Ngày hôm sau, Nuarếtđin không quên tới nhà đủ mười người bạn, chả là họ cùng ở một đường phố với chàng. Chàng đập cửa ngôi nhà đầu tiên, cơ ngơi của một trong những người bạn giàu có nhất. Một nô tì ra, trước khi mở cửa, hỏi quý khách là ai.
- Hãy nói với chủ cô rằng, ta là Nuarếtđin, con trai quan tể tướng đã quá cố Khacan.
Ả nô tì mở cửa mời vào một gian phòng, rồi sang phòng bên báo cho chủ rõ.
- Nuarếtđin ư? – Người chủ nhà nói với giọng khinh khi khá to, đủ cho Nuarếtđin nghe được và làm chàng rất kinh ngạc. – Mày hãy ra bảo ta không có nhà, và từ nay cứ mỗi lần ông ta đến, mày đều trả lời như vậy!
Ả nô tì trở lại thưa với Nuarếtđin, lúc nãy nó tưởng ông chủ có nhà, nhưng thật ra nó đã nhầm.
Nuarếtđin hoang mang ra đi:
- A, thằng đểu, thằng độc ác. Vừa hôm qua nó thề thốt rằng trong đám bạn bè của ta, nó là người tốt hơn cả, thế mà hôm nay nó đối xử với ta như vậy!
Chàng đến gõ cửa một người bạn thứ hai. Người này cũng sai người nhà trả lời giống như người bạn thứ nhất. Người bạn thứ ba cũng vậy, cho đến người thứ mười, tất cả đều đi vắng, mặc dù tất cả đều có nhà. Lúc này Nuarếtđin mới tỉnh người, chàng nhận ra lỗi lầm không thể nào chữa được của mình là đã quá dễ dàng tin lời bạn, dễ dàng tin những lời thề thốt giả dối về tình nghĩa của họ khi chàng còn có tiền của để đãi đằng họ thật sang, ban ơn cho họ thật rộng. Nước mắt rưng rưng, chàng tự bảo: “Một người hạnh phúc như ta trước đây chẳng khác nào một cây trĩu quả. Chừng nào trên cây còn có quả thì chung quanh còn có người đến hái. Khi hết quả thì mọi người đều bỏ đi, để trơ cây lại một mình”.
Chàng cố gắng gượng khi còn ở ngoài đường. Nhưng vừa về tới nhà, vẻ âu sầu hiện ra mặt, chàng đến tâm sự cùng Người Đẹp Ba Tư.
Vừa trông thấy, nàng đã biết ngay chàng không tìm được ở bạn bè sự giúp đỡ chàng hằng mong đợi. Nàng nói:
- Thế nào, thưa ngài? Bây giờ ngài hẳn đã tin điều thiếp đã thưa trước với ngài là đúng rồi chứ?
- Ôi, cô nàng thân yêu! Những điều nàng nói thật quá đúng. Không một đứa nào muốn nhận ra tôi, muốn gặp hoặc chuyện trò với tôi. Không bao giờ tôi có thể tin là những kẻ đã chịu ơn tôi to lớn, những người đã làm cho tôi khuynh gia bại sản vì giúp đỡ họ, lại đối xử với tôi tồi tệ như vậy. Tôi không còn tự chủ được nữa. Trong tình trạng thảm thương và tuyệt vọng hiện nay, tôi e có thể làm một điều gì không xứng đáng với nàng, nếu nàng không khuyên bảo cho tôi biết nên làm gì bây giờ.
- Thưa ngài, – Người Đẹp Ba Tư nói – thiếp không thấy có phương sách nào hơn trước nỗi bất hạnh của ngài, là mang nô lệ và đồ đạc của ngài bán bớt đi để mà sống tạm, chờ cho đến khi Thượng đế đoái thương, mà hè cho ngài thấy một con đường khác để ra khỏi cảnh cùng cực này.
Phương thuốc thật cay đắng cho Nuarếtđin. Nhưng trong cảnh ngộ này, chàng còn biết làm gì hơn? Trước hết chàng bán nô lệ, từ nay trở thành những miệng ăn vô ích, hơn nữa cũng quá tốn kém, chàng không kham nổi. Nhờ có số tiền ấy cũng tạm được một thời gian. Ăn hết rồi, chàng cho mang hết bàn ghế và đồ đạc trong nhà ra chợ. Những thứ này mặc dù rất quý và trước đây mua rất đắt tiền, nay chỉ bán được thấp hơn nhiều so với giá trị thực của nó. Tuy nhiên nhờ vậy cũng sống thêm được một thời gian nữa. Song cuối cùng món tiền này rồi cũng hết, chẳng biết đào đâu ra thêm nữa. Chàng nói cho Người Đẹp Ba Tư biết nỗi niềm đau đớn sâu xa của mình.
Nuarếtđin không hề chờ đợi câu trả lời của cô gái khôn ngoan:
- Thưa ngài, – nàng nói – thiếp là một nô lệ của ngài, và ngài biết rằng quan lớn nhà ta xưa đã mua thiếp với giá một vạn đồng tiền vàng. Thiếp biết rằng từ dạo ấy tới nay giá trị của thiếp đã giảm, nhưng thiếp cũng biết rằng mang thiếp đi bán chàng vẫn được một khoản tiền không kém số tiền ấy nhiều lắm đâu. Xin ngài hãy nghe thiếp, xin đừng chần chừ nữa, hãy mang thiếp ra chợ bán! Số tiền ngài thu được sẽ khá lớn đấy, ngài sẽ mang đi lập nghiệp, buôn bán ở một thành phố không có ai quen biết. Bằng cách ấy ngài có thể kiếm sống, nếu không giàu có lắm ít ra cũng đủ làm cho ngài sung sướng và hài lòng.
- Ôi, Người Đẹp Ba Tư đáng yêu ơi! – Nuarếtđin thốt lên. – Sao nàng lại có thể nảy ra ý kiến ấy nhỉ? Ta chưa biết tỏ rõ hết với nàng tình yêu của ta sao, mà nàng cho rằng ta có thể làm một việc hèn hạ đến thế? Làm sao ta có thể làm như nàng nói mà không trái lời thề với phụ thân ta? Ta đã thề không bao giờ mang bán nàng đi. Ta thà chết còn hơn là phụ lời thề ấy, còn hơn là xa cách nàng, người mà ta yêu hơn chính thân ta. Nàng khuyên ta một điều phi lí như vậy, chứng tỏ nàng chưa thật yêu ta.
