Nhà Peppers Ở Trường

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
Tin Tức

❊ ❊ ❊

“Pepper, có người tìm cậu!” Dick Furness xông thẳng vào phòng Joel, rồi quay ra ngay, bồi thêm hai từ: “Harrow—lập tức.”

“Được rồi,” Joel đáp, miệng vẫn huýt sáo; tâm trí cậu lúc bấy giờ chỉ xoay quanh “Đảo Moose” và chuyến thám hiểm vào ngày mai. Cậu nhẹ nhàng chạy xuống tầng hai, bước vào phòng trợ giảng.

Thầy Harrow đang đợi cậu; vừa đẩy gọn mấy chồng sách sang một bên — dường như lúc nào ngài cũng ngập chìm trong sách vở — ngài vừa ra hiệu cho Joel ngồi xuống.

Tim Joel đập rộn ràng với bao kỳ vọng hào hứng, nên cậu chẳng mảy may bận tâm đến thái độ có phần khác lạ của thầy trợ giảng mà lẽ ra cậu đã nhận ra. Bởi vì tâm trí Joel lúc đó chỉ hướng trọn về một mục đích duy nhất. Và vì mục đích ấy hiển nhiên chẳng thể là gì khác ngoài “chuyến thám hiểm Đảo Moose,” nên đương nhiên thầy Harrow phải gọi tới lần thứ hai cậu mới chú ý.

Nhưng khi cậu đã chú ý rồi, thì chẳng còn chút mảy may hiểu lầm nào về lời thầy trợ giảng nữa, bởi vị giáo viên này vốn có thói quen đi thẳng vào vấn đề mà không cần vòng vo tam quốc.

Dù vậy, giọng điệu và thái độ của thầy hôm nay phảng phất một nỗi buồn làm dịu đi chính những lời ngài sắp nói.

“Joel, con trai của thầy,” thầy Harrow mở đầu, “em biết đấy, thầy đã nhiều lần gọi em xuống đây để đốc thúc việc học hành.”

“Vâng, thưa thầy,” Joel đáp, lúc này bắt đầu cảm thấy khó hiểu trước giọng điệu và cách cư xử ấy.

“Ừm, thế thì hôm nay, thầy hiệu trưởng bảo thầy cho gọi em đến vì một lý do khác. Em không đoán ra được sao?”

“Không ạ, thưa thầy,” Joel đáp, vẫn đang vô cùng thoải mái với nhịp sống bình thường và hoàn toàn không thể ngờ được tai họa sắp giáng xuống đầu.

“Thầy ước gì em đoán ra được, Joel,” thầy Harrow nói, cựa quậy đầy bứt rứt trên ghế, “vì như thế thì nhiệm vụ của thầy sẽ nhẹ nhàng hơn biết bao. Joel à, thầy Marks bảo rằng, vì em bị sa sút trong học tập mà không có lý do chính đáng — hãy nhớ lấy điều này, Joel, không có lý do chính đáng — nên ngày mai em sẽ không được đi Đảo Moose.”

Đến lúc đó mà Joel vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Thế là thầy Harrow phải lặp lại một cách rành mạch.

“Cái gì!” Joel gầm lên. Trong cơn kích động, cậu phóng vụt qua khoảng trống giữa hai người, sà đến bên cạnh thầy Harrow. “Không được đi Đảo Moose ư, thưa thầy Harrow?” Đôi mắt đen của cậu mở lớn, gương mặt biến dạng vì sợ hãi và tức giận.

“Không,” thầy Harrow vừa thở dài một hơi dài vừa nói, “em không được đi; thầy Marks đã quyết định như vậy.”

“Nhưng em buộc phải đi chứ,” Joel kêu lên, hoàn toàn mất bình tĩnh.

“‘Buộc phải’ là một từ thật lạ lùng khi dùng ở đây đấy, Joel,” thầy Harrow nghiêm nghị nhận xét.

