Những Khẩu Pháo Ở Navarone
CHỦ NHẬT 1g – 9g

Những Khẩu Pháo Ở Navarone

Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Năm 1944, trong quần đảo Hy Lạp, một cuộc chiến đấu không khoan nhượng diễn ra giữa toán biệt động Anh và đội quân trú phòng tiền phương của Phát xít Đức .

Ở Navarone, quân đội Đức đã thiết lập một pháo đài thép vô cùng kiên cố để kiểm soát sự lưu thông trên eo biển trọng yếu.

Một toán biệt động Anh đã được thành lập với sứ mạng : đổ bộ lên một điểm của hòn đảo nổi tiếng bất khả xâm nhập và vô hiệu hóa hai khẩu đại bác ở Navarone. Nhóm ít người này dấn thân vào một cuộc chiến ác liệt. Họ chiến đấu đến tận cùng sức lực ...

Que diêm được quẹt mạnh vào vách rỉ sét của căn nhà có mái tôn lượn sóng, kêu soẹt và bật cháy, ánh sáng lập lòe trong im lặng và bóng tối của màn đêm. Mallory đưa mắt nhìn theo ánh lửa đang được châm vào điếu thuốc nhô ra dưới hàm râu tua tủa như bàn chải đánh răng của viên thiếu tướng, rọi sáng luôn khuôn mặt bất động của một người đàn ông đứng cách đó vài phân, với tia nhìn đăm đăm, cuốn hút vào câu chuyện. Ánh lửa tắt ngúm, que diêm bị chà đạp trên cát của sân bay.

- Tôi nghe thấy họ, thiếu tướng khẽ nói. Tôi nghe họ đang tới. Trong năm phút nữa, không lâu hơn. Tối nay, trời im gió, họ sẽ hạ cánh trên đường bay số 2. Chúng ta hãy tới chờ họ trong phòng họp báo.

Ông ngưng nói, ném về phía Mallory một cái nhìn hóm hỉnh và có vẻ mỉm cười. Nhưng giọng ông không được chút gì vui:

- Này chàng trai, hãy chế ngự nóng nảy. Chỉ thời gian ngắn nữa thôi, anh sẽ nhận tất cả những câu trả lời đang mong đợi, và tôi e rằng còn hơi sớm đấy.

Bất ngờ, viên thiếu tướng bước ra, về hướng dãy nhà to lớn lù lù ở đường chân trời đen nhạt.

Mallory nhún vai, đi theo ông nhưng không bước chậm hơn, cùng với người thứ ba của nhóm, một nhân vật béo lùn đi núng nính nhưng rất gọn. Mallory nghĩ thầm Jensen hẳn phải khổ luyện mới có được dáng đi kiểu thủy quân như thế. Ông ta ở ba mươi năm trong nghề mà, nhưng đó chưa phải là vấn đề. Với chức vụ trưởng phòng 3 đặc trách những "Điệp vụ phá hoại" (SOE) [1] ở Caire [2] , hải quân đại tá James Jensen đã xuất sắc thành công và được tưởng thưởng Huân chương Công vụ Đặc biệt của Hải quân Hoàng gia. Đa mưu, giỏi nghi binh, tài bắt chước, hóa trang như thật, đều là "nghề" của chàng. Đã từng "quậy" ở các xứ phương Đông, từ Alexandrette [3] đến Alexandrie [4] , chinh phục sự nể nang của những người thợ ở các xưởng đóng tàu, cỡi lạc đà còn thành thạo hơn bọn cướp biển sa mạc, thân thể chằng chịt những vết thẹo không ai sánh kịp kể cả bọn ăn mày ghẻ lở ở các chợ trời phương Đông. Vậy mà tối nay, Jensen chỉ là một sĩ quan hải quân giản dị với vẻ mặt không vui. Bộ quân phục hoàn toàn trắng toát từ chóp mũ xuống tới đôi giày. Chỉ có lon đại tá óng ánh trên hai cầu vai và trên vành nón.

Bước chân họ nhịp đều trên cát và sau đó nện vang rền trên xi-măng của đường ra phi đạo. Hai người đi sau hầu như mất hút bóng thiếu tướng. Mallory chợt quay sang Jensen.

- Thưa Đại tá, như vậy có nghĩa gì? Tại sao mọi việc lại bí mật? Tại sao tôi phải có mặt ở đây? Lạy Chúa tốt lành! Mới hôm nào đây người ta "bốc" tôi ra khỏi đảo Crète [5] và chỉ báo trước có tám tiếng. Họ nói tôi được đi phép một tháng, và bây giờ thì… có mặt ở đây!

- Rồi sao nữa? Jensen hỏi.

- Còn sao nữa! Chẳng có nghỉ phép gì ráo trọi! Mallory nói bằng vẻ cay đắng. Không có lấy một đêm được ngủ. Chỉ có những giờ và những giờ trong văn phòng sở chỉ huy để trả lời hàng đống câu hỏi ngu xuẩn về leo núi Alpes [6] phía nam. Kế đó, họ lôi tôi ra khỏi giường ngủ với lệnh đi gặp Đại tá. Sau đó là những giờ xuyên qua sa mạc quỉ quái trong chiếc xe do một người Xcốt-len điên khùng vừa lái vừa hát những bài nồng nặc mùi rượu và đã hỏi tôi hàng trăm câu hỏi còn ngu xuẩn hơn nữa!

- Hắn là một trong những nhân viên ưu tú nhất của tôi cải trang đấy. Theo tôi, đó là cuộc hành trình thú vị!

- Một trong những…

Mallory ấp úng không nói hết câu, lo lắng khi nghĩ tới những điều đã nói với viên đại úy già người Xcốt-len có râu mép lái xe.