- Thưa ngài, – Người Đẹp Ba Tư đáp – thiếp hoàn toàn tin chắc chàng yêu thiếp thiết tha, và chỉ có Thượng đế mới biết thiếp yêu chàng đến đâu. Thiếp quả hết sức phiền lòng phải thưa với chàng điều khiến chàng bực bội như vừa rồi. Thiếp chẳng dám cãi lại, mà chỉ xin chàng hãy nhớ cho, khi tình thế đã bức bách thì chẳng còn luật lệ nào ràng buộc ta được nữa. Tình yêu của thiếp đối với chàng không có gì sánh nổi. cho dù sau này thân phận thiếp có thuộc về ai chăng nữa, thiếp vẫn không thôi yêu chàng. Thiếp sẽ sung sướng vô cùng nếu một mai công việc làm ăn của chàng kham khá hơn như thiếp hằng hi vọng, để chàng có thể chuộc thiếp về trở lại với chàng. Tình thế hiện nay thật đau xót đối với chàng cũng như đối với thiếp, nhưng xét tới cùng, thiếp chẳng thấy còn cách nào khác giúp cho hai ta thoát khỏi cơn quẫn bách.
Nuarếtđin biết sự thật đúng như lời Người Đẹp Ba Tư vừa giãi bày. Chàng cũng chẳng còn nguồn lợi nào khác để khỏi sa vào cảnh nghèo đói. Chàng đành phải tính tới chuyện làm theo điều người đẹp vừa khuyên. Thế là chàng buộc phải dẫn nàng ra chợ chuyên mua bán nô lệ, trong lòng tiếc thương không thể nào tả xiết. chàng tìm gặp một người lái tên là Haji Hatxan, và bảo:
- Haji Hatxan à, đây là một nữ nô lệ ta muốn bán. Nhờ anh khảo giá xem bán được bao nhiêu.
Haji Hatxan đưa Nuarếtđin cùng Người Đẹp Ba Tư vào trong một căn buồng, nàng vừa cất tấm mạng che mặt, anh ta đã nói với Nuarếtđin, giọng đầy thán phục:
- Thưa ngài, không biết có phải tôi nhầm chăng? Có thể đây là một nữ nô lệ mà cụ lớn nhà ta đã quá cố, từng mua với giá một vạn đồng tiền vàng?
Nuarếtđin đáp đích thị là nàng. Thế là Haji Hatxan hứa sẽ mang hết tài nghệ của mình ra để cho khách mua với giá cao nhất, nhờ vậy Nuarếtđin hi vọng mình sẽ kiếm được một món tiền khá lớn.
Hai người ra khỏi, Haji Hatxan nhốt Người Đẹp Ba Tư lại trong buồng. Tiếp đó, anh đi tìm những người buôn, nhưng họ đang bận mua những nô lệ người Hy Lạp, người châu Phi, người Tácta cùng nhiều xứ khác. Anh đành ngồi chờ cho tới khi họ mua bán xong. Sau khi họ đã rảnh rang và tập trung lại hầu như đông đủ, anh cất lời nói với họ, vẻ mặt và điệu bộ tươi tỉnh:
- Thưa các ngài quý mến, không phải hễ vật gì tròn đều là trái phỉ, hễ vật gì dài là trái vả, không phải thịt nào cũng có màu đỏ và quả trứng nào cũng tươi. Tôi cũng muốn nói rằng, trong đời các ngài, các ngài từng mua bán không biết bao nhiêu là nữ nô lệ, nhưng chưa bao giờ một cô nào có thể mang ra so sánh với người tôi sắp giới thiệu với các ngài hôm nay đây. Con người tôi giới thiệu là hạt ngọc của các nữ nô lệ. Xin mời đi theo tôi, tôi sẽ trình các ngài xem. Tôi muốn các ngài cho biết giá gốc để tôi sẽ rao cho người ta mua đấu giá.
Những người buôn đi theo Haji Hatxan. Anh mở cửa căn buồng nhốt Người Đẹp Ba Tư. Trông thấy nàng, tất thảy đều ngạc nhiên, và cùng một tiếng, thỏa thuận ngay với nhau rằng không thể đặt giá dưới bốn nghìn đồng vàng. Họ ra khỏi, Haji Hatxan khóa trái buồng rồi lại ra theo, và lớn tiếng rao ngay tại chỗ:
- Bán một người nữ nô lệ Ba Tư bốn ngàn đồng vàng trở lên đây!
Các nhà buôn đang bàn bạc với nhau nên đấu với giá nào, chợt tể tướng Xaoui xuất hiện. Nhìn thấy Nuarếtđin, lão tự nhủ:
- Gã này hẳn mới bán được ít đồ đạc (vì lão cũng có nghe nói chuyện này), cho nên tới đây tìm mua một nữ nô lệ chăng?
Lão bước tới, trong khi Haji Hatxan tiếp tục rao:
- Bốn nghìn đồng vàng trở lên cho một nữ nô lệ Ba Tư đây!
Giá đặt thật cao ấy khiến cho Xaoui nghĩ hẳn người nữ nô lệ này xinh đẹp vô cùng, và bỗng nảy ra ý muốn nhìn xem cho bằng được. Lão thúc ngựa thẳng tới gần Haji Hatxan, đang đứng quây quần giữa các nhà buôn và bảo anh:
- Hãy mở cửa ra, cho ta xem con nô lệ!
Theo tục lệ buôn bán người ở đây, không một ai được xem riêng, sau khi các nhà buôn đã cùng xem và cùng nhau ước định giá. Nhưng các nhà buôn không ai có gan nêu luật lệ của họ ra với tể tướng đầy quyền uy. Thế là Haji Hatxan buộc phải mở cửa buồng và ra hiệu bảo Người Đẹp Ba Tư đến gần, để cho Xaoui có thể nhìn thấy mà không phải xuống ngựa.
Xaoui vô cùng thán phục khi nhìn thấy một nữ nô lệ xinh đẹp tuyệt thế vô song. Lão đã từng có việc mua bán với người mối lái, cho nên chẳng lạ gì tên anh ta. Lão hỏi:
- Haji Hatxan à, phải chăng anh vừa rao đặt giá bốn ngàn đồng vàng con này đây?
- Thưa ngài vâng, – Haji Hatxan đáp – các nhà buôn đây vừa thỏa thuận, cách đây một lát, cho tôi rao đặt giá ấy. Tôi đang chờ các vị đây trả, ai trả tiếng cuối cùng giá cao nhất thì con nô lệ kia sẽ thuộc về người đó.
- Ta đồng ý trả bốn nghìn, nếu không ai trả cao hơn.
Vừa nói, lão vừa đưa mắt nhìn các nhà buôn, tỏ ý dọa không ai được đặt giá cao hẳn thế. Mọi người ai cũng sợ lão, cho nên chẳng ai dám hé miệng, ngay cả chuyện phàn nàn lão vi phạm tục lệ buôn bán cũng không ai dám kêu ca.
Chờ một lúc, thấy không có nhà buôn nào trả giá cao hơn, lão bảo Haji Hatxan:
- Này, anh còn chờ đợi gì? Hãy đi tìm người bán, và thỏa thuận với giá bốn nghìn đồng, hoặc hỏi anh ta có muốn gì khác!
