chí phải nén lòng mà làm, nếu nàng muốn thoát khỏi bàn tay vũ phu của hắn, để cho phụ vương của nàng và cũng là chúa tể của ta, có hạnh phúc được gặp lại nàng.

Nếu nàng sẵn lòng nghe lời ta, – Alátđanh nói tiếp – thì ngay bây giờ, nàng hãy lấy bộ quần áo đẹp nhất ra mặc, rồi lúc nào lão phù thủy người Phi đến, nàng hãy cố gắng tiếp đãi cho thật nồng nhiệt, một cách tự nhiên, thoải mái, nét mặt thật hân hoan, để cho dù có thoáng lộ đôi chút buồn phiền, lão cũng tin rằng với thời gian, rồi nó sẽ tiêu tan. Trong câu chuyện, nàng hãy làm cho lão thấy rằng nàng đang cố gắng quên ta, và để cho lão càng tin chắc vào lòng chân thực của nàng, hãy mời lão đến cùng ăn tối, và nhớ nói thêm rằng, nàng sẽ rất vui thích được thưởng thức loại rượu ngon nhất của quê hương lão. Chắc chắn lão sẽ tạm biệt nàng để đi lấy rượu. Thế là trong thời gian chờ lão trở lại, khi bàn tiệc đã bày ra, nàng hãy bỏ gói bột này vào một chiếc ly giống hệt như chiếc nàng vẫn thường dùng rồi dặn trước một con hầu, bảo khi nào nàng ra một dấu hiệu đã giao hẹn trước với nó, thì hãy rót đầy rượu vào ly và mang đến cho nàng, chú ý không được để lẫn. Khi lão phù thủy trở lại và nàng cùng với lão đã ngồi vào bàn ăn, uống mấy lần tùy nàng xét định, lúc ấy nàng sẽ gọi cho mang ly rượu có pha bột ra, và đánh đổi ly rượu của nàng lấy ly của lão. Lão ta sẽ không dám từ chối một đặc ân lớn như vậy đâu. Lão sẽ uống kỳ cạn, không sót một giọt, và ly rượu vừa cạn, lão sẽ ngã vật ra ngay. Nếu nàng ghê không dám uống ly rượu của lão thì hãy làm giả bộ vờ như uống cũng được, chẳng có gì phải sợ. Tác dụng của thuốc nhanh đến nỗi lão ta không kịp suy nghĩ xem nàng có uống thật hay không.

Alátđanh vừa dứt lời, công chúa nói:

- Xin thú thật là em phải hết sức dằn lòng mới có thể tiếp đãi lão phù thủy theo cách chàng dặn, việc mà chính em cũng thấy là cần. Nhưng với một kẻ thù độc ác như hắn, còn có cách nào khác hơn. Vậy nên em sẽ làm tất cả những gì chàng bảo, bởi vì sự yên vui của em cũng như của chàng đều tùy thuộc vào đấy.

Bàn bạc xong đâu đấy với công chúa, Alátđanh cáo từ ra ẩn náu một nơi gần lâu đài chờ đến tối mới trở lại cạnh cái cửa bí mật.

Công chúa Bađrunbuđua, từ ngày phải xa cách không riêng Alátđanh, người chồng thân thương mà nàng yêu tha thiết ngay từ khi mới gặp và sau đó vẫn tiếp tục yêu xuất phát từ đáy lòng hơn là nghĩa vụ – mà còn phải xa cách vua cha nàng rất yêu quý và cũng rất quý yêu nàng – hoàn toàn không một lúc nào nghĩ tới chuyện điểm trang. Có thể nói nàng hầu như không đoái hoài tới lược gương, như thói thường của nữ giới, đặc biệt từ sau lần đầu tiên lão phù thủy châu Phi đến gặp nàng và bị các nữ tì nhận ra và cho nàng hay, chính lão là kẻ đã mang đèn mới đến đổi chiếc đèn cũ. Nàng ghê tởm lão vì sự đảo điên ghê gớm ấy. Nhưng đây là một dịp để trả thù một cách xứng đáng, mà chính nàng cũng không hề dám mơ ước, cho nên nàng quyết định làm theo lời Alátđanh.

Bởi vậy, chàng vừa đi khỏi, nàng bắt đầu trang điểm. Nàng sai bọn con hầu chải tóc vấn khăn thế nào cho đẹp nhất, rồi mặc bộ áo quần sang trọng nhất, thích hợp nhất với ý nghĩ của mình. Chiếc thắt lưng nàng thắt toàn bằng vàng lại nam những viên kim cương to nhất, đều nhất. Tương xứng với cái thắt lưng ấy nàng đeo một chuỗi hạt chỉ gồm mười ba viên ngọc, mỗi bên sáu viên cân xứng với viên chính giữa cực to cực quý, đến nỗi những hoàng hậu và những vương phi lớn nhất nếu có được một chuỗi gồm những hạt ngọc chỉ to bằng hai viên bé nhất trong chuỗi ngọc của công chúa thôi cũng đủ lấy làm hạnh phúc lắm rồi. Các vòng tay nam lẫn kim cương và hồng ngọc, cũng đều quý giá và cân xứng tuyệt vời với chiếc thắt lưng và chuỗi hạt.

Ăn mặc điểm trang đâu vào đấy, công chúa Bađrunbuđua soi gương, hỏi ý kiến những người hầu về toàn bộ bộ cánh của mình. Sau khi thấy không còn sót một thứ gì không làm cho lão phù thủy điên cuồng mê mẩn, nàng ngồi xuống chiếc sập chờ lão.

Lão phù thủy quả lại đến, đúng giờ thường lệ. Ngồi trong phòng khách hai mươi bốn cửa sổ, vừa trông thấy lão bước vào, công chúa đã vội đứng lên, xiêm y rực rỡ, nhan sắc tuyệt trần, và đưa tay chỉ chỗ danh dự mời lão ngồi rồi đến cùng ngồi bên cạnh lão – đây là một cử chỉ lịch thiệp đặc biệt nàng chưa hề đối xử với lão bao giờ.

Choáng váng trước nhan sắc lộng lẫy của công chúa cũng như trước bao ngọc ngà châu báu mà nàng điểm trang, lão phù thủy cực kỳ kinh ngạc. Phong thái đường bệ và vẻ yêu kiều đặc biệt của nàng khi đón tiếp lão, ngược hẳn với thái độ cự tuyệt của nàng từ trước tới nay mỗi lần lão đến, làm cho lão đâm ra bối rối. Thoạt tiên lão muốn ngồi vào một góc sập. Nhưng công chúa không chịu an tọa chừng nào lão còn chưa ngồi vào nơi nàng muốn, lão đành vâng lời.