- Tôi… tôi xin Đại tá tha lỗi. Tôi thật không ngờ…

- Dĩ nhiên, anh không được biết gì cả, Jensen ngắt lời. Tôi chỉ muốn trắc nghiệm xem anh có xứng đáng là người được chỉ định công tác này hay không. Trước khi "bốc" anh ra khỏi đảo Crète, tôi đã chắc rằng anh đủ khả năng, và qua thử thách vừa rồi, tôi lại càng thấy mình có lý. Nhưng tôi không hiểu anh nghĩ sao mà lại tin rằng được đi phép. Người ta thường hiểu sai ý tốt của cơ quan "Điệp vụ phá hoại" (SOE) nhưng dù sao cơ quan chúng tôi cũng không điên khùng đến nỗi trưng dụng nguyên một chiếc phi cơ cho các sĩ quan thuộc cấp nghỉ phép một tháng ở thủ đô của Ai Cập.

- Tôi cũng chưa hiểu ý Đại tá…

- Hãy kiên nhẫn, chàng trai, kiên nhẫn theo lời khuyên vừa rồi của ngài Thiếu tướng đáng kính của chúng ta. Thời gian bất tận. Chờ đợi và mãi mãi chờ đợi, đó là cuộc sống ở phương Đông.

- Tổng cộng chỉ ngủ được có bốn giờ trong ba ngày như vậy còn chưa đủ sao? Mallory lầm bầm rủa thầm… A! Họ tới rồi!

Cả hai chớp mắt liên hồi trước ánh sáng chói lóa của những đèn chiếu sáng phi đạo cho máy bay hạ cánh. Không đầy một phút, chiếc phóng pháo cơ dừng lại nặng nhọc, vụng về ngay gần họ. Thân máy bay màu xám và cánh bom lỗ chỗ những vết đạn kể cả đạn đại bác, một đầu cánh bị rách rời và động cơ ngoài bên trái ngưng hoạt động, dầu rỉ ra. Tấm kính của phòng lái thủng bể khoảng mười hai lỗ.

Jensen chăm chú nhìn khá lâu những lỗ thủng và những vết thương chi chít của chiếc máy bay oanh tạc bị hư hại nặng, kế đó ông lắc đầu và quay mặt đi.

- Đại úy Mallory, ông dịu dàng nói, anh than phiền chỉ được ngủ bốn tiếng, bây giờ tôi bắt đầu thấy anh là kẻ may mắn đã được ngủ trong thời buổi này.

❀ ❀ ❀

[1] 1

[2] 2

[3] 3

[4] 4

[5] 5

[6] 6

★ ★ ★

Gian phòng họp báo ít tiện nghi và thiếu thoáng khí được chiếu sáng bởi hai bóng đèn cực mạnh, Đồ đạc chỉ gồm vài tấm bản đồ sờn rách treo tường, khoảng gần hai chục cái ghế cũ mòn và một cái bàn bằng gỗ trắng. Viên thiếu tướng ngồi ở giữa đại tá Jensen và đại úy Mallory. Cửa phòng mở và những phi công đầu tiên bước vào, chớp mắt dưới ánh sáng cao độ. Dẫn đầu đoàn là một viên phi công tóc đen, vóc người to lớn, tay trái ôm nón và bộ đồ bay. Hàng chữ "Australie" [1] màu trắng nổi bật phía trên phù hiệu bên vai bộ kaki và trên hai nắp túi ở ngực. Anh chàng nhíu lông mày, im lặng ngồi xuống không cần xin phép, trước mặt ba vị sĩ quan, móc ra bao thuốc lá và quẹt diêm. Mallory lén nhìn thiếu tướng, nhưng ông có vẻ chịu đựng, giọng nói cũng thế.

- Giới thiệu với các ông: đây là Thiếu tá không quân Bill Torrance.

Và thiếu tướng nói thêm tuy hơi thừa:

- Torrance là người Úc.

Mallory có cảm tưởng ông hy vọng giải thích đôi điều về thái độ của thiếu tá Torrance…

- Torrance đã chỉ huy một phi đội tấn công Navarone. Này Bill, các ông đây là hải quân đại tá Jensen, thuộc Hải quân Hoàng gia, và đại úy Mallory thuộc Viễn đoàn Xung kích Sa mạc 8] đều đặc biệt chú tâm đến Navarone. Thế nào Bill? Tối nay "làm ăn " ra sao?

Mallory thầm nghĩ:

"Navaron! Thì ra vì mày mà ta hiện diện ở đây" Anh chàng khá rõ về Navarone hay đúng hơn đã nghe nói đến như tất cả những ai từng phục vụ miền đông Địa Trung Hải. Nó là một pháo đài thép bất khả xâm phạm, ở ngoài khơi bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, được bảo vệ kiên cố, theo ước lượng, bởi một đơn vị quân trú phòng hỗn hợp Đức và Ý, được xây dựng trên một hòn đảo của biển Egée [2] nơi đó quân Đồng minh hoàn toàn không tấn công nổi.

Torrance trả lời bằng giọng chán chường, cố chế ngự cơn phẫn nộ.

- Thưa Thiếu tướng, "làm ăn rất xấu". Thật là một mưu toan tự sát điên rồ…

Chàng chợt ngừng nói, môi mím lại, mắt nhìn những làn khói thuốc cuộn tròn vừa phà ra, rồi tiếp:

- Nhưng chúng tôi muốn trở lại đó, các bạn tôi và tôi. Chỉ một lần nữa thôi. Chúng tôi đã bàn với nhau khi trở về đây.

Phía sau chàng, tiếng xì xào tán thành của các viên phi công khác vang lên.

- Chúng tôi muốn trở lại để mang cái kẻ đùa dai nào đã vạch ra kế hoạch tấn công tự sát này, để tống hắn ra khỏi máy bay từ độ cao ba nghìn mét trên Navarone, không có dù.