Lão vẫn chưa biết người nữ nô lệ này của Nuarếtđin.
Haji Hatxan đóng cửa buồng lại rồi thầm thì với chàng:
- Thưa ngài, tôi rất phiền lòng báo với ngài một cái tin không hay; con nữ nô lệ của ngài là phải bán với cái giá chẳng ra làm sao cả.
- Tại sao? – Nuarếtđin hỏi.
- Thưa ngài, câu chuyện lúc đầu có vẻ thuận chiều. -Haji Hatxan nói tiếp. – Các nhà buôn vừa nhìn thấy người nữ nô lệ, tất cả đều không do dự bảo tôi đi rao đặt giá bốn nghìn đồng trở lên. Tôi vừa rao giá ấy, thế là tể tướng Xaoui xuất hiện. Trông thấy ông ta, các nhà buôn ai cũng câm như thóc. Ấy thế mà tôi vẫn tưởng có thể đưa giá nâng lên ngang giá cụ lớn nhà đã mua trước đây. Xaoui chỉ muốn trả giá bốn nghìn đồng tiền vàng và thật bất đắc dĩ tôi mới phải trở lại nói với ông một điều phi lí như vậy. Người nữ nô lệ ấy là của ngài, nhưng tôi cũng chẳng khuyên ngài nên bán với giá ấy. Tại sao, thì ngài đã rõ, thưa ngài, và tất cả mọi người cũng đều biết rõ. Ngoài việc con nô lệ này đáng giá hơn rất nhiều, Xaoui lại là con người xấu, ông ta có thể nghĩ ra một cách gì đấy để quỵt số tiền của ngài.
- Haji Hatxan à, – Nuarếtđin đáp – xin cảm ơn lời khuyên của anh, và cũng xin anh chớ lo là ta sẽ đồng ý bán cho kẻ thù của gia đình ta. Ta đang rất cần tiền, nhưng thà chịu chết đói còn hơn là bán nàng cho lão ấy. Ta chỉ nhờ anh mỗi một việc. Anh thông thạo tục lệ và mánh khóe, hãy bảo giúp ta nên làm thế nào để ngăn không cho lão mua.
- Thưa ngài, – Haji Hatxan đáp – không có gì dễ hơn. Ngài cứ làm bộ như giận cô nô lệ của ngài, và trót thề là sẽ mang nó ra chợ bán, nhưng thực tâm ngài không muốn như vậy, sở dĩ mang ra chợ là để giữ vẹn lời thề mà thôi. Như vậy là làm hài lòng mọi người, và Xaoui cũng chẳng bắt bẻ vào đâu được. Mời ngài hãy đến đây, trong khi tôi giao nó cho Xaoui, bởi vì phải được ngài đồng ý thì việc mua bán mới thành, ngài hãy bắt nó lại, đánh cho mấy cái tát rồi dẫn nó về nhà.
- Cảm ơn anh, – Nuarếtđin đáp, – rồi anh xem, ta sẽ làm đúng như lời khuyên của anh.
Haji Hatxan trở lại căn buồng, mở cửa vào. Sau khi nói vắn tắt cho Người Đẹp Ba Tư biết, bảo chớ hoảng hốt về chuyện sẽ xảy ra, anh nắm tay nàng và dẫn ra cho tể tướng Xaoui vẫn đứng ngoài cửa:
- Thưa ngài, đây là con nô lệ, nó là của ngài, xin ngài hãy nhận lấy!
Haji Hatxan chưa dứt lời, Nuarếtđin đã tóm lấy Người Đẹp Ba Tư, kéo lại, đánh một cái tát, và nói khá to để mọi người cùng nghe rõ:
- Con xấc láo kia, mày hãy nhớ đòn, rồi trở về nhà ta. Tính dở hơi của mày buộc ta phải thề mang mày ra chợ, nhưng chẳng phải để bán mày. Ta còn cần đến mày. Còn lâu ta mới phải đi đến chỗ cùng cực này, chỉ khi nào trong nhà không một chút gì nữa ta mới chịu bán mày.
Hành động ấy của Nuarếtđin làm cho tể tướng Xaoui điên tiết. Lão thét lớn:
- Thằng phóng đãng khốn nạn kia! Mày muốn làm cho người ta tưởng rằng trong nhà mày còn có gì khác để bán nữa chứ chưa phải bán đến con nô lệ này ư?
Vừa nói lão vừa thúc ngựa tới, định bắt Người Đẹp Ba Tư mang đi. Chạm tự ái, Nuarếtđin buông nàng ra, bảo đợi rồi xông tới túm lấy dây cương, đẩy con ngựa giật lùi hai ba bước và mắng:
- Lão già độc ác này, nếu không nể mặt tất cả các ngài hiện diện ở đây, tao đã cho mày về chầu ông bà ông vải rồi.
Vì không được một ai thương, trái lại ai cũng ghét lão cho nên trong số tất cả những người có mặt lúc này, ai cũng hân hoan thấy Nuarếtđin làm nhục lão. Mọi người đều ra hiệu bảo chàng cứ việc, muốn trả thù thế nào cứ trả, chẳng ai dại gì dính vào việc tranh chấp giữa hai người.
Xaoui cố gắng để Nuarếtđin buông dây cương, nhưng vốn là một thanh niên trai trẻ khỏe mạnh, lại được vẻ mặt của mọi người đứng chung quanh khích lệ, Nuarếtđin lôi lão xuống ngựa đánh cho một trận thật lực khiến lão nằm thượt ra đất, đầu đổ máu me đầm đìa. Mười tên nô lệ theo hầu Xaoui định rút gươm xông vào đánh Nuarếtđin, nhưng các nhà buôn đứng ra cản. Họ bảo chúng:
- Các anh định làm gì thế vậy? Các anh không thấy nếu bên này là tể tướng thì bên kia là con trai tể tướng. Hãy để cho họ thanh toán mối thù giằng giữa họ với nhau. Có thể rồi mai đây họ sẽ dàn hòa. Nếu các anh giết chết Nuarếtđin, các anh tưởng chủ các anh có thể che chở cho các anh chẳng phải tội hay sao?
Nuarếtđin đánh tể tướng đến mệt thì thôi. Rồi để lão nằm giữa đường, chàng dắt Người Đẹp Ba Tư trở về nhà, giữa tiếng hoan hô của dân chúng ca ngợi chàng có gan làm việc tày đình.