“Nhưng em — ôi, thầy Harrow, xin thầy xem có cách nào giúp em được đi với.” Joel xoắn xuýt cả người, thậm chí còn bấu chặt lấy tay áo thầy trợ giảng đầy van nài.

“Hỡi ôi, Joel! Chuyện đó vượt quá quyền hạn của thầy rồi.” Thầy Harrow lắc đầu. Ngài thấy không cần thiết phải kể rằng mình đã dùng mọi lý lẽ có thể để thuyết phục thầy Marks thay đổi ý định. “Cần phải dùng biện pháp mạnh với Pepper, nếu không cậu ta sẽ chẳng thành tài nổi ngoài việc trở thành một tên nhóc chỉ biết thể thao. Cậu ta phải thấy được tầm quan trọng của việc học,” thầy hiệu trưởng đã đáp lại như thế, đồng thời ra dấu cuộc nói chuyện kết thúc và mệnh lệnh của ngài phải được chấp hành.

“Joel,” — thầy Harrow tiếp lời — “hãy là một người đàn ông và dũng cảm đối mặt với chuyện này đi. Em đã có cơ hội học tập nhưng lại không tận dụng chúng. Bây giờ thì không thể chối cãi được nữa rồi. Hãy nhớ rằng, thầy Marks làm thế vì thương em. Thầy ấy phải rèn giũa em ở ngôi trường này giỏi nhất có thể, để em có được chỗ đứng trong xã hội mà mẹ em mong muốn. Đừng lãng phí một phút nào cho sự tiếc nuối vô ích nữa, hãy cắm đầu vào việc học ngay đi.”

Đó là một bài diễn văn dài đối với thầy trợ giảng, và ngài đã phải rất vất vả mới nói hết được. Khi dứt lời, dù nửa mê nửa tỉnh vì cú sốc, nhưng linh tính mách bảo Joel rằng thầy Marks và thầy Harrow đã đối xử với cậu rất đỗi đàng hoàng như những người đàn ông; thế là cậu vội vã chạy ù về phòng, kéo ghế sát vào bàn, hất tung đống lợn cjờ nào vợt tennis, bóng tennis, găng tay đấm bốc cùng bao dụng cụ thể thao và giải trí khác xuống đất, rồi dồn hết tâm can vào bài học với một động lực hoàn toàn mới.

Chẳng hiểu sao cậu không hề muốn khóc, dẫu rằng những lần vấp ngã trước kia cậu thường làm thế. “Thầy ấy bảo ‘Hãy là một người đàn ông,’” Joel cứ lẩm bẩm mãi trong đầu, trong khi những con chữ trong bài học cứ nhòe đi trước mắt. “Và mình sẽ làm thế; thầy ấy còn bảo thầy Marks phải rèn mình thành một người như Mamsie hằng mong đợi,” Joel tự nhủ, tự tóm tắt lại ý chính trong đầu theo cách đơn giản hơn. “Và mình sẽ trở thành người như thế.” Nói rồi cậu chống cùi chỏ lên mặt bàn, cúi gằm đầu sát cuốn sách, hai tay bấu chặt lấy mái tóc ngắn củn rồi nắm thật chắc, chẳng mấy chốc cậu đã quên bẵng đi tai họa của mình cũng như thế giới bên ngoài.

“Ô kìa!” David đứng khựng lại ngạc nhiên trước tư thế học bài kỳ lạ của Joel. Sau đó, cậu nghĩ thầm chắc là Joel đang cố làm bù bài tập để ngày mai được thảnh thơi đi chơi lễ. Dù biết cần phải giữ yên lặng, nhưng trong lòng David quá phấn khích nên cậu không thể kìm được mà hào hứng thốt lên: “Ôi, ngày mai chúng ta sẽ có một chuyến đi tuyệt vời cỡ nào chứ, Joe!” kèm theo một cái đấm yêu vào lưng bạn.

“Tớ không đi,” Joel đáp mà ngẩng đầu lên.