- Anh giận đến thế sao Bill?

- Phải, thưa Thiếu tướng. Chúng tôi không có chút cơ hội nào để thành công. Trước hết, thời tiết cũng chống lại chúng tôi. Bọn ăn hại ở Đài Khí tượng lại nhầm lẫn hầu như là thói quen.

- Họ đã báo cho các anh là trời đẹp?

- Vâng. Trời đẹp! Giá mà bọn họ có mặt ở đấy! Torrance hằn học nói. Chúng tôi đã phải xuống thấp ở độ cao bốn trăm năm mươi mét, vậy mà cũng không làm được tích sự gì. Chắc có lẽ chúng tôi phải đâm đầu sâu dưới mặt biển khoảng chín trăm mét, rồi ngóc đầu bay lên: vách đứng của núi đá vẫn che kín mục tiêu. Tôi có cảm tưởng họ đã đóng bít lỗ nòng của hai khẩu đại bác ma quỷ đó. Và rồi, chúng đã tập trung hết phân nửa lực lượng phòng không của miền nam châu Âu để bố trí dọc theo góc hẹp 50 độ này… Russ và Conroy bay chưa tới nửa đường hải cảng thì đã bị…

- Tôi biết. Tôi biết, thiếu tướng buồn bã gật đầu nói. Chúng tôi đã nhận được tin. Liên lạc vô tuyến với máy bay khá tốt… Còn Macveen thì bị bắn rơi ở phía bắc Alexandrie phải không?

- Phải. Nhưng anh ta sẽ xoay sở được. Chiến hạm "bà già" đang hoạt động ở vùng biển đó khi chúng tôi bay qua. Họ sẽ thả xuồng máy xuống nước đi vớt anh ta. Mặt biển êm như hồ.

Jensen quay qua thiếu tướng.

- Xin Thiếu tướng cho phép tôi nói vài lời với thiếu tá phi công.

- Được chứ, Đại tá cứ việc hỏi.

- Chỉ một câu hỏi ngắn thôi, Jensen nói vừa mỉm cười nhìn viên phi công người Úc. Anh không muốn trở lại Navarone sao?

- Đại tá còn hỏi tôi làm gì! Torrance làu bàu.

- Tại sao vậy?

- Tại vì tôi không phải là người thích tự sát. Tại vì tôi không tin rằng chúng ta phải phung phí tính mạng các phi công một cách điên rồ. Tại vì tôi không phải là Thượng đế và tôi không thể làm phép lạ được.

Torrance nói bằng những lý lẽ có sức thuyết phục và không sao chỉ trích được.

- Vậy theo ý anh là không thể được phải không? Jensen nhấn mạnh. Vấn đề cực kỳ nan giải đấy.

- Tôi và các bạn tôi, Torrance đưa ngón tay cái chỉ những người đứng sau, chúng tôi đều nghĩ là không thể được. Có thể người ta sẽ sáng chế ra chiếc phi cơ được trang bị bằng những quả bom bay điều khiển từ xa bằng vô tuyến để giải quyết vấn đề. Điều đó tôi không biết. Nhưng tôi biết rằng với tất cả những gì chúng ta hiện có chắc chắn không tấn công nổi Navarone. Trừ phi ngài nhét đầy thuốc nổ TNT vào chiếc phi cơ và hạ lệnh cho một người trong chúng tôi húc đầu với tốc độ bốn trăm cây số giờ vào mõm của họng đại bác. Bằng cách đó, vẫn còn một cơ hội…

- Cám ơn Thiếu tá… và cám ơn tất cả, Jensen vừa nói vừa đứng dậy. Tôi biết các anh đã làm hết sức mình. Không ai khác có thể làm hay hơn các anh. Và tôi tiếc rằng… Thưa thiếu tướng?

- Tôi sẵn sàng chiều theo ý các ông. Thiếu tướng nói xong gật đầu ra hiệu cho viên sĩ quan thuộc Cục Tình Báo ngồi phía sau hướng dẫn Jensen và Mallory vào một phòng bên cạnh.

- Này Đại tá, Thiếu tướng nói, tôi nghĩ rằng anh phải thay đổi kế hoạch thôi.

Ông khui chai rượu vang và rót vào ba ly.

- Phi đội của Thiếu tá Bill Torrance là kỳ cựu nhất, kinh nghiệm nhất trong những phi đội của chúng ta còn lại ngày nay ở châu Phi. Họ oanh tạc các giếng dầu và coi đó như một trò đùa. Họ là phi đội duy nhất đủ khả năng thực hiện cuộc tấn công ở Navarone hồi chiều tối nay và nếu Bill nói rằng không thể được thì, hãy tin tôi đi, Đại tá Jensen, tức không thể được.

- Phải, Jensen nói, dán đôi mắt ủ rũ vào ly rượu óng ánh cầm trên tay. Phải, thưa Thiếu tướng, tôi hiểu điều đó. Tôi hầu như biết trước điều đó, nhưng tôi vẫn chưa tin lắm. Thật đáng tiếc phải mang sinh mạng mười hai phi công ra thử thách để kiểm chứng điều ấy… Bây giờ, chỉ còn duy nhất một phương án.

- Phải, chỉ còn duy nhất phương án đó, thiếu tướng nói.

Ông nâng cao ly lên, nói lớn:

- Chúc chiến dịch Khéros thành công!

- Chúc chiến dịch Khéros thành công! Đến phiên Jensen nói với vẻ u sầu.

Mallory khẩn khoản yêu cầu:

- Tôi xin các ngài, tôi hoàn toàn không hiểu gì hết… Giá mà các vị có lòng tốt cho tôi biết nhỉ?...

