- Anh làm tôi áy náy vô cùng, anh bạn thân mến…
Điệu bộ buồn rầu, viên sĩ quan cầm cây phất trần xua muỗi có cán bằng ngà voi, phẩy phẩy trên bộ quân phục thẳng tắp không chút nếp nhăn và khinh bỉ hướng mũi giày bóng loáng về phía chiếc thuyền cũ kỹ hai cột buồm đang được neo chặt vào những cọc gỗ chắn bờ đập mà họ đang đứng ở trên.
- Tôi hết sức xấu hổ. Bảo đảm với anh rằng những khách hàng của thiếu tá Rutledge và công ty này thường quen xài loại sang hơn nhiều.
Mallory cố nhịn cười. Thiếu tá Rutledge thuộc trung đoàn East Kent, với giọng nói đặc biệt của miền Eton và Sandhurst [1] , bộ râu mép tỉa đều từng ly, bộ quân phục bằng vải kaki với những đường cắt tuyệt hảo, sản phẩm của bàn tay thợ may âu phục khéo nhất xứ, không chê vào đâu được. Con người quý phái thế lại di chuyển đến những khung cảnh hoang dại của cái vịnh bé nhỏ lởm chởm đá này. Nhìn vẻ uy nghi bệ vệ của ông, người ta có cảm tưởng chính cảnh vật này đã di chuyển đến chỗ ông.
- Tôi không hiểu. Thật sự, tôi không thể hiểu nổi. Trong vòng tám, chín tháng qua tôi đã cung cấp hàng cho nhiều người: thuyền chèo, xuồng máy, du thuyền, tàu đánh cá, nhưng chưa bao giờ có ai hỏi tôi chiếc tàu cũ nhất, rách nát nhất như chiếc này. Vả lại kiếm được nó đâu phải dễ. Bọn họ đều biết rằng tôi không quen giao loại hàng "dỏm" này.
- Bọn họ nào? Thưa Thiếu tá, Mallory tò mò hỏi.
- Ồ! Những người trên các hòn đảo kia kìa. Rutledge chỉ mơ hồ về phía bắc và phía tây.
- Nhưng các đảo đó đều bị quân Đức chiếm đóng.
- Đảo này rồi cũng thế. Đành phải di chuyển PC (Sở chỉ huy) đến nơi nào đó…
Chợt vẻ mặt của Rutledge sáng lên.
- Này, anh bạn. Tôi biết rõ anh cần thứ gì. Bộ Tự lệnh ở Caire đã chỉ thị cho tôi tìm cho các anh một chiếc tàu nào khả dĩ tránh bị chú ý và bị soi mói. Anh nghĩ thế nào về loại tàu trinh sát nhỏ cực nhanh của Đức, tình trạng máy móc hoàn hảo. Nếu ở Anh quốc, tôi có thể bán nó với giá mười ngàn liu. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ mang tới đây trong vòng ba mươi sáu giờ. Một trong các bạn tôi ở Bodrum sẽ…
- Bodrum? Mallory nói, tận Thổ Nhĩ Kỳ à?
- Đúng đấy. Chúng tôi phải chạy nguồn hàng ở khắp nơi.
- Dù sao cũng cám ơn Thiếu tá. Mallory nói, nhưng chúng tôi lại cần chiếc tàu xấu xí này, và bằng mọi cách chúng tôi cũng không thể đợi lâu hơn nữa.
Rutledge đành chào thua.
- Vậy thì tùy ý anh, nhưng tôi không trách nhiệm đâu nhé. Để tôi cho hai người mang hành lý các anh xuống thuyền.
- Thiếu tá cứ để chúng tôi tự lo lấy, vì đây là loại hàng rất đặc biệt.
- Anh có lý. Người ta đặt biệt hiệu cho tôi là "Rutledge không tò mò" mà. Anh sắp khởi hành chứ?
- Trong nửa giờ nữa, Mallory trả lời sau khi liếc nhìn đồng hồ.
- Mười phút nữa, điểm tâm trứng chiên và uống cà phê đã nhé?
Mallory nở nụ cười toe toét.
- Ồ cám ơn Thiếu tá rất nhiều. Chúng tôi vô cùng sung sướng nhận lời mời này.
Chàng bước chậm chạp đến tận đầu bến cầu, khoan khoái hít thở không khí thơm tho của bình minh trên biển Egée. Vị mặn của biển, hương thơm dịu dàng của cây hoa kim ngân, mùi thơm nồng của cây bạc hà, tất cả thành một hợp chất làm ngây ngất, không sao định nghĩa và không sao quên được. Ở hai bên vịnh là những dốc núi thẳng phủ màu xanh tươi của các loại cây thông, cây hồ đào và cây ô rô lên đến tận các cánh đồng cỏ nơi có cơn gió hiu hiu thổi vẳng lại tiếng chuông lục lạc xa xa, du dương của đàn dê, thứ âm nhạc gợi nhớ quê hương, biểu tượng của hòa bình mà vùng biển Egée không còn được hưởng nữa.