Khi lão phù thủy đã ngồi yên chỗ, công chúa muốn giúp lão thoát khỏi cơn bối rối, liền đưa mắt nhìn lão với cái liếc mắt đưa tình cốt làm cho lão thầm hiểu: đối với nàng, lão không còn khả ố như những lần gặp trước nữa. Rồi công chúa cất lời nói như sau:

- Có lẽ ngài lấy làm lạ tại sao hôm nay thái độ của em khác với mọi lần trước gặp ngài, nhưng ngài sẽ hiểu rõ một khi biết rằng bản tính em không thích sầu não, nhớ nhung, buồn phiền, lo lắng. Việc gì đã qua rồi thì em cố hết sức để không nghĩ ngợi đến nữa. Em đã suy nghĩ nhiều những điều ngài nói về số phận của Alátđanh. Em biết tính vua cha em lắm, cho nên em cũng tin như ngài rằng anh ta khó thoát khỏi búa rìu sấm sét của cha em. Đã thế thì dù em có cố tình than khóc suốt cả đời, nước mắt của em cũng không thể nào làm cho anh ấy sống lại được. Chính vì vậy mà sau khi đã đền đáp nghĩa cho chàng đến khi vĩnh quyết đúng với đạo vợ chồng, em thấy rằng phải tìm cách để tự mình khuây khỏa. Đó chính là nguyên nhân đưa đến sự thay đổi mà ngài trông thấy ở em hôm nay. Em đã quyết sẽ thôi không buồn nữa, và để giải hẳn mối sầu này, em xin mời ngài dự cơm tối với em. Tin chắc ngài sẽ không từ chối, em đã truyền cho gia nhân bày tiệc. Nhưng bởi vì nhà chỉ có rượu Trung Quốc mà em lại đang ở trên đất châu Phi, em nảy ra ý muốn được thưởng thức rượu đặc sản của địa phương, và em tin rằng nếu có thì ngài hẳn có thể cho tìm những thứ nào ngon nhất.

Lão phù thủy người Phi vẫn nghĩ rằng không thể nào mau chóng và dễ dàng được công chúa Bađrunbuđua đối xử thân tình đến thế, liền đáp là lão không tìm được lời lẽ nào xứng đáng để nói lên sự cảm kích trước lòng tốt của nàng. Và để tránh phải kéo dài một câu chuyện mà có lẽ lão sẽ không biết cách nào đối đáp lão vội quay sang nói về rượu châu Phi mà nàng vừa nhắc tới. Lão nói rằng trong tất cả những ưu thế mà châu Phi có thể tự hào, sản xuất rượu ngon là một trong những ưu thế lớn nhất, đặc biệt tại vùng nàng đang ở đây. Lão có một loại rượu cất đã bảy năm nay chưa hề đụng đến, dù không dám nói quá lời, đó là loại rượu ngon hơn tất cả mọi loại rượu tuyệt vời trên thế gian.

- Nếu công chúa vui lòng cho phép, – lão nói tiếp – tôi sẽ đi lấy hai chai và trở lại ngay tức khắc.

- Em không dám phiền ngài. Có lẽ ngài nên sai một người nào đi lấy thì hơn.

- Tôi phải thân hành đi, – lão phù thủy nói – không một ai ngoài tôi biết chìa khóa kho để ở đâu, và cũng không một ai ngoài tôi ra biết cách mở khóa.

- Nếu quả như vậy thì xin ngài hãy đi đi, và xin trở lại nhanh nhanh cho. Ngài càng đi lâu em càng sốt ruột. Xin ngài nhớ cho rằng ngài trở lại lúc nào chúng ta vào tiệc ngay lúc ấy.

Lòng tràn trề hy vọng về cái lão ngỡ là hạnh phúc, lão phù thủy người Phi không phải chạy mà bay đi lấy thứ rượu cất đã bảy năm của lão, và trở lại khá nhanh. Công chúa cũng thừa biết lão sẽ quay trở lại ngay, cho nên đã tự tay bỏ gói thuốc bột Alátđanh đưa vào một cái ly nàng vừa mới dùng và để riêng ra một chỗ. Nàng và lão phù thủy ngồi vào bàn ăn, mặt đối mặt, và nàng cố tình, để cho lão quay lưng về phía tủ rượu. Vừa mời lão ăn những thứ ngon nhất, công chúa vừa hỏi: “Nếu ngài muốn, em sẽ truyền cho cử nhạc và ca hát. Song bởi vì chỉ có hai ta, em nghĩ rằng chúng ta nói chuyện với nhau có lẽ thích hơn!” Lão phù thủy cho rằng công chúa nghĩ như vậy thật là một đặc ân nữa đối với lão.

Ăn được mấy miếng, công chúa sai rót rượu. Nàng nâng cốc chúc sức khỏe lão phù thủy. Cạn chén xong, nàng nói:

- Ngài khen loại rượu này là phải lắm, chưa bao giờ em được uống thứ rượu tuyệt diệu thế này.

Sau khi tiếp tục ăn và uống vài ba tuần rượu nữa. Thấy lão phù thủy đã thật sự mê mẩn vì thái độ lịch sự và cách thù tiếp ân cần của mình, công chúa liền ra hiệu cho ả nô tì đang tiếp rượu, vừa lớn tiếng sai ả rót đầy ly của nàng và ly của khách. Kẻ hầu dâng rượu.

Khi lão phù thủy và nàng mỗi người cầm một ly, nàng nói:

- Em không hiểu theo phong tục của quý quốc, khi đã thật sự yêu nhau và cùng uống rượu với nhau như hai ta đây, thì người ta xử sự thế nào. Còn ở bên Trung Quốc quê em, đôi uyên ương phải cùng nhau đổi chén và như vậy là uống để chúc mừng sức khỏe của nhau.

Vừa nói nàng vừa nâng ly rượu của mình đưa cho lão, đồng thời đưa tay kia ra chờ đón ly rượu lão trao.

Lão phù thủy người Phi vội vàng đổi ly rượu, lão càng chắc đây là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ lão đã hoàn toàn chinh phục được trái tim công chúa, và ý nghĩ đó làm cho lão sướng rơn. Trước khi cạn chén, lão nói, ly rượu cầm ở tay:

- Thưa công chúa, người châu Phi chúng tôi quả là chưa được tinh tế bằng người Trung Quốc trong các chuyện yêu đương. Trong khi tiếp thụ một bài học chưa từng được biết, tôi cũng hiểu thêm là tôi thật thấm thìa sâu sắc đặc ân của nàng. Công chúa yêu kiều ơi, tôi sẽ không bao giờ quên rằng, uống rượu trong ly của nàng, kẻ này sẽ tìm lại được cuộc sống đã tưởng như tuyệt vọng, nếu nàng cứ đối xử với tôi như trước đây.