- Khéros, Jensen ngắt lời chàng, đó là khẩu hiệu của anh đấy, chàng trai. Thế giới là một hí trường và bây giờ thì anh bước lên sân khấu. Đừng tiếc rẻ vì anh không có mặt ở hai hồi đầu. Vai của anh không phải tầm thường. Dù anh muốn hay không muốn, anh sẽ là diễn viên chính. Khéros, hồi ba, màn tứ nhất: Đại úy Keith Mallory bước ra sân khấu.

❀ ❀ ❀

[1] 7

[2] 8

★ ★ ★

Suốt mười phút qua, cả hai không ai nói với ai một lời. Jensen lái chiếc Humber với vẻ tự tin hàng ngày. Mallory chúi mũi trên chiếc bản đồ trải dài trên đùi, một tấm bản đồ lớn của vùng biển Egée phía nam được soi sáng bởi ánh đèn trên bảng công tắc xe hơi. Chàng chú ý đến quần đảo Sporades và Dodécanèse [1] ở phía bắc được khoanh tròn bằng viết chì đỏ. Cuối cùng chàng ngẩng đầu lên, rùng mình. Ngay cả ở Ai Cập, những đêm cuối tháng mười một này rất lạnh. Chàng nói:

- Thưa Đại tá tôi đã nắm vững.

- Tốt!

Jensen nhìn thẳng phía trước con đường xám như dải lụa uống khúc và ánh đèn xe hơi chói lòa đang xuyên thủng màn đêm sa mạc. Chiếc xe chồm lên đoạn đường nhấp nhô khiến hai luồng đèn pha quét lên quét xuống liên hồi.

- Tốt! Jensen lập lại. Anh hãy nhìn lại bản đồ một lần nữa và cứ tưởng tượng anh đang ở Navarone. Thành phố này ở trên một cái vịnh hầu như hình tròn phía bắc hòn đảo. Hãy cho tôi biết anh thấy gì khi đứng ở đó.

Mallory mỉm cười.

- Tôi chẳng cần nhìn lại bản đồ cũng biết. Cách khoảng sáu cây số về phía đông, là bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ uốn cong về hướng bắc và hướng tây tới một điểm ở ngay phía bắc của Navarone nơi đó là một mũi nhọn trải dài khoảng mười tám cây số, ngay đầu mũi là vịnh Demirei, có phải thế không? Và thẳng theo chiều dọc là đảo Khéros. Rồi cách Navarone bốn cây số rưỡi về phía tây bắc, là đảo Maidos, hòn đầu tiên thuộc nhóm quần đảo Lérades. Chúng trải dài cũng theo hướng tây bắc, có lẽ đến bảy mươi lăm cây số.

- Chín mươi, Jensen sửa lại cho đúng. Anh có cái nhìn nhạy bén đấy, chàng trai. Anh có kinh nghiệm và dũng cảm. Không ai có thể tồn tại mười tháng ở đảo Crète nếu thiếu một trong hai đức tính này. Ngoài ra, anh còn có vài phẩm chất đặc biệt khác tôi sẽ nói sau.

Đại tá ngừng nói một lúc, thong thả lắc đầu.

- Tôi chỉ hy vọng một điều là anh gặp may mắn… Lạy chúa! Anh cần gặp may…

Mallory chờ đợi câu nói khác nhưng Jensen đang chìm đắm trong những ý nghĩ. Ba phút trôi qua, có thể là năm phút rồi, và chỉ có tiếng rú mạnh của động cơ xe, tiếng bánh cọ sát trên mặt đường. Mắt vẫn không rời khỏi mặt đường, Jensen chợt hạ thấp giọng:

- Hôm nay là thứ bảy hay sáng chủ nhật gì đó. Từ bây giờ cho đến thứ bảy tới sẽ có một ngàn hai trăm người trên đảo Khéros sẽ chết, bị thương hoặc bị bắt.

Lần đầu tiên Jensen nhìn Mallory với nụ cười mỉm thoáng trên môi, nụ cười héo hắt.

- Đại úy Mallory, anh có cảm tưởng gì khi nắm trong tay sinh mạng của một ngàn hai trăm người?

Trong nhiều giây, Mallory nhìn vẻ mặt điềm nhiên của người bạn đồng hành, rồi chàng quay mặt đi, chăm chú nhìn trên bản đồ. Một ngàn hai trăm người ở Khéros, một ngàn hai trăm người chờ chết. Khéros và Navarone. Khéros và Navarone. Chàng chợt nhớ lại bài thơ ngắn đã nghe trước đây ở một ngôi làng của những người chăn cừu gần Queenstown: "Chimborazo và Cotapaixi [2] , các người đã cướp mất trái tim ta…" Khéros và Navarone cũng được xướng lên như thế như một ma lực lãng mạn xâm chiếm tâm hồn chàng trai.

- Cách đây mười tám tháng, Jensen cắt ngang im lặng, sau khi Hy Lạp thất thủ, phát xít Đức đã chiếm phần hết quần đảo Sporades, phát xít Ý làm chủ phần lớn quần đảo Dodècanèse. Sau đó, dần dần, chúng ta bắt đầu tổ chức những điệp vụ trên các lãnh thổ đó và thường được chỉ huy bởi Viễn đoàn Xung kích Sa mạc của anh hoặc bởi Cục Công tác Đặc biệt của Bộ Hải quân. Tháng chín qua, chúng ta đã chiếm lại hầu hết những đảo lớn chỉ trừ Navarone. – Đây là một vấn đề khó giải quyết vô cùng và chúng ta đành phải tránh né – Chúng ta đã nâng quân số trú phòng lên đến cấp tiểu đoàn hoặc hơn thế nữa. Vào thời điểm đó, anh còn đang "ẩn mình" trong hang động của anh trên Núi Tuyết, nhưng chắc anh cũng nhớ quân Đức đã phản ứng như thế nào.