Mallory buồn bã lắc đầu và bước vội tới đầu đập ở đó có các bạn đồng hành của chàng. Như thường lệ, Miller đang nằm dài ra, mũ kéo sụp xuống mi mắt để tránh ánh nắng mặt trời đang lên.
- Rất tiếc phải quấy rầy các anh, nhưng trong nửa giờ nữa chúng ta sẽ đi, trong mười phút nữa, điểm tâm. Nào tất cả đứng dậy chuẩn bị mang đồ đạc xuống thuyền. Còn anh, Trung sĩ Brown! Anh nên ghé mắt xem qua máy móc một chút.
Brown đứng dậy và nhìn với vẻ không hứng thú chiếc thuyền bị tróc sơn như con cá bị cạo vảy.
- Đại úy nói đúng, những lỡ ra mà máy móc cũng bầy nhầy như cái cái xác này thì…
Anh ta bi quan cúi đầu và nhanh nhẹn nhảy từ đập xuống tàu.
Mallory và Andrea cũng bước theo và họ đưa tay đón lấy đồ đạc do hai người khác trao xuống. Trước hết họ chất lên thuyền môt cái bao đầy quần áo cũ, rồi thực phẩm, một cái nồi "nấu hỏa tốc", chất đốt, những đôi giầy ủng nặng, những cuốc chim, búa, rìu và những cuộn dây thừng lõi bằng sợi kim loại để leo núi. Kế đó, họ cẩn thận đưa xuống máy vô tuyến vừa thu vừa phát, máy phát điện loại cổ điển có tay quay. Rồi đến vũ khí tự động: hai khẩu Schmeisser, hai khẩu Bren, một khẩu Mauser và một súng Colt [2] . Tiếp theo là một cái két chứa đủ thứ kỳ lạ nhưng đã được chọn lọc kỹ càng, đó là nhưng cây đèn bấm, gương soi mặt, hai loại giấy chứng minh và điều khó tin là có cả những chai rượu vang Moselle [3] .
Cuối cùng, bằng những biện pháp hết sức thận trọng, họ sắp xếp ở phía mũi thuyền hai rương gỗ, một màu xanh lá, kích thước trung bình, bao quanh bằng sợi dây đồng, một nhỏ hơn màu đen. Hòm thứ nhất đựng thuốc nổ TNT [4] , những que nhỏ làm cốt mìn, với những quả lựu đạn, đồ mồi lửa bằng bông nhồi thuốc súng, những ống vải. Trong góc rương còn có một bao bột sa thạch, một bao thủy tinh tán nhỏ và một lọ đựng potasse. Cả ba loại này được bồi thêm vào trong trường hợp Miller có dịp trổ tài gây nổ của mình. Cái hòm đen chỉ đựng những bộ phận nổ bằng điện và fulminate mỏng manh đến nỗi chỉ cần bật ra ngoài không khí và một vật nhẹ như lông gà đụng lên nó là bùng nổ ngay.
Mọi thứ được sắp đặt xong, ngay lúc đó cái đầu của Casey Brown xuất hiện ngay cửa hầm máy. Anh ta thong thả quan sát cột buồm chính ở phía trên đỉnh đầu rồi quay về phía trước nhìn cột buồm đằng mũi. Nét mặt hoàn toàn không lộ vẻ gì, anh hỏi Mallory:
- Thưa Đại úy, chúng ta có buồm cho cái cột này không?
- Tôi nghĩ là có. Tại sao thế?
- Bởi vì Thượng đế biết chúng ta sẽ cần dùng đến. Đại úy bảo tôi nhìn qua phòng máy. Không phải là một phòng máy. Đó chỉ là một kho sắt vụn hôi hám. Một mảnh sắt hoen rỉ nhất được gắn vào trục mô tơ. Và Đại úy có biết mô tơ thế nào không? Đó là loại động cơ hiệu Kelvin chế tạo cách đây khoảng ba mươi năm.
Brown lắc đầu tuyệt vọng nói tiếp:
- Động cơ đã bị rớt thành mảnh vụn cách đây nhiều năm. Tôi thấy sàn đầy dẫy những mảnh kim loại và những bộ phận rời. Tôi đã thấy ở gần Gallowgate những kho sắt vụn khác nhưng không có nơi nào cân tệ như ở đây.
Mallory dịu dàng nói:
- Thiếu tá Rutledge đã xác nhận mới hôm qua đây ông còn chạy chiếc này được mà. Thôi bây giờ hãy đi ăn điểm tâm. Nhớ nhắc tôi rằng chúng ta còn phải lượm vài viên đá nặng khi trở lại.
- Những viên đá! Miller kinh hãi thốt lên. Để mang lên thuyền à?
Mallory mỉm cười gật đầu.