David chạy vòng qua ghế để nhìn bạn từ phía bên kia, rồi cúi xuống dòm ngó bên dưới mớ lọn tóc mà Joel đang túm chặt.

“Có... có chuyện gì thế, Joe?” cậu hụt hơi hỏi, tay bấu lấy bàn.

“Thầy Marks bảo tớ không được đi,” Joel tuột một lèo tất cả.

“Thầy Marks bảo cậu không được đi ư!” David lặp lại. “Sao cơ, Joel, tại sao chứ?” cậu hoảng hốt gặng hỏi.

“Tớ không chịu học bài; tớ bị bỏ lại quá xa rồi. Mặc kệ tớ đi,” Joel hét lên. “Tớ có một đống thứ phải học bù đây,” và cậu càng bấu chặt lấy mái tóc của mình hơn nữa.

“Thế thì tớ cũng chẳng đi nữa,” David tuyên bố, rồi lao vụt ra khỏi phòng và biến mất trước cả khi Joel kịp đứng dậy khỏi ghế — hành động khiến chiếc ghế bị hất ngã lăn lóc phía sau.

“Dave — Dave!” cậu gào lên, chạy xộc ra hành lang giữa dòng lũ học sinh đang từ phòng tập thể dục đi lên.

“Có chuyện gì thế, Pepper?” Nhưng cậu đã băng qua đám đông nhanh như chớp. Dù vậy, chẳng thấy tăm tích David đâu nữa, bởi cậu ta đã rẽ theo lối tắt nào đó và hòa lẫn vào dòng người.

Joel quay bước về phía phòng thầy trợ giảng, gõ cửa, và trong cơn hốt hoảng, cậu tưởng mình nghe thấy tiếng “Vào đi.” Chẳng thèm giữ lễ tiết, cậu xông thẳng vào chỗ thầy Harrow — người hình như đang thẫn thờ chìm trong mộng tưởng, quay lưng về phía cửa, chống cùi chỏ lên lò sưởi và tì đầu vào tay.

“Ơ... ồ!” thầy Harrow thốt lên, giật mình đánh thót khỏi vẻ điềm tĩnh thường ngày, rồi vội vã quay người đối mặt với Joel. “Ồ, là em đấy à, Pepper!” câu nói ấy chẳng hề giúp tâm trạng u ám của thầy khá hơn chút nào.

“Dave bảo cậu ấy sẽ không đi nếu không có em. Thầy bắt cậu ấy đi đi,” Joel nói, vì quá nôn nóng mà quên bẵng cả phép tắc.

“Đến Đảo Moose á?” thầy Harrow hỏi.

Joel gật đầu. Cậu vẫn chưa thể thốt nên lời cái tên ấy.

“Được rồi; thầy sẽ làm thế, Joe.” Thầy Harrow nắm lấy bàn tay rám nắng đang buông thõng bên sườn Joel.

“Thật chứ ạ?” Joel hỏi, nuốt khan một cái.

“Thật chứ. Chạy về chỗ sách vở của em đi, và hãy tin tưởng ở thầy.”

Thế là Joel ba chân bốn cẳng chạy vụt về, mặc kệ những tiếng gọi mời đầy cám dỗ từ mấy đứa bạn thân: “Đến đây mau — vẫn kịp làm một trận trước giờ ăn tối đấy,” và cậu lại ngồi vào trước bàn học với đúng tư thế cũ, hai tay túm chặt lấy mái tóc của mình.

“Tớ học thế này hiệu quả hơn,” cậu tự nhủ, và bấu chặt lấy mái tóc như để giữ lấy mạng sống.

Một hai đứa bạn thò đầu vào nhìn. “Ra ngoài này chơi đi chứ,” chúng hét lên. “Cần gì phải học cho ngày mai nữa. Tròn mắt ra mà nghĩ đến Đảo Moose đi chứ, Joe.”

Không một lời đáp.