- Rất dữ dội?

- Phải, rất dữ dội. Sự quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ ở khu vực này không thể được đánh giá quá cao và họ luôn luôn sẵn sàng tạm đứng về phe Trục [3] hoặc phe Đồng minh. Phần lớn các đảo này chỉ cách bờ biển Thổ vài cây số. Đối với quân Đức cần gấp rút lấy lại lòng tin ở trong nước đó là vấn đề uy tín. Do đó, họ đã dốc hết toàn lực vào đây: quân nhảy dù, quân không vận, lữ đoàn chuyên hoạt động vùng núi, số lượng rất lớn phóng pháo cơ Stuka [4] , hình như họ đã trưng dụng hết số oanh tạc cơ ở mặt trận Ý. Trong vài tuần chúng ta đã thiệt hại hơn một vạn người và mất hết những đảo đã chiếm lại, trừ Khéros.

- Và bây giờ, đến phiên Khéros?

- Phải, Jensen trả lời.

Ông rút hai điếu thuốc ra khỏi bao, giữ im lặng trong khi Mallory châm lửa xong, vất que diêm qua cửa xe, về hướng Địa Trung Hải mờ nhạt đang trải dài ra ở phía bắc, bên dưới con đường ven bãi.

- Phải, Jensen lập lại. Đối với chúng ta. Khéros coi như sẽ mất. Không còn cách nào cứu vãn nó được. Trong vùng biển Egée, quân Đức có ưu thế tuyệt đối về không quân.

- Nhưng làm thế nào Đại tá có thể chắc chắn rằng Khéros sẽ mất nội trong tuần này?

- Này chàng trai, Jensen thở dài, ở Hy Lạp điệp viên của Đồng minh đông như tổ kiến. Chỉ ở khu vực Athènes [5] - Le Pirée [6] , chúng ta có đến hơn hai trăm nhân viên.

- Hai trăm! Mallory thốt lên bằng giọng hoài nghi.

- Phải, đó là chưa đáng kể so với số lượng khổng lồ gián điệp đang hoạt động ở Caire và Alexandrie. Dù sao mọi thông tin của ta rất chính xác. Một đoàn tàu đổ bộ của Đức sẽ xuất phát từ Pirée rạng sáng thứ năm, len lỏi qua nhóm đảo Cyclades [7] và dừng lại đó ban đêm. Một tình thế lạ lùng, phải không? Đại tá vừa nói vừa mỉm cười. Ban ngày phe ta không dám chường mặt ra ngoài biển Egée vì sợ máy bay oanh tạc của địch. Quân Đức ban đêm không dám nhúc nhích. Các khu trục hạm và các trinh sát hạm cực nhanh của chúng ta nhổ neo ra khơi lúc hoàng hôn. Trước khi bình minh tới, các tàu khu trục của ta co cụm về phía nam, còn các tàu trinh sát thường lẩn trốn trong các vịnh nhỏ. Nhưng chúng ta cũng không thể ngăn cản được đoàn tàu đổ bộ của Đức trên đường đi tới Khéros. Chúng sẽ đến ngày thứ bảy hoặc chủ nhật mà tiến hành đổ bộ lên đảo đồng thời với những toán không vận. Khéros sẽ không đứng nổi trong hai ngày.

Nghe giọng nói của Jensen, không ai mà không tin. Mallory tin lời ông ta. Suốt gần một phút, chàng nhìn các ánh sao phản chiếu trên mặt biển tăm tối và phẳng lặng, đoạn bất ngờ quay sang Jensen:

- Nhưng thưa Đại tá, còn Hải quân! Di tản sao?

- Hải quân, Jensen nói, họ đã mệt mỏi và chán chường vùng đông Địa Trung Hải và biển Egée. Họ đã tiêu hao lực lượng một cách gần như phi lý. Hai thiết giáp hạm bị bắn chìm, tám tuần dương hạm hư hại nặng, trong đó bốn chiếc bị đắm, và hơn mười hai tàu khu trục bị phá hủy. Đó là tôi chưa kể đến những cái thuyền chiến nhỏ hơn mà chúng ta đã mất. Và tất cả những cái đó chỉ để cho Bộ Tư lệnh Tối cao của chúng ta chơi trò "Ai sẽ làm vua" với Berlin [8] . Thật là trò chơi thú vị đối với quý vị ngồi trên cao, nhưng hoàn toàn không, đối với hàng ngàn thủy thủ đắm chìm ngoài biển khơi, đối với hàng vạn lính Anh, liên quân Úc và Tân Tây Lan bị thương và chết trên những hòn đảo mà không biết tại sao.

Bàn tay Jensen xiết chặt tay lái, đôi môi mím lại trong nỗi đắng cay. Mallory ngạc nhiên, gần như hơi khó chịu trước sự xúc động mãnh liệt có vẻ bất thường của viên đại tá và chàng nghĩ chắc Jensen còn biết nhiều điều khác nhưng phải che dấu công chúng.

- Một ngàn hai trăm người? Mallory hỏi lại. Có đúng là Đại tá đã nói một ngàn hai trăm người ở Khéros.

- Phải, Jensen trả lời.