Công chúa Bađrunbuđua đã chán ngấy những lời tán tỉnh tràng giang đại hải của lão phù thủy, liền ngắt lời:

- Mời ngài hãy cạn chén, rồi sẽ nói tiếp những lời ngài muốn dạy bảo em.

Vừa nói nàng nâng ly rượu lên miệng và chỉ chạm đầu môi vào, trong lúc lão phù thủy, để tỏ ra nhanh nhẩu, đã nốc cạn một hơi cho đến giọt cuối cùng. uống xong, lão hơi ngửa đầu về phía sau để tỏ ra mình đã cạn chén, và đứng sững như vậy cho đến khi công chúa ly rượu vẫn chạm ở đầu môi, trông thấy đôi mắt lão trợn trừng và thân hình lão ngã vật ra bất tỉnh nhân sự.

Công chúa không cần truyền lệnh mở cánh cửa bí mật cho Alátđanh. Những người hầu của nàng, được mật báo từ trước, đã rải ra từng quãng một từ phòng khách xuống tận dưới chân cầu thang, thành thử lão vừa lăn kềnh xuống thì cánh cửa cũng vừa mở ra gần như ngay tức khắc.

Alátđanh đi lên và bước vào phòng khách, chàng ôm hôn công chúa vừa đứng dậy định ra đón chàng.

Thấy nàng tỏ ý mừng vui, chàng nói:

- Công chúa ơi, bây giờ chưa phải lúc, xin nàng vui lòng trở về buồng riêng và ra lệnh cho mọi người đi ra ngoài, trong khi tôi làm công việc đưa nàng trở về Trung Quốc, cũng nhanh chóng như lúc nàng bị đưa đến đây.

Đúng như vậy, khi công chúa cùng những người hầu và hoạn nô đi ra ngoài, Alátđanh đóng cửa lại đến gần xác lão phù thủy nằm chết thẳng cẳng, mở khuy áo lão và lấy ra cây đèn được gói ghém cẩn thận đúng như công chúa đã thấy. Chàng mở gói và miết mạnh tay vào đèn. Lập tức thần đèn hiện lên với lời chào hỏi thường lệ.

Alátđanh bảo:

- Ta gọi ngươi đến đây để nhân danh cây đèn chủ của ngươi mà ngươi trông thấy đây, ra lệnh cho ngươi ngay tức khắc hãy đưa tòa lâu đài này trở về đúng chỗ cũ của nó bên Trung Quốc.

Thần đèn khẽ cúi đầu tỏ ý tuân lệnh và biến mất. Quả nhiên việc di chuyển diễn ra. Mọi người chỉ cảm thấy hai lần bị lay động nhẹ, một lần lúc tòa lâu đài được nhấc bổng lên từ một nơi bên châu Phi, và một lần khi nó được đặt xuống đất Trung Quốc, đối diện với hoàng cung, hai lần lay động cách nhau một thời gian rất ngắn.

Alátđanh đi xuống buồng riêng của công chúa, ôm hôn nàng và nói:

- Công chúa ơi, ta có thể quả quyết với nàng rằng niềm vui của nàng và của ta sáng sớm mai sẽ trọn vẹn.

Vì công chúa chưa ăn xong và Alátđanh thì đang đói, nàng liền sai mang từ phòng khách hai mươi bốn cửa sổ xuống những món ăn vừa dọn ra đấy và hầu như chưa ai động vào. Hai vợ chồng cùng ăn và uống thứ rượu quý lâu năm của lão phù thủy. Sau đó chuyện trò vui vẻ rồi lui về buồng riêng.

Từ khi lâu đài Alátđanh biến mất và công chúa Bađrunbuđua bị bắt cóc, hoàng đế vua cha của nàng tưởng đã mất hẳn con, buồn không thể nào tả xiết. Hầu như ngày cũng như đêm vua không chạp mắt; và đáng lẽ tránh những thứ gì có thể gợi buồn, vua cha lại cố tình tìm những cái đó. Khác với trước kia, mỗi ngày vua chỉ đến căn phòng trống vào buổi sáng để ngắm nghía tòa lâu đài cho thỏa thích và không bao giờ lấy làm chán, bây giờ một ngày vua đến nhiều lần, mỗi lần lại khóc lóc đau khổ hơn, nuối tiếc hơn, vì không thể nhìn thấy lại cái mình xiết bao ưa thích, vì đã mất đi đứa con yêu quý nhất trên đời.

Đúng vào buổi sáng tòa lâu đài của Alátđanh được đưa trả về chỗ cũ, trời vừa rạng đông, hoàng đế đã đến căn phòng trống ấy. Lòng quá sầu não, lúc bước vào vua chỉ đưa đôi mắt buồn bã nhìn về phía quảng trường, ngỡ là sẽ lại nhìn thấy cảnh trống trải như mọi bận. Nhưng khi nhìn thấy khoảng trống ấy đã có vật gì che lấp, thoạt tiên vua tưởng rằng đấy là do sương mù gây nên. Vua nhìn chăm chú hơn, và nhận ra đấy chính là dinh cơ của Alátđanh mà vua biết quá rõ, không thể nào nhầm lẫn được. Thế là, hết buồn phiền sầu não, lòng rạng rỡ mừng vui, vua rảo bước trở về buồng riêng và truyền lệnh thắng yên cương mang ngựa lại ngay cho mình. Ngựa được đưa đến, vua nhảy lên đi ngay, mà vẫn cảm thấy sao chậm đến được tới dinh Alátđanh vậy.

Đã đoán được điều sẽ xảy ra, Alátđanh thức dậy từ lúc tảng sáng. Vừa mặc xong bộ áo quần sang trọng nhất, chàng lên phòng khách hai mươi bốn cửa sổ, thì trông thấy hoàng đế đang đi ngựa tới. Chàng xuống thang, vừa kịp đón vua ngay ở chân cầu thang lớn và đỡ vua xuống ngựa. Vua nói:

- Alátđanh, ta chỉ có thể nói chuyện với ngươi sau khi ta gặp và ôm hôn con gái ta.

Alátđanh dẫn vua tới phòng riêng của công chúa Bađrunbuđua. Vừa thức dậy, công chúa đã được Alátđanh nhắc là nên nhớ nàng không còn trên đất châu Phi nữa mà đang ở Trung Quốc, ngay trong kinh thành của phụ vương mình, sát ngay bên cạnh cung điện của người. Lúc ấy nàng cũng vừa mặc áo xong.