“Joe!” Chúng chạy ùa vào, lay mạnh vai cậu. “Đảo Moose!” chúng hét lên, và sự phấn khích đang bao trùm toàn trường vang vọng khắp chiều dài khu ký túc xá.

“Cút đi,” Joel quát chúng, “không thì tớ ném thứ gì vào đầu bây giờ,” khi bọn chúng xúm lại quanh ghế cậu.

“Ném cuốn sách ngữ pháp cũ rích của cậu đi kìa,” một đứa gợi ý, giật phăng cuốn sách trên tay cậu; một đứa khác thì kéo phắt cái ghế ra khỏi chỗ ngồi của Joel.

Joel ngã kềnh ra sàn một thoáng; rồi cậu chồm dậy, tay vẫn kè kè ôm chặt cuốn sách, trừng mắt nhìn bọn chúng. “Tớ không đi. Biến hết đi.” Chỉ trong chớp mắt, căn phòng im phăng phắc như chưa từng có cuộc đột nhập nào. Bọn chúng ngạc nhiên đến mức quên bẵng cả cách thốt lên một lời.

Và chỉ mười phút sau, tin tức đã lan truyền khắp sân trường và mọi hành lang: “Joe Pepper không đi Đảo Moose.”

Nếu ai đó loan tin hòn đá tảng nền móng của ký túc xá đang lung lay, thì sự kinh ngạc ở một số nơi có lẽ cũng chẳng đến mức ấy; và câu chuyện chỉ thực sự được tin là thật khi họ nghe chính miệng Joe xác nhận. Lúc bấy giờ, sự ngạc nhiên biến thành nỗi buồn bã. Vắng bóng Joe Pepper đồng nghĩa với việc mất đi một nửa niềm vui.

Percy chạy hồng hộc đến bên cậu với vẻ đầy kích động ngay trước giờ ăn tối. “Chuyện gì thế, Joe?” cậu ta kêu lên. “Mấy đứa trong trường cứ đồn là cậu không được đi Đảo Moose kìa.” Mặt cậu ta đỏ lựng vì chạy, thở hổn hển trông vô cùng thảm hại. “Và Van đang mắng cho Red Hiller một trận vì dám bịa ra cái tin nhảm nhí đó đấy.”

“Ừ, cậu ta chẳng cần phải bênh vực đâu,” Joel nói, “vì đó là sự thật hoàn toàn. Tớ không đi.”

Percy há hốc mồm định nói gì đó; nhưng vì vừa chạy vừa quá ngạc nhiên, cái lưỡi cứ đơ ra dán chặt vào vòm họng.

“Thầy Marks không cho tớ đi,” Joel nói thẳng thừng, chẳng thèm úp mở. “Tớ phải học bài; thế nên chấm hết.” Nhưng khi Davie bước vào với một bộ dạng thảm hại vô cùng, bởi thầy Harrow đã giữ đúng lời hứa, thì đó mới là lúc Joel phải chịu thử thách cam go nhất. Lúc ấy, cậu phải siết chặt đôi bàn tay rám nắng để kìm nén những giọt nước mắt, bởi David đã oà khóc nức nở trong nỗi cay đắng vì không được cùng đi với Joel, khiến có lúc Joel suýt mất kiểm soát cả bản thân mình.

“Tớ mừng rơn ấy chứ.” Chính Jenk là kẻ đã nói câu đó với nhóm tay sai nhỏ bé của mình; và khi nghe thấy, Tom Beresford liền nổi giận lôi đình quát thẳng vào mặt hắn. “Nếu mày không quá lùn, tao đã cho mày đo ván rồi.”

“Thì tao mừng thật mà,” — Jenk lùi ra xa Tom một khoảng kha khá, bất chấp vẻ ghê tởm của Tom khi nghĩ đến việc chạm vào cái thứ như hắn — “vì cái thằng Pepper cứ làm cao mãi, đã đến lúc phải cho nó hạ bớt cái thói kiêu ngạo ấy xuống rồi,” nhưng một tràng tiếng hò hét la ó đã khiến hắn ta phải chuồn thẳng.