Rồi ông thở dài nói tiếp:

- Anh có lý, chàng trai. Tôi nói hơi viển vông. Lẽ dĩ nhiên chúng ta không để bọn Đức đi qua. Hải quân phải làm hết sức mình. Nếu cần phải hy sinh thêm hai hay ba khu trục hạm nữa… Xin lỗi, chàng trai, tôi lại mê sảng rồi… Bây giờ, hãy lắng tai nghe. Phải thực hiện di tản vào ban đêm. Chúng ta không có một chút may mắn nào để thành công vào ban ngày bởi từ hai đến ba trăm phi cơ phóng pháo Stukas của Đức đang sốt ruột chờ đợi một khu trục hạm của Hải quân Hoàng gia ló đầu ra. Phải sử dụng những tàu khu trục để di tản, bởi vì các tàu vận tải quá chậm. Và chưa chắc họ đến kịp quần đảo Lérades trước bình minh.

- Nhưng Lérades là một dãy quần đảo rất dài, các khu trục hạm sẽ không thể đi qua…

- Đi qua giữa hai trong các hòn đảo? Không thể được. Tất cả eo biển đều bị gài mìn, ngay cả tàu nhỏ nhất cũng không qua được.

- Còn eo biển giữa Maidos và Navarone cũng đầy dẫy mìn phải không, thưa Đại tá?

- À không! Ở đó nước quá sâu, quân Đức không thả thủy lôi.

- Vậy chúng ta sẽ đi đường đó chứ gì? Tôi nghĩ rằng phía bên kia là vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ và chúng ta…

- Chúng ta sẵn sàng đi xuyên qua vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ ngày mai giữa ban ngày, nếu xét thấy có lợi. Người Thổ và cả người Đức đều biết thế. Nhưng với điều kiện là vô hiệu hóa pháo đài thép. Vả lại, chúng ta không đi ngả eo biển Thổ Nhĩ Kỳ nhưng đi qua eo biển phía tây. Ở đó không có mìn, đoạn đường ngắn hơn và không gây rắc rối quốc tế một cách vô ích giữa chúng ta và người Thổ.

- Vô hiệu hóa pháo đài thép?

- Phải, hai khẩu đại bác ở Navarone, Jensen nói.

Ông giữ im lặng khá lâu rồi thong thả lập lại "Hai khẩu đại bác ở Navarone", như nhắc đến một kẻ thù xưa đáng sợ.

- Hai khẩu đại bác ở Navarone khiến mọi chọn lựa của chúng ta giữa hai eo biển đều vô ích, bởi vùng hoạt động của hai khẩu lợi hại này bao quát từ eo biển Thổ qua đến eo biển phía tây. Chúng ta chỉ có thể di tản một ngàn hai trăm người ra khỏi Khéros khi đã làm câm họng hai khẩu này.

Mallory không nói gì hết. Chàng nghĩ thầm "Đây là trọng tâm của vấn đề".

Jensen tiếp tục nói, vẻ bình thản.

- Đó không phải là những khẩu đại bác bình thường. Các chuyên gia của chúng ta đánh giá rằng chúng là những khẩu đại bác xoáy nòng khoảng 228 ly. Các chiến sĩ của ta căm ghét và sợ chúng hơn mọi thứ trên đời, bởi chúng rất khủng khiếp: quả đạn có đạn đạo rất căng và xa, bắn trúng mục tiêu với sự chính xác thần sầu. Chính hai khẩu này đã bắn chìm chiếc Sybaris của ta chỉ đúng năm phút. Sybaris là một tuần dương hạm với trọng tải mười ngàn tấn, mà chúng ta phái đến, cách đây khoảng bốn tháng, để thử lửa với bọn Đức. Tàu Sybaris bị nổ tung, chỉ có mười bảy người sống sót.

- Lạy Chúa! Tôi không biết điều ấy. Mallory ấp úng nói.

- Cách đây hai tháng, chúng tôi đã tung ra một cuộc tấn công quy mô vào Navarone, với lực lượng thủy bộ gồm toán biệt động của Hải quân Hoàng gia và Cục Công vụ đặt biệt. Chúng tôi thừa biết trước rằng khó có hy vọng vì Navarone thực tế là một núi đá vững chắc trên toàn chu vi. Nhưng biết đâu lực lượng của ta có thể làm nên chuyện.

Jensen ngừng nói khoảng một phút trước khi tiếp:

- Cuối cùng toán biệt kích của ta đã bị nghiền nát như mảnh vụn bánh mì. Hầu hết bị hạ sát. Rồi mới đây, trong vòng mười ngày qua, vì dự đoán Khéros sẽ bị tấn công, đã hai lần chúng tôi thả dù xuống Navarone những toán “chuyên phá hoại” của Cục Công vụ đặc biệt, nhưng họ đều mất tích. Và, chiều tối nay, là ván bài chót của người thua cuộc tuyệt vọng, và anh đã thấy kết quả thế nào trong phòng họp báo. Trong khi các phi công phẫn nộ, tôi đã ngồi lặng thinh. Chính tôi là “kẻ đùa dai” mà Torrance và các phi công khác muốn tống ra khỏi máy bay trên vùng trời Navarone. Tôi không trách cứ họ. Tôi biết không hy vọng, nhưng đành phải thử. Tôi rất ân hận.

Chiếc Humber to lớn bắt đầu giảm tốc độ, lặng lẽ lăn bánh giữa những ngôi nhà đổ nát dọc hai bên đường dẫn tới phía tây Alexandrie. Trên trời những đường sọc màu xám báo hiệu sắp hừng đông.

- Tôi không tin rằng với một cái dù, tôi có thể làm được điều gì hay, Mallory nói. Thú thật với Đại úy, tôi cũng chưa được nhìn tận mắt một cái dù nào.

- Đừng lo lắng chuyện đó, Jensen nói, anh sẽ không có cơ hội dùng dù đâu. Anh sẽ vào Navarone bằng con đường khó khăn nhất.

Một khoảng im lặng dài trôi qua, Mallory hỏi:

- Tại sao lại là tôi, thưa Đại tá?