Bị trận đòn nhừ tử, Xaoui nhờ bọn người nhà nâng dậy, vất vả lắm mới đứng lên được. Lão rất nhục nhã thấy người lấm láp những bùn và máu. Được hai tên nô lệ xốc nách, lão ta cứ đứng như vậy thẳng tới hoàng cung, trước con mắt của mọi người, trong lòng hết sức hoang mang vì không có một ai tỏ lòng thương hại. Đến gần phòng riêng của nhà vua, lão bắt đầu kêu khóc, than vãn một cách thảm thương xin vua hãy minh xét và trả thù cho lão. Vua sai triệu lão vào, hỏi kẻ nào dám hành hạ lão ta ra nông nỗi này.
Xaoui kêu:
- Tâu bệ hạ, chính vì tôi được bệ hạ đoái thương, và thỉnh thoảng được phép góp ý cùng Người cho nên mới bị người ta đối xử thế này đây.
- Thôi ông đừng nói dông dài, – vua ngắt lời – hãy cho ta biết sự việc diễn ra như thế nào, và ai là kẻ dám xúc phạm ông. Nếu người ấy sai, ta sẽ bắt tội đích đáng.
Xaoui cố tình thuật lại sao cho lẽ phải thuộc về mình:
- Tâu bệ hạ, tôi vừa mới đi tới chợ bán các nữ nô lệ để tìm mua một con nấu bếp mà tôi đang cần. Vừa mới tới nơi, tôi nghe có người rao bán một nữ nô lệ với giá bốn ngàn đồng vàng. Tôi bảo con nô lệ ấy đến, đấy là con nô lệ xinh đẹp nhất chưa ai từng thấy bao giờ. Tôi ngắm nghía, hết sức hài lòng, và hỏi nó là của ai, thì mọi người cho biết ấy là người của Nuarếtđin, con của tể tướng đã quá cố Khacan.
Tâu bệ hạ, hẳn Người còn nhớ, cách đây chừng hai ba năm, bệ hạ có giao cho ông ấy một vạn đồng vàng bảo tìm mua một người nữ nô lệ. Ông ta đã dùng số tiền ấy để mua con này đây. Nhưng đã không dâng Người, mà ông ấy còn cho là Người không xứng đáng được hưởng, cho nên mang con bé ấy cho con trai. Từ khi ông ta qua đời cậu con trai ăn chơi phá tán hết tài sản, chỉ còn lại một nữ nô lệ ấy, cuối cùng cũng phải mang đi bán nốt. Và quả là người ta nhân danh nó mà ra bán thật. Tôi gọi nó đến, không nói chuyện con nô lệ đã giảm giá, và cũng chẳng nhắc tới hành động gian trá của thân sinh nó xưa đối với hoàng thượng, tôi bảo nó một cách hiền hậu: “Nuarếtđin à, ta nghe các con buôn đặt giá con nô lệ của anh bốn nghìn đồng vàng. Ta biết rằng, rồi ganh nhau họ có thể trả giá cao hơn, nhưng anh nên nghe lời ta, hãy bán cho ta với giá bốn nghìn đồng. Ta mua dâng hoàng thượng, Đấng chúa tể và là chủ nhân của tất cả chúng ta. Rồi ta sẽ tâu với hoàng thượng ban cho ngươi sự tốt lành. Như thế còn có lợi gấp muôn vạn lần những gì các nhà buôn khác có thể trả cho anh”. Đáng lẽ trả lời tôi một cách hiền hậu như tôi đối xử với nó, tên láo xược ấy dám nhìn tôi một cách hợm hĩnh và nói:
“Lão già xấu xa kia, ta thà cho không con nô lệ này cho một người Do Thái hơn là bán cho mày”.
Tôi không chút nóng giận, bảo: “Nhưng Nuarếtđin à, mặc dù thân tôi chẳng có gì đáng kể, anh nói vậy, không thấy xúc phạm tới vua sao, Người đã làm cho cha anh được như ngày xưa khi ngài còn sống, và cho tất cả chúng ta được như thế này”. Lời trách đó đáng lẽ làm nó tỉnh ra, thì ngược lại, càng làm cho nó thêm hùng hổ. Nó bổ nhào vào tôi như một tên điên, chẳng kể gì đến tuổi tác cũng như địa vị của tôi, nó kéo tôi xuống ngựa, đánh đập chán thì thôi, làm cho tôi ra nông nỗi như bệ hạ thấy đây. Cúi xin ngài minh xét chính vì lợi ích của ngài mà tôi phải chịu một sự lăng nhục ghê gớm dường này.
Nói đến đây, lão cúi đầu, và quay mặt đi để cho nước mắt tuôn như mưa.
Bị những lời lẽ đầy dối trá ấy kích động, nhà vua rất bất bình. Mặt đỏ bừng bừng, vua quay sang viên chỉ huy đội quân cấm vệ đang đứng hầu bên cạnh, phán:
- Hãy cho bốn mươi tên lính đến cướp phá và cào nhà Nuarếtđin, rồi dẫn nó về đây cho ta cùng với con nô lệ ấy!
Viên chỉ huy đội cấm vệ chưa ra khỏi phòng của vua thì một viên quan hầu, nghe được vua ra lệnh đó, liền vội vàng chạy trước. Tên anh là Xanjia, xưa vốn là nô lệ của Khacan, được ông tiến cử vào hoàng cung và nhờ vậy leo dần lên chức vị như hiện nay.
Chịu ơn chủ cũ và nhiệt tình với Nuarếtđin, mà anh ta biết từ khi chàng mới ra đời, và vốn cũng rõ mối thù của Xaoui đối với gia đình Khacan, anh không thể nghe lệnh của nhà vua mà không run sợ. Xanjia nghĩ thầm: “Hành động của Nuarếtđin chẳng đến nỗi hung bạo như lời Xaoui kể lại. Lão ta đã ton hót với vua. Nhất định vua sẽ sai xử tử Nuarếtđin mà không để cho chàng kịp thanh minh”.
Anh ta cố chạy thật nhanh, kịp đến nhà Nuarếtđin, để báo cho biết những gì xảy ra trong hoàng cung, và bảo chàng kịp thời cùng Người Đẹp Ba Tư tẩu thoát. Xanjia đấm cửa thình thình, đến nỗi Nuarếtđin, đã lâu rồi không có đầy tớ, phải tự mình chạy ra mở cửa không chút chần chừ.
- Thưa ngài thân mến, – Xanjia nói – ngài ở Banxôra không còn yên ổn nữa đâu. Hãy tẩu thoát ngay không được chậm trễ một phút nào!
- Vì sao như vậy? – Nuarếtđin hỏi – Có việc gì khẩn cấp buộc ta phải ra đi?