Thầy Marks đi qua đi lại trong phòng làm việc, đầu cúi gằm, hai tay chắp sau lưng.

“Đó là cách duy nhất. Không thể áp dụng phương pháp thông thường với Pepper được. Tình thế đã buộc phải làm vậy. Điều đó sẽ rèn luyện nó thành một người đàn ông thực thụ.” Thầy bước tới bàn làm việc, viết mấy chữ, nhét vào phong bì, dán kín và đề tên người nhận.

“Joanna!” Thầy bước ra cửa gọi người hầu gái, chính là người từng vung chổi dọa Joel khi cậu cùng con chó xông vào trường. “Mang cái này qua Ký túc xá phía Bắc càng nhanh càng tốt.” Có vẻ như việc khẩn trương là vô cùng cần thiết; và thầy Marks, con người vốn dĩ điềm tĩnh là thế, cũng phải vội vã chạy ra cửa sổ để chắc chắn mệnh lệnh của mình đã được tuân thủ.

Bà Fox đón lấy lá thư từ tay Joanna và lập tức sai người chuyển lên trên theo đúng lệnh của thầy hiệu trưởng. Bức thư vừa vặn được đưa đến đúng thời điểm Joel đang đứng trước bờ vực mất kiểm soát bản thân. Cậu xé toạc phong bì. “Con trai của ta, hiểu rõ con như thế, ta tin chắc con sẽ vô cùng dũng cảm để đối mặt với chuyện này. Nó sẽ giúp con vượt qua ác cảm với việc học và tôi luyện con thành một người đàn ông thực thụ. Thân ái, H. L. Marks.”

Joel giơ cao bức thư lên đầu, và tiếng thét vui sướng của cậu vang lên rền vang đến nỗi David ngạc nhiên đến mức quên cả khóc.

“Nhìn kìa!” Joel kiêu hãnh lắc lắc tờ giấy trước mặt bạn. “Đọc đi, Dave.”

Thế là David chộp lấy, chớp chớp mắt vì kinh ngạc.

“Thầy Marks viết thư cho tớ đấy,” Joel ra điều quan trọng lắm, cứ như thể David chưa hề tận mắt thấy bức thư trên tay vậy. “Và thầy ấy bảo ‘Hãy là một người đàn ông,’ y như lời thầy Harrow, rồi còn ‘thân ái’ nữa chứ. Cậu nghĩ sao hả, Dave Pepper?”

David chìm đắm trong vinh dự vừa giáng xuống đầu Joel, đến nỗi nỗi buồn vì nghĩ đến chuyến đi Đảo Moose ngày mai vắng bóng cậu bạn thân bỗng phai nhạt dần. Cậu mỉm cười, ngước đôi mắt vừa đẫm lệ lên. “Mamsie hẳn sẽ rất thích bức thư này đấy, Joe.”

Tom Beresford xông vào phòng chẳng thèm gõ cửa, u ám ngả người phịch xuống giường. Hai chữ “Joe tội nghiệp” viết rõ mồn một trên gương mặt dài luồn thườn của cậu ta.

“Ôi, cậu chẳng cần phải thế đâu, Tom,” Joel vui vẻ nói, vừa nhún nhảy tung tăng khắp phòng, “đừng có thương hại tớ, vì tớ không cần đâu.”

“Tớ thương hại chính bản thân mình ấy chứ,” Tom rên rỉ, nhét tẻo một góc gối vào miệng. “Thiếu cậu thì bọn tớ sống sao nổi hả Joe?” vừa nói cậu ta vừa bất ngờ phi thẳng chiếc gối về phía Joel.

Joe chộp lấy rồi ném trả lại, tiện tay giật luôn bức thư của thầy hiệu trưởng khỏi tay David. “Đọc đi, Tom,” cậu la lên, đôi mắt lấp lánh ánh cười.

“Tớ thà ở lại đây với cậu còn hơn, Joe,” Tom lẩm bẩm.