Hoàng đế ôm hôn con gái nhiều lần, mặt đầm đìa nước mắt mừng vui. Công chúa cũng không sao biểu lộ hết lòng hân hoan được gặp lại cha. Hoàng đế một lúc lâu không tài nào mở miệng nói nên lời, để tỏ cho con gái biết mình xúc động xiết bao được trông thấy nàng, sau khi đã bao lần than khóc tưởng nàng chắc chắn không còn sống nữa. Công chúa, về phần mình, cũng khóc như mưa vì vui mừng được gặp lại cha.

Cuối cùng, vua nói nên lời:

- Con ơi, cha muốn tin rằng vì vui mừng được gặp cha cho nên con có vẻ không thay đổi nhiều, như thể đã không xảy ra việc gì đáng bực. Tuy nhiên, cha tin chắc con đã phải đau khổ nhiều. Không thể nào bị chuyển đi cùng với cả tòa lâu đài, đột ngột như đã từng xảy ra với con, mà không phải hoảng hốt lo âu ghê gớm. Cha muốn con hãy thuật lại cho cha nghe mọi việc và không che giấu một điều gì.

Công chúa lấy làm vui lòng được thỏa mãn điều vua cha muốn biết.

- Tâu bệ hạ, – nàng đáp – nếu con có vẻ không thay đổi mấy ấy là nhờ con bắt đầu thở được từ sáng sớm hôm qua, khi trông thấy Alátđanh người chồng thân yêu và người giải thoát cho con, mà con vẫn khóc than cầm bằng như đã mất rồi. Và chính niềm hạnh phúc được ôm hôn cha hôm nay đã làm cho con gần lấy lại sức hoàn toàn như trước.

Tuy nhiên, tất cả mọi nỗi đau khổ của con thật ra chỉ tại con buộc phải xa lìa vua cha và người chồng thân yêu của mình. Con không chỉ thương nhớ chàng mà con e chàng phải chịu oai sấm sét mặc dù vô tội. Con không phải khổ nhiều vì tội hỗn xược của tên bắt cóc con, hắn chỉ nói những điều con không thích. Con có cách ngăn không cho hắn nói. Ngoài ra, con cũng chẳng bị bó buộc gì hơn lúc này đây. Còn về việc con bị bắt cóc. Alátđanh hoàn toàn không can dự, chính con đã gây nên, tuy rằng không phải tại lòng con muốn thế.

Để cho hoàng đế tin chắc những lời vừa nói là đúng sự thật, công chúa kể lại chi tiết từ việc lão phù thủy cải trang làm người đi buôn đổi đèn mới lấy đèn cũ, việc nàng vì không rõ bí mật và tầm quan trọng của cây đèn thần cho nên sai mang ra đổi lấy đèn mới cho vui; việc phải chuyển sang châu Phi cùng với lão phù thủy; lão này sau khi thành công trong việc làm táo bạo ấy, lần đầu tiên đến gặp nàng và đòi nàng lấy lão, thì bị hai người hầu gái và viên hoạn nô đã mang cây đèn xuống đổi nhận diện; cho đến cảnh đày đọa nàng phải chịu đựng mãi tới khi Alátđanh đến; cách thức thực hiện để đoạt lại cây đèn lão phù thủy mang trong người; và hai vợ chồng, đặc biệt là nàng đã thành công như thế nào qua việc giả vờ ân cần với lão, mời lão ăn cơm tối với mình rồi đánh tráo ly rượu.

- Còn những gì xảy ra sau đó, con xin nhường lời để Alátđanh tâu với cha. – Nàng nói tiếp.

Alátđanh chẳng còn có gì nhiều để thuật lại cho vua nghe. Chàng nói:

- Khi cánh cửa bí mật mở ra, con lên tới phòng khách hai mươi bốn cửa sổ, đã thấy tên phản trắc bị thuốc độc ngấm vào nằm chết trên sập, và vì không tiện để công chúa ở lại đấy lâu hơn, con đã mời nàng cùng bọn hầu gái và hoạn nô xuống phòng riêng. Con ở lại một mình, và sau khi lấy cây đèn trong người lão phù thủy, con lại dùng bí quyết lão ta đã dùng để cưỡng đoạt tòa lâu đài cùng công chúa. Con sai chuyển tòa lâu đài trả về chỗ cũ, và được vinh hạnh đưa công chúa về với bệ hạ, như ý nguyện của nàng. Con không dám mời bệ hạ nhưng nếu Người vui lòng quá bộ lên phòng khách, Người sẽ trông thấy lão phù thủy bị trừng trị đáng với tội trạng của lão.

Để hoàn toàn nắm chắc sự thật, hoàng đế đứng dậy, đi lên phòng khách. Khi trông thấy lão phù thủy người Phi nằm chết, mặt nhọt nhạt vì ngấm thuốc độc, vua lại ôm hôn Alátđanh rất âu yếm và nói với chàng:

- Con ơi, xin con chớ để bụng về những cách cha đã đối xử với con. Tình phụ tử buộc cha phải làm như vậy, con hãy tha thứ cho cha những việc làm hơi quá đáng.

- Tâu bệ hạ, con hoàn toàn không có điều gì dám phàn nàn về cách xử sự của bệ hạ. Người làm như vậy cũng phải thôi. Chính lão phù thủy, tên súc sinh, kẻ đốn mạt ấy mới là nguyên nhân duy nhất làm cho con bị thất sủng. Bao giờ bệ hạ rỗi rãi, con sẽ xin kể lại hầu Người một chuyện đểu cáng khác mà lão đã chơi khăm con, cũng không kém độc địa hơn chuyện vừa rồi, mà con thoát được đặc biệt nhờ ơn cao Thượng đế.

- Ta sẽ dành riêng một buổi cho chuyện đó, và cũng gần đây thôi. – Vua đáp – Giờ đây chúng ta hãy nghĩ tới chuyện mừng vui. Con hãy sai dọn cái vật gớm ghiếc kia đi!

Alátđanh mang xác lão phù thủy đi, truyền đưa vất ở bãi rác cho sói tha quạ mổ. Trong thời gian ấy, hoàng đế ra lệnh nổi trống chiêng đàn sáo báo tin vui chung, và cho ban bố hội lớn kéo dài mười ngày để mừng công chúa và phò mã trở về bình yên cùng với tòa lâu đài của họ.