- Ngài phải đi ngay, và mang theo cả cô nô lệ của ngài, tôi xin nói với ngài như vậy. – Xanjia thúc giục, và kể lại vắn tắt việc vừa xảy ra – Xaoui đã tâu với vua việc vừa xảy ra giữa ngài với lão ấy theo cách lão ấy thêu dệt. Viên chỉ huy cấm vệ đang theo bén gót tôi để tới đây bắt ngài cùng cô nô lệ. Ngài hãy cầm tạm bốn mươi đồng vàng này để tìm nơi ẩn náu. Giá như trong người có sẵn thì tôi đã đưa biếu ngài nhiều hơn. Xin ngài thứ lỗi cho, tôi không kịp nói nhiều hơn nữa, tôi phải đi ngay vì lợi ích của ngài và cũng của tôi nữa, sao cho viên chỉ huy quân cấm vệ không nhìn thấy tôi đang ở nhà ngài.
Xanjia chỉ kịp để cho Nuarếtđin nói hai tiếng cảm ơn, rồi vội vã đi ngay.
Nuarếtđin báo cho Người Đẹp Ba Tư biết phải khẩn cấp chạy trốn ngay tức khắc. Nàng chỉ kịp đeo tấm mạng vào mặt và hai người cùng thoát ra khỏi nhà. Họ may mắn ra được vùng ngoại ô không ai trông thấy, lại còn đến được cửa sông ơphơrat, cách thành phố cũng khá xa để kịp xuống một chiếc tàu sắp sửa nhổ neo.
Quả vậy, họ vừa mới tới, viên thuyền trưởng đã bước lên sàn tàu, giữa các hành khách. Ông hỏi: “Tất cả hành khách đều có mặt ở đây cả rồi chứ? Có ai còn công việc gì, hoặc có quên lại gì ở thành phố hay không?”.
Mọi người trả lời đã có mặt đông đủ, thuyền trưởng muốn giương buồm vào lúc nào xin cứ việc. Nuarếtđin vừa xuống tàu, vội hỏi tàu đi đâu, và rất hoan hỉ biết tàu đi Bátđa. Thuyền trưởng hạ lệnh nhổ neo, kéo buồm. Thế là con tàu rời Banxôra, rất thuận gió thuận nước.
Trong khi Nuarếtđin cùng Người Đẹp Ba Tư tẩu thoát để tránh cơn thịnh nộ của vua, viên chỉ huy quân cấm vệ đến nhà Nuarếtđin đập cửa. Không thấy ai ra mở cửa. Ông cho phá cửa. Thế là bọn lính ùa vào.
Chúng sục sạo khắp nơi khắp chốn, không chừa một góc nào, nhưng không ai tìm thấy Nuarếtđin cũng như người nô lệ gái đâu. Viên chỉ huy quân cấm vệ sai lính hỏi, và tự mình cũng hỏi các người hàng xóm xem có trông thấy chàng ở đâu không. Vì ai cũng thương yêu Nuarếtđin, cho dù họ có thấy, thì cũng chẳng ai nói điều gì hại cho chàng. Trong khi quân lính cướp bóc và cào bằng ngôi nhà, viên chỉ huy trở lại tâu vua.
- Phải tìm ra cho bằng được hai tên ấy dù chúng trốn ở đâu. Ta muốn bắt chúng. – Vua phán.
Viên chỉ huy quân cấm vệ lại tiếp tục sai lính đi lục soát, trong khi Xaoui được vua cho về một cách vẻ vang:
- Ông hãy về nghỉ, chớ băn khoăn gì về việc trừng phạt Nuarếtđin. Tự ta sẽ trả thù hộ ông tội láo xược của nó.
Không từ một phương sách nào, vua còn cho những người đi rao khắp thành phố, rằng sẽ thưởng một nghìn đồng vàng cho ai bắt được Nuarếtđin cùng người nô lệ gái của chàng và mang đến nộp. Ai cho phép chàng ẩn náu sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng cho dù việc đó có làm nhanh chóng, chu tất tới đâu, cũng chẳng thể nào biết được tăm hơi Nuarếtđin. Lão tể tướng Xaoui chỉ có được mỗi một điều an ủi là nhà vua bênh mình.
Trong thời gian đó, Nuarếtđin cùng Người Đẹp Ba Tư vẫn thuận buồm xuôi gió. Cuối cùng họ đến được Bátđa. Người thuyền trưởng vui vẻ nói với hành khách:
- Các vị thân mến, xin hãy vui mừng, kia là thành phố vĩ đại và diệu kì, nơi mà khắp chốn cùng trên thế gian người ta luôn luôn và không ngớt đổ về. Các vị sẽ tìm thấy ở đây dân cư đông đúc. Các vị sẽ không phải chịu đựng những trận rét kinh hồn vào mùa đông cũng như chẳng phải trải qua những cơn oi nồng ngạt thở của mùa hạ. Ở đây quanh năm các vị sẽ thấy toàn thời tiết mùa xuân, với hoa thơm quả ngọt mùa thu.
Khi tàu cập bến cách xa thành phố một ít, hành khách đều lên bộ, mỗi người tìm về nơi mình nghỉ trọ. Nuarếtđin trả mất năm đồng tiền vàng đi tàu, rồi cùng người đẹp của mình lên bờ. Nhưng, cả đời chưa bao giờ đặt chân tới Bátđa, chàng không biết tìm nơi trọ ở đâu. Hai người cứ đi bộ rất lâu, men theo các khu vườn hai bên bờ sông Tigrơ, rồi lần theo một bức tường thành dài và đẹp. Đi hết tường, họ trông thấy một đường phố lát đá cắt ngang, từ đây nhìn vào thấy cổng của khu vườn, cạnh đấy có một giếng nước rất đẹp.
Cái cổng rất nguy nga, cánh cổng đóng chặt, nhưng dưới mái có kê hai bên hai chiếc ghế dài. Nuarếtđin bảo Người Đẹp Ba Tư:
- Kia là một nơi khá thuận tiện. chúng ta đã ăn tạm trước khi lên bờ, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể nghỉ đêm ở đây, rồi sáng mai sẽ đi kiếm nơi trọ. Nàng nghĩ sao?
- Thưa ngài, ngài đã biết rằng thiếp đồng ý tất cả những điều gì ngài muốn – Người Đẹp Ba Tư nói – chúng ta chẳng cần đi xa hơn nữa, nếu ngài thích như vậy.
Hai người đến giếng uống nước, rồi cùng ngồi lên một chiếc ghế dài, chuyện trò với nhau một hồi. Cuối cùng, buồn ngủ, họ ngủ luôn trong tiếng nước chảy rì rào.
Khu vườn này vốn là của hoàng đế. Chính giữa vườn có một cung lớn gọi là Cung Hội họa, được gọi như vậy bởi vật trang trí chính ở đây là những bức tranh vẽ theo phong cách Ba Tư, do nhiều họa sĩ người Ba Tư, được hoàng đế vời đến trang trí. Phòng khách lớn và tráng lệ của cung này có tám mươi cửa sổ, mỗi cửa có một đèn treo. Tám mươi bộ đèn treo ấy chỉ được thắp sáng hôm nào hoàng đế muốn đến nghỉ ngơi qua tối ở đây, vào những lúc bầu trời tịnh không có một hơi gió thoảng. Lúc đó, cảnh đèn thắp sáng thật huy hoàng, ngồi ở phòng khách này có thể nhìn thấy nông thôn ở xa và một phần thành phố.