“Thôi đi, cậu chẳng ở lại được đâu,” Joel đáp lại. “Dave đã thử cách đó rồi mà có ích gì đâu. Đọc đi, tớ bảo đọc cơ mà.” Thế là Tom ngồim phắt dậy trên giường, trải phẳng bức thư của thầy Marks lên đùi.

“Chúa tôi! Thư của chính thầy hiệu trưởng cơ à! Và thầy ấy viết gì thế này?” Tom dụi mắt đến đau điên, trừng trừng nhìn rồi đọc lướt qua mấy câu văn với tốc độ chóng mặt; sau đó cậu đọc lại từ đầu một cách chậm rãi để chắc chắn mình hiểu đúng ý nghĩa.

“Joe Pepper!” Cậu ta tót khỏi giường.

“Tuyệt cú mèo phải không nào!” Joel kêu lên. “Trả thư cho tớ nào, Tom.”

“Tớ phải công nhận là thế!” Tom vừa đáp vừa gật đầu lia lịa. “Tớ sẵn sàng bị bắt ở lại vài vụ để nhận được bức thư thế này đấy. Cứ nghĩ mà xem, Joe, thư từ chính thầy Marks đấy nhé!”

“Tớ biết chứ,” Joel thỏa mãn thốt lên. “Thôi nào, bây giờ thì cậu biến đi cho tớ nhờ, Tom; tớ còn phải cắm cổ học như trâu đây.” Cậu chạy đến tủ đồ, quay lại với đống sách vở ôm đầy ngực.

“Được rồi,” Tom nói rồi vọt ra cửa. Nhưng ngay lập tức cậu ta thụt đầu vào lại, bồi cho Joel một cú vỗ vai — chẳng nhẹ nhàng chút nào đâu nhé — “Chúc cậu thành công nhé, anh bạn già!” rồi chuồn thẳng, lần này thì đi thật.

Còn Davie đêm đó đã mơ thấy Joel giành giải nhất tuốt tuột trong mọi môn; và bản thân cậu thì đang lênh đênh, lênh đênh trên một vùng biển vô tận (chắc là đang trên đường đi Đảo Moose), mang theo lời nguyền vĩnh viễn không bao giờ được quay lại trường của thầy Marks nữa. Và điều đầu tiên cậu nhận thức được là Joel đang đấm thình thịch vào người mình và lớn tiếng giục giã: “Dậy đi, Dave; cậu biết là chúng ta phải khởi hành sớm cơ mà.”

Và thế là cảnh tượng nhốn nháo, hỗn loạn lại diễn ra, hỏi sao tránh khỏi khi mà ngần ấy đứa trẻ đang chuẩn bị lên đường cho một chuyến thám hiểm lớn như thế?

Joel chính là đứa rạng rỡ nhất trong số đó, hết ở đây rồi lại đến ở kia, xuất hiện ở mọi ngóc ngách! Sẽ chẳng ai có thể đoán nổi rằng cậu lại không phải là nhân vật cốt cán hay ngôi sao sáng nhất của toàn bộ chuyến thám hiểm này!

Rồi cậu chạy ù ra cổng đá lớn để tiễn bọn chúng đi. Mấy đứa bạn ngạc nhiên lắm; nhưng với gương mặt rạng ngời đó, chẳng ai nỡ thốt lên lời thương hại nào dành cho cậu cả. Chúng chỉ thấy thương hại cho chính bản thân mình mà thôi.

Rồi ai đó hô lên: “Hoan hô Joe Pepper ba lần nào!” Người hô không phải là thầy trợ giảng, nhưng ngài cũng hăng hái tham gia hết mình; và cả đám đông hò reo hưởng ứng theo, trong khi Joel chạy ngược về phòng để cắm đầu vào sách vở, tay bấm chặt lấy lá thư của thầy Marks trong túi quần để chắc chắn rằng nó thực sự ở đó!