- Tâu bệ hạ, – nàng Sêhêrazát nói tiếp – lần thứ hai Alátđanh thoát được một cơn hoạn nạn gần như khó tránh khỏi thiệt mạng, như vậy đấy. Nhưng đây cũng chưa phải là lần cuối cùng. Chàng còn phải lâm nạn một lần thứ ba nữa, xin thuật lại sau đây:

Số là lão phù thủy người Phi có một đứa em trai pháp thuật cao cường không kém lão. Hơn nữa, có thể nói là về mặt độc ác và thủ đoạn hại người thì hắn còn hơn đứt cả ông anh. Vì không phải lúc nào chúng cũng ở cùng với nhau trong một thành phố, và thường là khi tên này ở xứ đông thì lão kia ở xứ đoài, cho nên năm nào chúng cũng dùng phép bấm dẫn để biết tên kia hiện đang ở nơi nào trên trái đất, tình cảnh ra làm sao và có gì cần giúp lẫn nhau hay không.

Ít lâu sau khi lão phù thủy bỏ mạng trong mưu đồ phá hoại hạnh phúc Alátđanh, tên em trai của lão lúc bấy giờ không có mặt tại châu Phi mà đang ở một xứ rất xa xôi. Từ một năm nay không biết tin tức của ông anh, lão muốn hiểu xem anh hiện đang ở nơi nào trên trái đất có khỏe mạnh không và đang làm gì. Hắn mang các thứ đồ nghề ra, tính tính toán toán. Gieo quẻ đầu hắn biết ông anh không còn sống trên đời này nữa.

Gieo quẻ thử hai hắn biết ông anh đã bị đầu độc và chết bất đắc kỳ tử. Gieo quẻ thứ ba hắn biết đúng là chết tại chỗ nọ trong kinh thành nước này. Và cuối cùng hắn biết được lão ta bị đầu độc bởi một người xuất thân hàn vi vừa lấy được nàng công chúa con vua làm vợ.

Sau khi bằng cách đó, biết được số phận đáng buồn của ông anh rồi. Hắn không để mất thời giờ khóc lóc thở than, vì có làm như vậy cũng chẳng khiến cho anh sống lại được. Quyết trả thù cho anh, hắn lập tức lấy ngựa lên đường sang Trung Quốc. Đi một mạch qua nào đồng bằng, nào núi non, nào sa mạc, không dừng chân ở bất cứ một nơi nào, chịu đựng không biết bao nhiêu là gian nan khổ ải, cuối cùng hắn đến được đất Trung Quốc, rồi ít lâu sau vào tới kinh thành, đúng nơi mà quẻ bấm dẫn đã cho hắn biết. Chắc chắn là không nhầm lẫn, hắn dừng lại và tìm chỗ trọ.

Ngày hôm sau, lão phù thủy đi dạo ra phố không phải để ngắm cảnh đẹp – hắn cũng chẳng thiết gì đến danh lam thắng cảnh – mà để bắt đầu thực hiện mưu đồ độc địa của mình. Hắn đi đến những nơi đông đúc nhất và lắng tai nghe người ta đàm đạo.

Tại một nơi có đủ các trò chơi giải trí, những người này thì vui chơi, những người kia thì nói chuyện với nhau về nhân tình thế thái hoặc về công việc làm ăn, hắn nghe người ta bàn tán về một người đàn bà sống ẩn dật tên là Phatim phép thuật nhiệm màu, đức độ vô song và có thể làm nên những điều kỳ diệu nữa là khác. Nghĩ rằng bà này có thể có ích ít nhiều cho mưu đồ của mình, hắn gọi một người đang nói chuyện ra riêng một nơi và yêu cầu vui lòng nói rõ hơn cho hắn nghe bà nữ thánh ấy là ai và bà ta làm nên những phép màu ra sao.

- Thế nào? Bác chưa bao giờ trông thấy hoặc nghe nói đến bà ấy ư? Cả thành phố này đều ngưỡng mộ sự chân tu khổ hạnh và tấm gương đạo đức của bà. Trừ ngày thứ hai và thứ sáu, bà không ra khỏi cái am nhỏ của mình. Còn những ngày khác ra phố bà ban không biết bao nhiêu là phép lành. Chưa hề có một ai khổ sở vì cơn bệnh đau đầu mà không được chữa khỏi chỉ bằng cách nhờ bà đặt bàn tay lên trán.

Lão phù thủy không muốn biết nhiều hơn nữa về chuyện ấy; hắn chỉ hỏi thăm cái am tu của bà ở khu nào trong thành phố. Người kia chỉ cho. Thế là sau khi trù tính xong âm mưu đen tối của mình, hắn chờ đến hôm bà đi làm phúc đầu tiên kể từ khi hắn dò hỏi, hắn bám sát cho đến chiều tối, lúc bà trở về am. Nhận kỹ địa điểm rồi, hắn trở về quán trọ, nơi người ta vẫn đến uống rượu hâm nóng và cũng có thể nghỉ lại, đặc biệt vào những hôm thời tiết nóng nực, thì mọi người thích trải chiếu ra đất nằm hơn là ngủ trên giường.

Lão phù thủy sau khi trả cho chủ quán món tiền trọ chẳng đáng là bao, đến nửa đêm thức dậy ra khỏi quán và đi thẳng đến cái am của Phatim thánh nữ – khắp kinh thành này mọi người đều gọi bà bằng cái tên ấy. Cửa am chỉ cài then, hắn mở ra chẳng khó nhọc gì. Hắn nhẹ nhàng đóng cửa lại, đi vào và nhờ ánh trăng nhìn thấy Phatim đang nằm ngủ ngoài trời, trên một chiếc chiếu rách và dựa vào am tu. Hắn tiến đến gần, rút chiếc dao găm vẫn đeo bên người ra khỏi vỏ, rồi đánh thức bà dậy.

Bừng tỉnh, bà Phatim đáng thương rất ngạc nhiên thấy một người đàn ông sắp giết mình. Hắn dí lưỡi dao vào ngực bà, sẵn sàng đâm và dọa:

- Nếu mày kêu lên hoặc gây nên một tiếng động nhỏ thì tao giết. Hãy đứng lên, tao bảo làm gì làm nấy!

Bà Phatim vẫn mặc áo quần ngoài mà ngủ, vừa run vừa đứng đậy. Lão phù thủy nói:

- Chớ có sợ, tao chỉ cần chiếc áo của mày, hãy cởi ra đưa đây và mặc áo của tao vào!

Hai bên đổi áo cho nhau. Mặc xong chiếc áo của Phatim vào người, hắn bảo bà:

- Hãy tô mặt cho ta như mặt mày, làm sao cho giống và không phai màu!