Khu vườn này chỉ có mỗi một người gác cổng. Đó là một viên quan võ về già, rất cao tuổi tên là Sêch Ibơrahim. Hoàng đế cho lão chân canh cổng này để thưởng công lao. Vua nhiều lần dặn dò lão chớ có bạ ai cũng cho vào trong vườn, nhất là không cho ai được dừng chân và ngồi lên hai chiếc trường kỉ đặt ở ngoài cổng, để cho hai chiếc ghế lúc nào cũng sạch sẽ. Phải phạt vạ những ai dám ngồi vào đấy.
Hôm ấy, người canh cổng có chút việc đi chưa kịp về. Cuối cùng lão về. Lúc đó trời cũng còn sáng để có thể trông thấy hai người nằm ngủ trên một chiếc trường kỉ, người nào cũng trùm tấm vải kín đầu tránh muỗi độc đốt Sêch Ibơrahim nghĩ thầm: “Kia là những người làm trái nghiêm lệnh của hoàng đế. Ta phải cho chúng một bài học, để chúng biết tôn trọng Người”.
Lão nhẹ nhàng mở cửa, không gây tiếng động, và lát sau trở lại, tay áo xắn cao, cầm một chiếc gậy lớn. Lão định phang thật mạnh vào hai người, nhưng dừng lại được “Sêch Ibơrahim ơi, – lão tự nhủ – mi định đánh họ, mà mi không cân nhắc, biết đâu đấy chẳng phải là người nước ngoài, họ chưa biết trọ ở đâu và cũng chưa rõ lệnh của hoàng đế. Tốt hơn trước hết mi hãy hỏi họ là ai”. Lão cẩn thận giở tấm vải phủ đầu hai người, và cực kì thán phục nhìn thấy một chàng trai rất khôi ngô cùng một cô gái cực kì xinh đẹp. Lão liền kéo nhẹ chân đánh thức Nuarếtđin dậy.
Nuarếtđin ngẩng đầu, vừa trông thấy một cụ già có bộ râu bạc dài đứng dưới chân mình, liền nhỏm dậy, quỳ lên đôi chân gấp lại, cầm tay cụ hôn và hỏi:
- Chào cụ, cầu xin Thượng đế phù hộ cụ! Cụ muốn gì chăng?
- Chào cậu. – Sêch Ibơrahim đáp – Cậu là ai? Cậu từ đâu đến?
- Chúng tôi là những người nơi khác vừa mới đặt chân tới đây. – Nuarếtđin đáp. – Chúng tôi muốn nghỉ đêm tại chỗ này cho tới sáng mai.
- Nằm ở đây không thoải mái đâu. – Sêch Ibơrahim nói – Hãy đến đây, hãy vào trong này, lão sẽ cho các người một nơi ngủ thuận tiện hơn. Với lại trời bây giờ cũng hãy còn sáng, các người sẽ được ngắm khu vườn rất đẹp.
- Khu vườn này là của cụ ư?
Sêch Ibơrahim mỉm cười đáp:
- Đó là gia tài ông cụ thân sinh ra lão để lại cho. Nào, mời các bạn vào, các bạn sẽ thấy thích cho mà xem.
Nuarếtđin đứng lên, cảm ơn sự nhã nhặn của Sêch Ibơrahim rồi cùng Người Đẹp Ba Tư bước vào vườn. Sêch Ibơrahim đóng cổng lại, đi trước dẫn hai người tới một nơi mà chỉ nhìn thoáng qua, đã có thể thấy bao quát trong tầm mắt cách xếp đặt quy mô và vẻ đẹp của khu vườn.
Nuarếtđin từng xem nhiều vườn đẹp ở Banxôra nhưng chưa bao giờ thấy một cái nào đẹp như thế này. Sau khi ngắm nghía hồi lâu và tản bộ một vài đoạn đường trong vườn, chàng quay lại hỏi người gác cổng vẫn đi theo họ tên là gì.
- Sêch Ibơrahim. – Lão đáp.
- Thưa cụ Sêch Ibơrahim, – chàng nói – phải thú nhận đây là một khu vườn kì diệu. Cầu Thượng đế phù hộ cho cụ được sống ở đây! Chúng tôi không còn cách nào cảm tạ được hết nhã ý của cụ đã cho chúng tôi xem một nơi đáng xem thế này. Vì vậy, phải có cách đền ơn cụ chứ. Đây là hai đồng vàng, xin cụ cầm lấy, nhờ cụ giúp kiếm xem có thức gì ăn, để chúng ta cùng vui chung với nhau.
Nhìn thấy hai đồng tiền vàng, Sêch Ibơrahim vốn rất thích thứ kim loại này, cười nụ dưới chòm râu. Lão cầm lấy, để Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư lại đấy còn mình đi mua sắm, bởi vì lão sống độc thân. Lão vui mừng tự nhủ: “Đây thật là những con người tốt bụng, hồi nãy nếu ta ngược đãi họ và đánh đuổi họ đi thì có phải sai lầm biết mấy không?”.
Trong khi Sêch Ibơrahim đi kiếm thức ăn tối cho lão cũng như cho cả hai người, Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư tản bộ trong vườn, và tới tận Cung Hội họa xây chính giữa vườn. Thoạt tiên họ đừng lại để ngắm cách kiến trúc tuyệt tác, bề rộng và chiều cao của cung. Sau khi đi vòng quanh xem tất cả các mặt, họ theo một cầu thang lớn bằng cẩm thạch dẫn lên phòng khách chính, nhưng cửa phòng đóng chặt.
Hai người vừa quay xuống hết cầu thang thì vừa lúc ấy Sêch Ibơrahim trở về, mang theo thức ăn. Nuarếtđin ngạc nhiên hỏi:
- Cụ Sêch lbơrahim, cụ bảo khu vườn này là của cụ?
- Tôi đã bảo, và bây giờ tôi vẫn bảo như vậy. – Lão già đáp – Tại sao cậu lại hỏi câu ấy?
- Cả cái cung điện tuyệt đẹp này cũng là của cụ? -Nuarếtđin lại hỏi.
Không chờ đợi câu hỏi này, Sêch Ibơrahim có vẻ hơi thảng thất. Lão nghĩ thầm: “Nếu ta bảo không phải, thì họ sẽ hỏi ngay, làm sao ta là chủ khu vườn mà lại không là chủ của ngôi nhà này”. Đã nhỡ nhận quàng khu vườn là của mình lão đành nhận quàng luôn cả cái cung vậy.