Vào khoảng thời gian ấy, Alexia Rhys đang cắm cổ chạy đến trường. Cô bé đã muộn học, bởi mọi chuyện xui xẻo cứ đổ ập xuống từ sáng sớm tinh mơ. Và tất nhiên là Polly Pepper đã đi đến trường từ đời nào rồi khi Alexia đến gọi; cảm thấy chẳng còn gì quan trọng nữa, cô bé bước đến góc phố với tâm trạng tuyệt vọng thì bỗng nghe có tiếng gọi tên mình.

Đó là một bà cụ quen biết với dì cô, Alexia bất giác khựng lại, rồi băng qua đường xem bà cụ muốn gì.

“Ôi cháu yêu, ta đoán là không nên giữ chân cháu lại đâu, vì cháu đang phải đến trường mà.”

“Ồ, không sao đâu ạ,” Alexia thờ ơ đáp; “cháu muộn giờ mất rồi. Có chuyện gì thế ạ, cô Seymour?”

“Ta muốn chúc mừng cháu — ta bắt buộc phải chúc mừng cháu,” bà cụ Seymour thốt lên với một tiếng cười khúc khích đầy phấn khích. “Ta thực sự phải làm thế, Alexia ạ.”

Alexia vắt óc suy nghĩ xem mình có thể gặp chuyện gì đáng chúc mừng hay không; và chẳng tìm ra lý do gì, cô bé cộc lốc hỏi: “Về chuyện gì cơ ạ?”

“Ôi cháu yêu! Cháu chưa nghe thấy gì à?” Bà cụ Seymour đặt những ngón tay đeo nhẫn lên vai cô bé. Bà đã túm vạt chiếc áo dài buổi sáng điệu đà trên tay, vội vã rảo bước xuống bậc thềm ngay khi thoáng thấy bóng Alexia ở phía bên kia đường.

Alexia quá hiểu cái kiểu nói vòng vo tam quốc của bạn dì cô rồi. Hơn nữa, cô bé chẳng mảy may quan tâm đến mấy mẩu chuyện phiếm của mấy bà già này. Thế nên cô thản nhiên đáp: “Vâng, chắc chắn là cháu chưa nghe rồi; và cháu cũng chẳng tin có chuyện gì lớn lao đâu ạ, cô Seymour.”

“‘Chợ chẳng có gì lớn lao ư?’ ôi cháu yêu!” Bà cụ Seymour giơ cả hai tay lên trời. “Thế cháu sẽ nói sao nếu nghe tin cô giáo của cháu sắp lấy chồng?”

Alexia lùi lại phía sau một bước, hai tay ôm lấy ngực. “Ôi, xin cô đừng đùa, cô Seymour,” cô bé kêu lên, nỗi sợ mà cô đã nơm nớp lo sợ bao tuần qua nay đã trở thành hiện thực. Rồi cô oà lên trong cơn kích động: “Ôi, không thể nào là sự thật được — không thể thế được!”

“Ừ, nhưng đó là sự thật đấy,” cô Seymour khẳng định chắc nịch. “Ta vừa nghe tin này chưa đầy mười phút trước từ một người bạn rất thân; và vì cháu là nữ sinh Salisbury đầu tiên ta gặp, nên tất nhiên ta muốn chúc mừng cháu ngay khi có thể.”

“Nữ sinh Salisbury!” Alexia rên rỉ khi nghĩ đến việc từ nay bọn họ sẽ chẳng bao giờ được mang cái danh hiệu ấy nữa; vì dĩ nhiên ngôi trường xinh đẹp này coi như tiêu đời rồi. “Và từ nay chúng ta sẽ đi đâu về đâu đây?” cô tuyệt vọng kêu lên trong lòng.

“Ôi, sao cô ấy lại có thể đi đính hôn cơ chứ!” cô bé thốt lên thành tiếng.

“Cháu vẫn chưa hỏi chú rể là ai kìa,” cô Seymour ngạc nhiên nói.