Thấy bà vẫn còn run, để cho bà vững tay làm việc hắn truyền, lão phù thủy nói:

- Đừng sợ, nghe ta bảo đây: ta thề trước Thượng đế là ta sẽ để cho mày sống.

Bà Phatim đưa lão vào trong am, thắp đèn lên, rồi lấy một cái lọ đựng một thứ nước gì đó và một cái bút lông, bà phết lên mặt lão và quả quyết là màu sẽ không phai, màu da mặt hắn sẽ giống mặt bà như in. Bà lại đội lên đầu hắn chiếc khăn của mình, kèm theo một tấm mạng che mặt và bày cho hắn biết cách dùng để che mặt lúc đi ra phố. Cuối cùng sau khi quàng vào cổ hắn một chuỗi hạt to trễ xuống tận rốn, bà đặt vào tay hắn chiếc gậy bà vẫn dùng, rồi đưa cho hắn một chiếc gương soi.

- Đấy, ngài xem, ngài sẽ thấy giống tôi như lột.

Lão phù thủy thấy vừa ý, nhưng hắn không giữ vẹn lời thề thốt long trọng với bà Phatim hiền hậu. Để người ta khỏi thấy vết máu đâm bằng dao, lão phù thủy bóp cổ bà, rồi khi thấy bà tắt thở, hắn cầm chân kéo xác bà đến cái giếng xây cạnh am và ném xuống đấy.

Sau khi phạm tội ác ghê tởm, lão phù thủy cải trang làm Phatim thánh nữ ngủ lại cho hết đêm hôm ấy ở trong am. Sáng hôm sau, vào khoảng một hai giờ sáng, mặc dù ngày hôm ấy không phải là ngày thánh nữ thường đi làm phúc, hắn vẫn cứ đi ra, tin chắc rằng chẳng có ai hỏi về việc đó, và nếu nhỡ có ai hỏi thì hắn cũng đã nghĩ sẵn câu trả lời. Bởi vì một trong những việc đầu tiên của hắn khi mới đến kinh thành này là xem cho biết tòa lâu đài Alátđanh ở đâu, và hôm nay định diễn cái trò của hắn ở đấy, cho nên hắn đi thẳng về phía lâu đài.

Vừa trông thấy bà thánh, – ai cũng tưởng đấy là thánh nữ thật – mọi người ùn ùn kéo đến vây quanh. Người thì xin bà cầu nguyện cho, kẻ thì hôn tay bà, có những người hoặc là đang đau đầu hoặc là muốn phòng ngừa bệnh đó, cúi đầu trước mặt lão phù thủy để cho hắn đặt tay lên, hắn cũng cứ làm và lẩm bẩm vài câu trong miệng như thể đọc kinh. Hắn bắt chước khéo đến nỗi mọi người đều tin rằng đấy chính là bà thánh thật.

Sau khi dừng lại mấy lần để thỏa mãn những người muốn chữa bệnh đau đầu theo cách đó, cuối cùng hắn tới quảng trường trước lâu đài Alátđanh. Người tụ tập càng đông hơn, ai muốn đến gần hắn phải chen lấn ra trò mới vào được tới nơi. Những kẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn nhất chen vai thích cánh mà băng vào, gây nên những tiếng qua tiếng lại, ồn ào vang vọng đến tận phòng khách hai mươi bốn cửa sổ nơi công chúa Bađrunbuđua đang ngồi.

Nàng hỏi có việc gì ồn ào như vậy, không ai trả lời được. Nàng liền sai người ra xem rồi vào trình bày cho rõ. Một người hầu gái không bước ra khỏi phòng khách, chỉ nhìn qua bức mành, trở lại thưa rằng tiếng ồn ào ấy là do đám đông tụ tập quanh thánh nữ để xin bà chữa bệnh đau đầu bằng cách đặt tay lên trán.

Công chúa từ lâu đã nghe nói nhiều điều tốt lành về thánh nữ nhưng chưa hề trông thấy bà, tò mò muốn gặp mặt và hỏi chuyện. Cũng như bất cứ lúc nào nàng tỏ một mong muốn gì, viên trưởng hoạn nô có mặt ở đấy vội thưa: “Nếu công chúa cần, xin cứ truyền bảo, sẽ có cách mời bà lên.” Công chúa bằng lòng, lập tức gã ra lệnh cho bốn tên hoạn nô, xuống mời bà thánh giả hiệu lên phòng khách.

Khi bọn hoạn nô ra khỏi cổng lâu đài, và mọi người trông thấy chúng đi thẳng về phía lão phù thủy cải trang, thì đám đông giải tán. Lão phù thủy được rảnh rang, thấy các hoạn nô đến, liền tiến lên mấy bước, lòng khấp khởi mừng thầm là mưu đồ của mình đang tiến triển thuận chiều. Một hoạn nô bảo hắn:

- Thưa thánh nữ, công chúa tôi muốn gặp bà, mời bà hãy đi theo chúng tôi.

- Công chúa làm vinh hạnh cho già quá, – bà Phatim giả hiệu đáp – già sẵn sàng tuân lệnh.

Vừa nói hắn vừa theo mấy gã hoạn nô đi vào dinh quan phò mã.

Khi lão phù thủy nấp dưới chiếc áo chân tu để che đậy một tấm lòng quỷ dữ, bước vào phòng khách có hai mươi bốn cửa sổ và trông thấy công chúa, hắn rì rầm đọc một thôi kinh kệ và nói những lời dài dòng chúc tụng công chúa phúc lộc an khang, vạn sự như ý. Tiếp đó hắn mang tất cả mồm mép liến láu của một tên chuyên nghề lường gạt và dối trá để lòe công chúa, làm cho nàng tin rằng đây quả là một đấng đại đức chân tu. Việc đó cũng dễ thôi, bởi bản chất công chúa vốn tốt, nàng tin tưởng chắc chắn trên đời ai cũng tốt như mình, đặc biệt là những người đã lánh xa trần tục để đi ẩn dật mà tu hành.

Chờ cho Phatim giả hiệu đọc xong lời chúc tụng dông dài của hắn, công chúa nói:

- Mẹ ơi, xin cảm ơn những lời cầu nguyện tốt lành của mẹ, con tin tưởng lắm, và hy vọng là những lời của mẹ sẽ linh hiển. Xin mời mẹ hãy đến gần và ngồi xuống đây, bên cạnh con.

Phatim giả vờ cố tình là ra vẻ khiêm nhường. Công chúa lại nói:

- Mẹ ơi, con xin mẹ một điều. Mong mẹ ưng cho, chớ có khước từ. Ấy là mời mẹ ở lại hẳn đây với con, để ban phước lành cho con, để cho con được noi gương sáng của mẹ mà phụng thờ Thượng đế.