- Cậu ạ, – lão đáp – khu vườn này mà không có cái cung kia thì trông làm sao được, tất cả hai cái đều là của lão cả đấy.
Nuarếtđin liền hỏi:
- Nếu quả như vậy, thì cụ đã vui lòng coi chúng tôi là khách của cụ đêm nay, xin cụ làm ơn cho chúng tôi được xem bên trong. Nhìn từ ngoài, đã biết chắc là bên trong lộng lẫy cực kì.
Sau khi đã nhận quàng nhận xiên như vừa rồi, mà từ chối không cho khách xem bên trong thì thật chẳng lịch sự chút nào.
Lão suy nghĩ, hôm nay hoàng đế không sai người đến báo trước như thường lệ, có nghĩa là tối nay Người sẽ không tới đây, lão có thể mời khách vào cung ăn tối và lão có thể cùng dự. Lão đặt những thức ăn vừa mang về ở bậc cấp cuối cùng của cầu thang, rồi trở về nơi ở, tìm chìa khóa. Lát sau lão mang đèn trở lại, mở cửa.
Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư bước vào trong phòng khách. Hai người thấy nó kì thú quá nên ngắm nghía mãi không chán vẻ đẹp và đồ đạc sang trọng bên trong. Quả vậy, không nói tới các bức tranh, các ghế ngồi đều lộng lẫy. Cùng với các bộ đèn treo, ở mỗi cửa sổ lại có một giá đỡ nến. Nuarếtđin không thể nhìn các vật này mà không nhớ lại và tiếc cảnh huy hoàng mình từng sống.
Trong lúc ấy, Sêch Ibơrahim mang thức ăn lên bày ra một chiếc sập. Sau khi lão dọn xong, Nuarếtđin, Người Đẹp Ba Tư và lão cùng ngồi xuống dùng bữa. Rửa tay xong, Nuarếtđin mở một cửa sổ và gọi Người Đẹp Ba Tư: “Hãy đến đây cùng với anh xem cảnh đẹp và khu vườn dưới ánh trăng, thật không có gì đáng yêu hơn”. Nàng tới gần hai người thưởng thức cảnh đẹp, trong khi ông lão lo dọn dẹp thức ăn còn lại. Lão làm xong, tới cạnh Nuarếtđin. Chàng hỏi lão có thứ gì uống để chàng được đãi lão hay không. Sêch Ibơrahim hỏi lại:
- Cậu muốn dùng thứ gì nào? Nước trái cây nhé? Lão có thứ ngon tuyệt, nhưng cậu biết đấy, người ta không dùng nước trái cây sau bữa ăn tối.
- Tôi biết lắm chứ. – Nuarếtđin đáp. – Tôi có hỏi cụ nước trái cây đâu, mà là chất khác cơ. Tôi lấy làm lạ sao cụ lại không hiểu ra.
- Vậy là cậu muốn nói đến rượu nho chứ gì? – Sêch Ibơrahim đáp.
- Cụ đoán ra rồi đấy. – Nuarếtđin nói. – Nếu cụ có sẵn, xin cụ vui lòng mang cho một chai. Cụ đã biết là sau khi dùng bữa tối, người ta uống thứ đó nhẩn nha cho tới lúc đi ngủ.
- Cầu Thượng đế giữ gìn cho lão, chớ có bao giờ cất giữ rượu trong nhà! Và lão cũng chẳng bao giờ đặt chân tới gần chốn nào có mùi rượu! Một con người như lão, từng hành hương về La Mếchcơ những bốn lần, lão đã từ bỏ rượu suốt đời.
- Ấy thế nhưng cụ sẽ làm cho chúng tôi rất vui lòng nếu cụ kiếm được thứ ấy cho. – Nuarếtđin nói. – Nếu cụ đồng ý, thì tôi xin bày cho cụ một cách, không cần bước chân vào trong quán, cũng chẳng cần mó tay vào vật dụng đựng thứ nước đó, mà vẫn mua được rượu như thường.
- Với điều kiện ấy thì lão vui lòng giúp, – Sêch Ibơrahim nói – cậu hãy cho lão biết nên làm như thế nào.
Nuarếtđin liền nói:
- Chúng tôi nhìn thấy trong vườn cụ có buộc một con lừa, chắc đó là lừa của cụ, lúc nào cụ cần thì sẽ dùng tới chứ gì. Đây, xin cụ cầm lấy hai đồng vàng này nữa, cụ hãy dắt con lừa mang theo hai cái sọt, rồi hãy đến cái quán rượu gần nhất, mà cũng chẳng phải đến tận nơi làm gì. Gặp bất kì một người qua đường nào đó, cụ cho họ một ít tiền, nhờ họ dắt con lừa tới quán, mua hộ cho hai vò rượu, bỏ vào mỗi sọt một vò, trả tiền hộ rồi đánh con lừa trả lại cho cụ. Cụ chỉ cần đánh con lừa về đến đây, chúng tôi sẽ tự tay lấy hai cái vò từ trong sọt ra. Như vậy, cụ chẳng phải động chân mó tay vào thứ nước vẫn làm cho cụ ghê tởm.
Hai đồng tiền vàng vừa trông thấy có công hiệu rõ rệt tới đầu óc của Sêch Ibơrahim. Nuarếtđin dứt lời, lão thốt lên:
- Ồ, cậu thông minh thật. Không có cậu, chẳng bao giờ tôi nghĩ ra cách kiếm được rượu cho cậu mà mình không cần phải ngại ngùng.
Lão để hai người lại trong phòng khách và đi làm phần việc được giao, nhoáng một cái là xong. Lão vừa trở về, Nuarếtđin bước xuống, nhấc hai vò rượu ra khỏi các sọt, mang lên phòng.
Sêch Ibơrahim đem lừa trở về chỗ cũ. Khi lão quay lại, Nuarếtđin nói:
- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, chúng tôi chẳng biết làm sao cảm tạ được hết sự vất vả của cụ vì chúng tôi, nhưng vẫn còn thiếu một thứ.
- Thứ gì vậy? Già này có thể giúp các bạn được chăng? – Lão hỏi lại.
- Không có li để uống rượu. Và nếu cụ có thể cho thêm ít trái cây nữa thì tuyệt quá. – Nuarếtđin đáp.
- Cần gì bạn cứ nói, chẳng thiếu thứ gì các bạn cần đâu. – Sêch Ibơrahim đáp.
Lão xuống cầu thang và lát sau bưng lên một cái bàn bày nhiều đĩa sứ đẹp đựng đủ loại quả, cùng các li vàng, li bạc tha hồ mà chọn. Sau khi hỏi có cần gì khác nữa không, lão lui ra, mặc dù hai người mời rất khẩn khoản, lão vẫn không chịu ở lại.
Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư ngồi vào bàn, bắt đầu uống mỗi người một ly. Họ thấy rượu rất ngon.