“Ôi, cháu biết rồi — cháu biết thừa rồi,” Alexia đau khổ đáp; “đó là thầy John Clemcy. Ôi, phải chi chúng ta đừng tổ chức cái buổi dã ngoại tai hại ấy!” cô oà lên.

“Hả — cái gì cơ?” bà cụ lanh lẹ hỏi.

“Thôi ạ. Chú rể là ai chẳng quan trọng nữa. Chẳng có gì quan trọng trên đời này nữa hết,” Alexia điên cuồng nói, “chừng nào cô Salisbury còn chuẩn bị lấy chồng và dẹp bỏ ngôi trường của chúng ta.”

“Ồ, ta nghĩ ngôi trường sẽ không bị dẹp bỏ đâu.”

“Hả? Sao cơ, dĩ nhiên là phải dẹp rồi chứ ạ. Làm sao cô ấy có thể tiếp tục duy trì nó sau khi đã kết hôn chứ?” Alexia sốt ruột kêu lên. Cô chỉ muốn thét vào mặt bà cụ rằng: “Cô ngốc quá đi mất!”

“Chà, ta nghĩ người kia sẽ tiếp tục quản lý nó chứ sao; và mọi thứ sẽ vẫn diễn ra bình thường như trước thôi.”

“Trời đất quỷ thần ơi! Nghĩ đến cảnh cô Anstice tiếp quản ngôi trường đó kìa!” Dù đang vô cùng đau khổ, Alexia vẫn không kìm được mà phì cười.

“Cô Anstice?”

“Vâng; nếu cô hiểu rõ cô ấy như tụi cháu đây, cô Seymour, cô sẽ chẳng bao giờ nói cô ấy đủ sức vận hành cái trường đó đâu.”

“Ta có nói cô ấy đủ sức đâu.”

“Ôi, có chứ ạ, cô vừa nói còn gì,” Alexia bướng bỉnh cãi lại. “Cô vừa bảo rõ mồn một là khi cô Salisbury kết hôn, cô nghĩ cô Anstice sẽ tiếp quản và duy trì nó y như cũ mà.”

Bà cụ Seymour bước chừng ba bốn bước xuống vỉa hè, rồi quay người lật đật quay lại, vạt áo dài điệu đà vẫn đang túm gọn trong tay.

“Theo cháu thì ai đã đính hôn với thầy John Clemcy?” bà hỏi, ngước nhìn cô thiếu nữ cao kều.

“Thì cô Salisbury của chúng cháu chứ ai,” Alexia đáp, mặt mếu máo như sắp khóc, “cháu đoán thế. Chẳng phải cô vừa nói vậy sao.”

“Ôi, không phải đâu cháu,” bà cụ đáp. “Đó là cô Anstice Salisbury cơ mà.”

Alexia ngước lên nhìn bà cụ một cái thật nhanh; rồi cắm cổ chạy vụt qua đường, thẳng hướng Trường Salisbury. Cô chạm mặt một đám đông nữ sinh đang ùa ra ở sảnh chính; và ngay khi nhìn thấy nét mặt của bọn chúng, cô biết rằng tin tức của mình đã cũ mèm rồi.

Và bọn chúng còn có thể kể cho cô nghe nhiều điều thú vị hơn thế nữa.

“Cô Wilcox sẽ là trợ giảng mới,” Amy Garrett reo lên.

“Và chính cô Salisbury đã thông báo điều đó; sao hôm nay cậu đến muộn thế, Alexia?” tiếng nhao nhao vang lên ong cả thủ quanh tai cô. “Và rồi cô ấy cho tan học luôn; bây giờ tụi mình đang ùn ùn kéo xuống phòng khách để chúc mừng cô Anstice đây.”

Alexia lách qua đám đông tìm đến chỗ Polly Pepper rồi bấu chặt lấy bạn.

“Ôi Alexia, cậu đến rồi!” Polly vui mừng kêu lên. “Cậu nghĩ xem, cuối cùng chúng ta vẫn được giữ lại cô Salisbury đấy.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.