Phatim giả hiệu liền nói:

- Thưa công chúa, xin công chúa chớ đòi hỏi già này làm một điều buộc phải xa rời và xao nhãng công việc tu hành cầu nguyện.

- Xin mẹ chớ băn khoăn, – công chúa tiếp – trong nhà này còn nhiều buồng không ai ở, mẹ sẽ chọn một buồng thích họp với mẹ nhất, ở đấy mẹ sẽ tự do làm mọi việc tu hành y như ở trong am của mẹ vậy.

Lão phù thủy không có mục đích nào khác hơn là được vào trong lâu đài của Alátđanh, ở đây dưới sự chăm sóc và che chở của công chúa, hắn sẽ dễ dàng thực hiện mưu đồ ác độc của mình, còn hơn là phải đi đi về về từ am của hắn đến lâu đài và từ lâu đài trở về am.

Không chờ công chúa khẩn khoản hơn nữa, hắn đáp:

- Thưa công chúa, mặc dù một kẻ tu hành khốn khó và hèn mọn như già, đã quyết tâm xa lánh cuộc đời trần tục, lẩn tránh mọi phú quý vinh hoa, nhưng già cũng không dám cưỡng lại ý muốn và mệnh lệnh của một vị mộ đạo thành tâm như công chúa.

Nghe câu nói đó, công chúa liền đứng lên thưa:

- Xin mẹ hãy đứng dậy đi theo con, con sẽ chỉ cho mẹ xem những căn buồng còn để trống tùy ý mẹ chọn.

Hắn đi theo công chúa Bađrunbuđua, và qua tất cả các căn phòng đến xem, phòng nào cũng rất sạch sẽ và bày biện rất sang trọng. Hắn chọn một căn kém sang hơn cả, và vờ vịt nói rằng căn buồng này đã quá tốt đối với hắn, hắn chịu ở đây chẳng qua để làm vui lòng công chúa mà thôi.

Công chúa muốn mời tên gian ngoan ấy trở lại phòng khách có hai mươi bốn cửa sổ dùng bữa với nàng. Nhưng hắn sợ đến khi ăn phải cất tấm mạng mà hắn vẫn luôn đeo trên mặt cho đến lúc bấy giờ, e công chúa sẽ nhận ra đây không phải là Phatim thánh nữ như nàng vẫn tưởng, cho nên khẩn khoản xin nàng miễn cho, nói rằng hắn quen ăn bánh mì với vài thứ quả khô, xin hãy cho phép hắn dùng bữa thanh đạm của mình trong căn buồng riêng. Hắn nài nỉ quá đến nỗi công chúa phải thuận tình.

- Mẹ ạ, xin tùy ý mẹ, mẹ hãy tự nhiên như ở am nhà, – nàng nói. – Con sẽ sai người mang thức ăn lại cho mẹ. Nhưng mẹ nhớ cho là con chờ mẹ dùng bữa xong xin mời mẹ đến đây ngay cho.

Công chúa đi ăn cơm. Khi một viên hoạn nô được công chúa sai đến báo cho nàng biết đã xong bữa, hắn vội vàng đến ngay. Công chúa nói:

- Mẹ ạ, con rất bằng lòng được có riêng một thánh nữ như mẹ để ban phước cho dinh cơ này. Nhân thể, xin hỏi mẹ thấy tòa lâu đài này thế nào? Nhưng, trước khi con dẫn mẹ đi xem kỹ từng buồng một, mẹ hãy cho biết ý kiến về phòng khách này.

Phatim giả, để đóng thật khéo vai trò của mình, cho đến lúc này vẫn luôn luôn cúi đầu, ngay đến đưa mắt nhìn sang hai bên cũng không, nghe hỏi như vậy mới ngẩng đầu lên, nhìn từ đầu này tới đầu kia căn phòng, và sau khi xem xét cẩn thận, hắn đáp:

- Thưa công chúa, phòng khách này thật sự là tuyệt tác và đẹp đẽ vô song. Tuy nhiên theo ý của một kẻ sống cô đơn, không am hiểu thế nào là cái đẹp ở trên đời, thì hình như còn thiếu một vật.

- Vật gì vậy hở mẹ? – Công chúa hỏi – Con van mẹ, mẹ hãy nói cho con biết! Riêng con, xưa nay con vẫn tưởng và vẫn nghe người ta nói là nhà này chẳng thiếu một thứ gì, nếu quả là còn thiếu, con sẽ cho làm thêm ngay cho kỳ đủ.

- Xin công chúa hãy tha thứ cho già đã dám mạo muội nói bừa, – Phatim giả lại vờ vĩnh nói – ý kiến của già chẳng có gì quan trọng lắm đâu. Nhưng giá có một quả trứng chim đại bàng treo ở trên cao, vào chính giữa mái vòm kia, thì phòng khách của công chúa sẽ là có một không hai trong khắp bốn biển năm châu, và lâu đài của công chúa sẽ trở thành kỳ quan của vũ trụ.

- Mẹ ơi, con chim đại bàng ấy là chim gì vậy, và tìm đâu ra trứng của nó hở mẹ?

- Thưa công chúa, đó là một con chim to một cách kỳ lạ, nó vẫn đậu trên đỉnh cao nhất của dãy núi Cápca. Người đã xây nên tòa lâu đài này chắc chắn có thể tìm được cho công chúa một quả trứng của con chim đó.

Công chúa cảm ơn Phatim giả về ý kiến hay ho của hắn, rồi tiếp tục chuyện trò với hắn về nhiều chuyện khác; nhưng trong đầu óc vẫn không sao quên được quả trứng chim đại bàng. Nàng định bụng sẽ nói lại với Alátđanh ngay sau khi chàng đi săn về. Chàng đi săn đã sáu ngày rồi, và lão phù thủy không phải là không biết điều đó, cho nên đã lợi dụng lúc chàng vắng mặt. Chàng trở về tối hôm ấy, vào lúc Phatim giả vừa từ biệt công chúa trở về buồng của hắn.

Về tới nhà, Alátđanh vào phòng riêng của công chúa, nàng cũng vừa về đây. Chàng chào và ôm hôn vợ, nhưng cảm thấy nàng hơi có vẻ lạnh lùng.

- Công chúa ơi, ta thấy công chúa không vui như bình thường. Phải chăng trong thời gian ta đi vắng, đã có việc gì xảy ra không đáng hài lòng, gây cho nàng phiền muộn hoặc bất bình? Xin nàng chớ giấu, ta sẽ làm đủ mọi cách trong phạm vi quyền lực mình cho phép, để xua tan nỗi không vui ấy.