Nuarếtđin bảo nàng:
- Thế nào, người đẹp của ta ơi? Có phải là nhờ vào sự tình cờ đưa đẩy đến một nơi thoải mái và xinh đẹp thế này, khiến chúng ta trở thành người hạnh phúc nhất trần gian không? Chúng ta hãy vui lên, hãy ăn cho bõ những bữa cực khổ lúc đi đường. Đối với ta, có hạnh phúc nào có thể lớn hơn thế này, khi có nàng một bên và bên kia là chén rượu?
Họ uống thỏa thuê, chuyện trò vui vẻ, thỉnh thoảng mỗi người lại hát một bài.
Giọng hát của hai người đều hay, đặc biệt là giọng của Người Đẹp Ba Tư, làm cho Sêch Ibơrahim chú ý. Lão đứng dưới bậc thềm, nghe một cách thú vị mà không để cho hai người trông thấy. Cuối cùng lão thò đầu qua cửa, nói với Nuarếtđin mà lão tưởng đã say:
- Nào, hãy mạnh dạn lên nữa đi, thưa ngài! Lão rất hân hoan thấy các bạn vui vẻ như vậy.
Nuarếtđin quay lại kêu lên:
- Chao, cụ Sêch Ibơrahim, cụ thật là một người tốt bụng, chúng tôi hàm ơn cụ xiết bao. chúng tôi chẳng dám mời cụ uống một chén, song mời cụ hãy cứ vào nhà. Nào, mời cụ đến gần đây, ít nhất cũng cho chúng tôi được vinh dự hầu chuyện cụ.
- Cứ hát đi, hát nữa đi! – Sêch Ibơrahim đáp. – Tôi nghe các bạn hát hay, thế là đủ thích rồi.
Nói xong, lão biến mất.
Người Đẹp Ba Tư để ý thấy Sêch Ibơrahim dừng lại ở bậc thềm, liền cho Nuarếtđin biết và hỏi thêm:
- Chàng thấy ông cụ ghét rượu, nhưng nếu chàng làm theo lời thiếp thì thiếp sẽ ép cụ uống rượu bằng được cho mà xem.
- Thế ư? Cần làm những gì, nàng cứ bảo, ta sẽ làm theo. – Nuarếtđin đáp.
- Chàng chỉ cần mời sao cho cụ chịu vào đây ngồi chơi với chúng ta. Lát sau, chàng sẽ rót rượu ra li và đưa mời ông cụ uống. Nếu cụ từ chối, chàng cứ việc uống đi rồi giả vờ ngủ, còn mọi việc khác để thiếp lo.
Hiểu ý Người Đẹp, Nuarếtđin gọi Sêch Ibơrahim, lão lại hiện ra khung cửa. Chàng nói:
- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, chúng tôi là khách của cụ. Cụ đã đón tiếp chúng tôi cực kì lịch sự, lẽ nào cụ nỡ từ chối chúng tôi mời ngồi chơi cho có bạn? Chúng tôi đâu dám ép cụ uống rượu, chỉ mời cụ bước vào đây chơi thôi.
Sêch Ibơrahim nghe bùi tai. Lão bước vào, ngồi xuống mé sập nơi gần cửa ra vào nhất. Nuarếtđin nói:
- Cụ ngồi đấy chẳng thoải mái đâu, và chúng tôi lại không được vinh dự nhìn rõ cụ. Xin cụ xích gần lại, hãy ngồi cạnh phu nhân đây, nàng rất muốn như vậy.
- Ngài đã bảo vậy thì lão xin vâng. – Sêch Ibơrahim đáp
Lão tiến tới, và mỉm cười thích thú vì sắp được gần kề một tuyệt thế giai nhân, lão ngồi xuống hơi cách xa Người Đẹp Ba Tư một ít. Nuarếtđin mời nàng hãy hát một bài để cảm ơn vinh dự Sêch Ibơrahim chịu ngồi chơi với hai người. Lão nghe bài hát đến say sưa mê mẩn. Người Đẹp hát xong, Nuarếtđin rót một li rượu đầy nâng mời lão:
- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, mời cụ hãy cạn chén này chúc sức khỏe chúng tôi.
Sêch Ibơrahim vội vàng thụt lùi, làm như thể chỉ thoáng nhìn thấy rượu thôi đã đủ khiến cho lão kinh tởm:
- Ồ, thưa ngài, xin miễn thứ cho. Tôi đã thưa với ngài, tôi bỏ rượu đã lâu.
Nuarếtđin liền nói:
- Cụ đã nhất quyết không muốn uống mừng sức khỏe cho chúng tôi, vậy xin cụ vui lòng cho tôi uống mừng sức khỏe cụ vậy.
Trong khi Nuarếtđin cạn chén, Người Đẹp Ba Tư bổ đôi một quả táo, đưa cho lão một nửa:
- Cụ không muốn uống rượu, nhưng tôi tin cụ không nỡ khước từ không nếm quả táo này, táo ngon tuyệt.
Sêch Ibơrahim không thể từ chối một bàn tay đẹp đến vậy đưa mời. Nàng lại nói với lão đôi câu tình tứ nữa. Trong khi đó Nuarếtđin ngả người trên sập vờ ngủ. Ngay lập tức, Người Đẹp Ba Tư xích sát người lão và nói thì thầm: “Cụ có thấy không, lần nào chúng tôi uống rượu với nhau cũng đều như vậy cả, anh ta chưa uống được hai chén đã lăn ra ngủ để mặc tôi một mình. Nhưng tôi hi vọng lần này cụ ngồi chơi với tôi cho có bạn trong khi anh ấy ngủ”.
Nàng lấy một cái li, rót đầy rượu, nâng lên mời Sêch Ibơrahim:
- Xin cụ hãy cầm lấy, hãy uống mừng sức khỏe tôi, rồi tôi sẽ uống mừng sức khỏe cụ.
Sêch Ibơrahim làm ra vẻ khó khăn, nhiều lần xin nàng hãy miễn cho. Nhưng nàng nài ép quá, cuối cùng nể lời khẩn khoản và say mê vẻ kiều diễm của nàng, lão uống một hơi cạn.
Lão già vốn thích rượu. Song lão xấu hổ không dám uống trước mặt những người không quen. Lão vẫn lén lút đến quán rượu như nhiều người khác, và lúc nãy thật ra lão chẳng cẩn thận làm theo những điều Nuarếtđin bày cho khi chàng nhờ lão đi mua rượu đâu. Lão đến thẳng nhà một người bán rượu rất quen chẳng chút khách khí. Chả là đêm hôm khuya khoắt, chẳng lo ai nhìn thấy, và như vậy lại đỡ phải trả món tiền công nhờ người mua hộ, nếu làm theo cách Nuarếtđin bày.