Nụ cười mỉm của Jensen được nhìn thấy lờ mờ trong bóng tối màu xám tro. Ông quặt tay lái tránh một ổ gà lớn, đoạn cho xe chạy ngay lại.

- Sợ à? Ông hỏi.

- Chắc chắn là tôi sợ. Xin lỗi Đại tá, cách nói chuyện của Đại tá làm khiếp đảm bất cứ ai… Nhưng tôi không muốn nói thế.

- Tôi hiểu. Tôi hơi méo mó… Tại sao lại là anh? Vì anh có những đức tính đặc biệt như tôi đã nói khi nãy. Anh lại nói tiếng Hy Lạp như người Hy Lạp, nói tiếng Đức như người Đức. Anh là một chuyên gia “phá hoại” cừ khôi, một tay tổ chức hàng đầu, và mười tám tháng nguyên vẹn trên Núi Tuyết Trắng của đảo Crète chứng tỏ khả năng sinh tồn của anh trong lãnh thổ bị chiếm đóng. Chắc anh ngạc nhiên vì sao tôi nắm rõ lý lịch của anh.

- Không, tôi không ngạc nhiên, Mallory hậm hực nói. Nhưng tôi biết có ba vị sĩ quan cũng chuyên nghiệp như tôi.

- Có, Jensen không phản đối. Nhưng không có Keith Mallory thứ hai. Ai mà không nghe nói đến Keith Mallory hồi thời trước thế chiến? Một vận động viên leo núi người Tân Tây Lan giỏi nhất thế giới, nơi nào khó leo nhất hiểm trở nhất đều có dấu chân của anh, những vách đá dựng đứng, những vực thẳm sâu hoắm. Anh nên nhớ toàn bờ biển phía nam của Navarone là một vực thẳm khổng lồ, trơn nhẵn, không có một chỗ để tựa chân.

- Tôi hiểu, Mallory nói khẽ, đi vào Navarone bằng con đường khó nhất như Đại tá vừa nói.

- Thật thế. Anh chỉ huy một nhóm bốn người mà thôi. Họ đã được sàng lọc kỹ càng như sàng bắp. Mỗi người chuyên một việc. Anh sẽ gặp họ ngày mai… hay đúng hơn, trưa nay.

Cả hai ngồi im lặng bên nhau trong mười phút sau đó. Jensen quẹo sang bên phải khu các xưởng đóng tàu. Chiếc xe nhồi xốc trên con đường lát đá, băng qua quảng trường Mohammed Ali, chạy qua trước Sở Giao dịch Chứng khoán… và đi vào đường Shérif Pacha.

Mallory nhìn khuôn mặt của người đồng hành bây giờ rõ nét vì ngày đã lên.

- Chúng ta đi đâu đây, thưa Đại tá?

- Đi gặp một người duy nhất ở Trung đông này có thể giúp được anh: ông Eugène Vlachos trước đây ở Navarone.

❀ ❀ ❀

[1] 9

[2] 10

[3] 11

[4] 12

[5] 13

[6] 14

[7] 15

[8] 16

★ ★ ★

- Đại úy Mallory, anh là một con người can đảm, Eugène Vlachos vừa đưa ngón tay nóng nảy xoắn tít những sợi râu dài. Anh là một người can đảm và điên khùng, nhưng tôi nghĩ rằng không nên gọi một người là điên khi anh ta chỉ làm cái công việc tuân lệnh cấp trên.

Đôi mắt của Vlachos thôi nhìn tấm hình vẽ đặt trên bàn và quay sang nét mặt điềm nhiên của Jensen.

- Không còn cách nào khác sao, thưa Đại tá? Ông khẩn cầu.

Jensen chậm chạp lắc đầu.

- Chúng tôi đã thử nhiều giải pháp, nhưng tất cả đều thất bại. Chỉ còn giải pháp này là cuối cùng.

- Vậy thì anh ta phải đi đến đó?

- Thưa ngài nên nhớ có hơn một ngàn người ở Khéros.

Vlachos cúi đầu tỏ vẻ thầm lặng chấp nhận, kế đó ông khẽ mỉm cười với Mallory.

- Đại tá gọi tôi là “ngài” tôi, một người Hy Lạp đáng thương. Thật là vinh hạnh cho lão già này biết chừng nào.

Đôi mắt mở và khuôn mặt nhăn nheo của ông dịu hẳn lại khi gợi nhớ một kỷ niệm xưa.

- Đại úy Mallory, bây giờ tôi già rồi. Tôi hiện là một người nghèo và buồn, nhưng cách đây không lâu, với thể lực và tuổi tác, tôi đã sống một cuộc đời giàu có và hạnh phúc. Tôi đã làm sở hữu chủ một trăm mẫu đất ở cái thành phố do Chúa cố ý dựng nên để ưu đãi tạo vật của Ngài, và các vị biết đấy, tôi yêu nó biết chừng nào.

Ông cười, đưa tay vuốt mái tóc hoa râm.

- Chắc các vị nói rằng: “A! Điều ấy còn tùy vào nhãn quan của mỗi người”. Đối với tôi nó là một thành phố tuyệt vời, nhưng hình như khi không có tôi, Đại tá Jensen đã gọi nó là “Khối núi đá quỷ quái!”

Ông già mỉm cười trước sự chưng hửng của Jensen và kết thúc:

- Nhưng cả hai chúng tôi đều gọi nó cùng một tên là Navarone.

Ngạc nhiên, Mallory quay nhìn Jensen. Đại tá gãi đầu nói:

- Gia đình của Vlachos đã sinh sống ở Navarone từ nhiều thế hệ. Cách đây mười tám tháng, chúng tôi bó buộc phải vội vã di tản ông Vlachos bởi vì quân Đức không ưa những người hợp tác với chúng tôi.