- Chẳng có gì quan trọng đâu. – Công chúa đáp. – Tuy có một việc làm cho em vướng chút băn khoăn, không ngờ nó lại hiện lên nét mặt để chàng nhận thấy. Nhưng, bởi chàng đã nhận ra sắc mặt em có ít nhiều đổi khác mà hỏi, thì em cũng chẳng dám giấu chàng, dù nó chỉ là việc nhỏ nhặt. Từ trước tới nay, cũng như chàng, em vẫn tưởng -công chúa Bađrunbuđua nói tiếp – là lâu đài của chúng ta nguy nga nhất, tráng lệ nhất, hoàn hảo nhất trần đời. Ấy thế mà, em xin thưa một ý nghĩ vừa đến với em sau khi xem xét thật kỹ cái phòng khách có hai mươi bốn cửa sổ của chúng mình, chẳng rõ chàng có thấy như em không, rằng sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu có được một quả trứng chim đại bàng treo chính giữa phòng, bên dưới vòm cao này?

- Công chúa ơi, chỉ cần nàng nói, phòng khách chúng ta còn thiếu một quả trứng chim đại bàng, là ta thấy ra đúng là có chỗ khiếm khuyết ấy thật, ta sẽ mau mau cho bù đắp vào chỗ thiếu. Qua việc này, nàng càng thấy rõ là vì nàng, ta không hề từ nan bất cứ một việc gì.

Nói xong, Alátđanh cáo từ công chúa, trở về ngay phòng khách hai mươi bốn cửa sổ, lấy cây đèn – mà chàng thường xuyên mang theo trong người, bất cứ đi đâu, kể từ hôm xảy ra tai biến do sơ suất không mang theo. Chàng đưa tay miết vào. Thần đèn lập tức hiện lên. Alátđanh bảo:

- Thần à, dưới mái vòm cao này thiếu một quả trứng chim đại bàng, nhân danh cây đèn ta cầm ở tay, ta yêu cầu người hãy bù đắp chỗ thiếu sót ấy.

Alátđanh chưa dứt lời, thần đèn đã thét lên một tiếng ầm vang như sấm, rung chuyển cả phòng khách và làm cho Alátđanh loạng choạng, suýt nữa thì ngã lộn nhào:

- Thế nào, tên khốn nạn kia, – thần đèn nói với Alátđanh, giọng dữ tợn đến người bạo gan nhất nghe cũng phát khiếp – các bạn của ta và ta đã làm nên cho mày bấy nhiêu công danh phú quý, mày vẫn chưa cho là đủ hay sao, mà dám vô ơn bạc nghĩa đến cùng cực, dám đòi ta mang chủ của ta đến và treo cổ ngài lên dưới mái vòm này?

Riêng điều xúc phạm ấy đáng để cho cả vợ chồng mày cùng với tòa lâu đài này trở thành tro bụi. Cũng phúc cho mày, việc này không phải do mày gây nên, và đòi hỏi ấy không phải mày tự nghĩ ra. Ta nói cho mày biết, ai là kẻ đã thật sự gây nên điều xúc phạm ấy, đó chính là em trai lão phù thủy người Phi, kẻ thù của mày. Hắn đang ở trong dinh cơ của mày, cải trang dưới chiếc áo của Phatim thánh nữ mà nó đã giết hại. Chính hắn đã gợi ý cho vợ mày xui mày đòi hỏi ta làm điều khốn nạn mày vừa nói đó. Nó mưu toan giết mày đấy hãy liệu mà phòng thân.

Nói xong, thần đèn biến mất.

Alátđanh chú ý lời sau cùng của thần. Chàng từng nghe tiếng tăm Phatim thánh nữ, và cũng không phải là không biết bà biết cách chữa khỏi bệnh đau đầu như mọi người vẫn đồn đại. Trở lại phòng công chúa, chàng không đả động gì tới việc vừa xảy ra, chỉ ngồi xuống đưa tay bóp trán và nói rằng bỗng dưng bị một cơn đau đầu ghê gớm. Công chúa lập tức sai mời thánh nữ đến, và trong thời gian chờ người đi gọi, nàng kể cho Alátđanh nghe bà đến ở lâu đài này trong hoàn cảnh như thế nào và nàng mời bà ở riêng một căn buồng.

Phatim giả hiệu đến. Hắn vừa bước vào, Alátđanh đã nói: “Mẹ ơi, mời mẹ vào đây, con rất sung sướng được gặp mẹ. Chính nhờ vận may run rủi, cho nên con được gặp mẹ lúc này. Tin tưởng vào những lời cầu nguyện của mẹ, con xin mẹ cứu cho, và hy vọng mẹ sẽ không từ chối, như mẹ từng làm phúc cho biết bao nhiêu người!”

Nói xong, chàng đứng đậy cúi đầu. Phatim giả hiệu bước tới, bàn tay nắm chặt chuôi chiếc dao găm giắt ở thắt lưng, dưới lần áo. Alátđanh theo dõi hết, chàng kịp giữ chặt tay không cho hắn rút dao, rồi dùng dao của mình đâm đúng vào tim nó, quật nó ngã xuống chết thẳng cẳng giữa sàn nhà.

- Chàng thân yêu của em ơi, chàng làm gì thế? – Công chúa kinh ngạc kêu lên. – Chàng giết mất thánh nữ rồi.

- Không đâu công chúa ạ, – Alátđanh bình tĩnh đáp -không phải ta sát hại Phatim, mà là giết chết một tên súc sinh định ám hại ta nếu ta không biết trước mà phòng. Chính cái thằng độc ác nàng thấy đây, – chàng vừa nói vừa cất tấm mạng che mặt lão phù thủy – đã bóp chết Phatim ấy thế mà nàng lại thương tiếc và trách ta sao đi giết hắn. Chính hắn đã ngụy trang dưới chiếc áo của bà Phatim thánh nữ để định hại ta. Và ta nói thêm để nàng biết, tên này chính là em trai lão phù thủy người Phi đã từng bắt cóc nàng lần trước đấy.

Alátđanh thoát khỏi sự ám hại của hai anh em lão phù thủy như vậy đó.

Ít lâu sau, hoàng đế quá cao tuổi, qua đời. Vì vua không có con trai, công chúa Bađrunbuđua thừa kế ngai vàng và truyền lại ngôi báu cho chồng. Hai vợ chồng cùng trị vì nhiều năm và lưu danh thơm hậu thế.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.