Ông già thêm vào:

- Quân Đức đã đào sẵn ba cái huyệt ở Navarone dành cho tôi và hai đứa con trai… Nhưng hãy bỏ qua chuyện của tôi. Tôi chỉ muốn cho anh biết, đại úy Mallory, rằng tôi đã sống bốn năm ở Navarone và đã trải qua bốn ngày ròng rã để vẽ tấm bản đồ này. Anh có thể tuyệt đối tin vào những tin tức và tấm bản đồ do tôi cung cấp. Lẽ dĩ nhiên từ lúc tôi rời khỏi Navarone đã có một số điều thay đổi, nhưng cũng có cái không bao giờ thay. Những núi đồi, các vịnh, đường đèo, hang động, đường xá và nhất là núi đá nơi đặt pháo đài, đã không hề biến đổi từ bao thế kỷ.

- Thưa ngài, tôi hiểu. Mallory nói.

Chàng cẩn thận gấp tấm bản đồ và cất vào túi áo trong.

- Với cái này, chúng tôi vẫn còn có dịp mà. Cám ơn ngài Vlachos rất nhiều.

- Nó chẳng đáng bao nhiêu. Cầu Chúa giúp anh.

Ông già gõ nhịp trên bàn, đoạn ngước nhìn Mallory:

- Đại tá Jensen đã cho tôi biết rằng các anh nói thông thạo tiếng Hy Lạp, các anh sẽ cải trang thành những nông dân Hy Lạp và sử dụng giấy tờ giả. Rất tốt. Các anh sẽ hành động độc lập. Tôi chỉ yêu cầu các anh đừng làm liên lụy những người dân ở Navarone. Các anh phải tránh họ bằng mọi giá. Bọn Đức không biết thương xót. Nếu một người nào đó giúp các anh và bị khám phá, bọn Đức sẽ không chỉ tiêu diệt người đó mà cả làng, đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Điều đó đã xảy ra rồi, và còn xảy ra nữa.

- Ở đảo Crète cũng đã xảy ra một vụ tương tự. Mallory nói. Chính tôi là người chứng nhân.

Vlachos tiếp:

- Và người dân ở Navarone không có kinh nghiệm cần thiết để tiến hành tốt những hoạt động du kích. Họ không có dịp để luyện tập kháng chiến bởi vì quân Đức đặc biệt kiểm soát nghiêm nhặt ở hòn đảo này.

- Tôi xin hứa với ngài, Mallory nói.

Chàng định kết thúc câu chuyện nhưng Vlachos ngắt lời.

- Hãy đợi một chút. Nếu thật sự các anh lâm vào một tình thế tuyệt vọng hoàn toàn, tôi biết hai người có thể giúp các anh. Cách phía nam pháo đài khoảng bốn cây số, ngay lối vào thung lũng, dưới bóng cây tiêu huyền thứ nhất trên quảng trường làng Margaritha, là nơi ở của một người tên Louki. Anh ta đã từng làm quản gia trong gia đình tôi từ nhiều năm. Anh ta đã giúp quân Anh, đại tá Jensen sẽ xác nhận với anh điều đó. Các anh có thể giao phó tính mạng cho anh ta và một người bạn thân tên là Panayis.

- Cám ơn ngài, tôi sẽ ghi nhớ. Louki và Panayis, và Margaritha, cây tiêu huyền thứ nhất đầu quảng trường làng.

- Và ngoài ra Đại úy từ chối mọi sự giúp đỡ khác sao? Ông già lo lắng hỏi. Chỉ có Louki và Panayis thôi sao?

- Ngài hãy tin lời tôi. Dù sao chúng tôi càng ít người, nguy cơ càng ít cho chúng tôi và cho cả đồng bào của Ngài.

Niềm xúc động mãnh liệt của người Hy Lạp làm Mallory ngạc nhiên.

Ông đứng dậy, bắt tay chàng.

- Ngài đừng lo lắng. Họ sẽ không gặp chúng tôi. Không ai gặp chúng tôi và chúng tôi không gặp ai. Chúng tôi chỉ cần gặp mỗi một thứ đó là: hai khẩu đại bác.

- Phải, hai khẩu đại bác, những khẩu đại bác khủng khiếp, Vlachos nói. Nhưng giả sử…

- Tôi xin ngài đừng lo. Chúng tôi sẽ không làm thiệt hại gì đến ai, đến những người dân ở đảo.

- Cầu Chúa luôn ở bên anh, ông già thì thầm. Tôi cũng ước ao có đủ sức khỏe để tháp tùng các anh.

--------------------------------


SOE. (Opérations subversives): chuyên tiến hành những hoạt động phá hoại.

Caire: thủ đô Ai Cập.

Alexandrette: thành phố cảng của Thổ Nhĩ Kỳ.

Alexandrie: thành phố cảng của Ai Cập.

Crète: tên hòn đảo của Hy Lạp ở Địa Trung Hải.

Alpes: Dãy núi hùng vĩ nhất châu Âu, trải dài từ Địa Trung Hải lên đến tận Trung Âu.

Australie: nước Úc

Groupe d' Action lointaine du désert: Đội quân đặc biệt hoạt động xa ở vùng sa mạc.

Egée: thuộc Địa Trung Hải, giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.

Sporades và Dodécanèse: tên các quần đảo của Ai Cập vùng biển Egée.

Chimbarazo và Catapaxi: Tên hai núi lửa trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ.

Axe: phe Trục gồm phát xít Đức, Nhật, Ý.

Stuka: loại phóng pháo cơ của Đức chuyên bổ nhào từ trên không xuống mục tiêu.

Athènes: Thủ đô của Hy Lạp

Pirée: Hải cảng của Athènes.

Cyclades: Quần đảo của Hy Lạp trong vùng biển Egèe.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.