- Những chiếc thuyền chết bầm này đang có nguy cơ bị đắm. Miller phản đối. Tại sao lại mang đá theo để làm gì?
- Cứ đợi và các anh sẽ thấy.
° ° °
Ba tiếng đồng hồ sau, Miller thấy điều đó. Chiếc thuyền vẫn đều đều tiến về phía bắc trên mặt biển êm gió, xa khỏi bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ gần một dặm trong khi Miller buồn bã cuốn chặt bộ quân phục màu xanh thành cái bùi nhùi và tiếc rẻ ném nó qua khỏi mạn thuyền. Được kéo nặng bởi hòn đá lớn, nó biến mất khỏi mặt nước trong một giây. Miller nhìn ngắm mình trong tấm gương treo trên vách buồng lái. Ngoài cái thắt lưng tím và cái áo lót ngắn màu khá nhu mì, anh chàng hoàn toàn mặc màu đen. Đôi giầy bốt cột dây đen, cái quần đen rộng thùng thình, một cái áo sơ mi và áo vét đen, mái tóc hoe vàng cũng nhuộm đen. Anh ta rùng mình ngoảnh mặt khỏi gương vừa nói:
- Nhờ ơn Chúa, gia đình tôi không thấy tôi như thế này!
Và khi nhìn những người bạn đồng hành cùng ăn mặc giống mình bằng những mảnh vải biến chế. Miller nhún vai:
- Dù sao trông tôi còn bảnh trai hơn họ. Nhưng tại sao chúng ta lại thay đổi trang phục thế này, thưa Đại úy?
- Người ta đã cho tôi biết rằng trước đây anh ta từng khuấy phá hậu phương quân Đức, khi thì giả dạng là nông dân, khi thì cải trang thành người thợ. Bây giờ anh được biết người dân thành phố Navarone ăn mặc như thế nào.
- Nhưng tôi thắc mắc tại sao lại thay đồ hai lần: một lần trên máy bay và một lần ở đây?
- Người ta đã thấy chúng ta ở Alexandrie trong bộ quân phục kaki của Lục quân và màu trắng của Hải quân. Ở Castelrosso, chúng ta lại mặc đồng phục màu xanh. Chắc chắn thế nào cũng có gián điệp ở Alexandrie, ở Castelrosso hay ở hòn đảo mà thiếu tá Rutledge. Chúng ta phải tránh một nguy cơ bằng cách đánh lạc hướng bọn tò mò.
Miller cúi đầu và nhìn cái bao đặt trên sàn với vẻ băn khoăn. Chàng ta rút ra một trong những bộ đồ dài màu trắng và hỏi bóng gió:
- Thế còn loại quần áo này chắc để chúng ta cải trang thành những bóng ma để đi qua nghĩa địa thành phố?
- Cũng để ngụy trang đây, Mallory trả lời cộc lốc, ở Navarone, có những núi khá cao phủ đầy tuyết, nếu mặc đồ trắng khi đi qua thì khó bị nhìn thấy hơn.
Kinh ngạc, Miller không nói gì nữa và đi ra nằm dài trên boong, mắt nhắm lại.
Mallory nói với Andrea:
- Đó là người biết tận dụng ánh nắng mặt trời trước khi đối đầu với vùng núi tuyết hoang vu. Ý kiến hay đấy. Có lẽ các anh cũng nên ngủ. Để tôi trực gác trong trong hai tiếng.
Chiếc thuyền tiếp tục di chuyển suốt năm giờ song song với bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, hơi lạng qua hướng tây bắc và ít khi ra khỏi bờ hai dặm. Dưới ánh nắng dìu dịu của mặt trời tháng mười một, Mallory cảm thấy bớt căng thẳng và ấm áp. Chàng ngồi ở góc mũi thuyền và không ngừng dò xét bầu trời và đường chân trời. Ở giữa thuyền, Andrea và Miller đang ngủ. Casey Brown thì chẳng bao giờ chịu rời khỏi phòng máy. Rất hiếm khi thấy anh ta leo lên boong để thở một chút không khí trong lành, nhưng càng lúc anh ta càng bị thu hút bởi cái mô-tơ hiệu Kelvin già nua, khi thì vô dầu nhớt, luôn chỉnh nút gió. Tuy là thợ cơ khí siêu hạng nhưng cái mô-tơ này làm anh ta khốn khổ, và rồi anh ta lại bị nhức đầu vì phòng máy quá hẹp không chút thoáng khí.
Chỉ có buồng lái là vị trí khá tốt trong chiếc thuyền nhỏ này, nơi đó hải quân trung úy Stevens quan sát bờ biển Thổ đang chậm chạp trôi qua trước mắt chàng. Cũng giống như đôi mắt của Mallory, tia nhìn của chàng luôn chuyển động nhưng không có hệ thống như cách nhìn của xếp. Chàng nhìn bờ biển rồi lại nhìn bản đồ rồi lại đối chiếu với những hòn đảo hiện ra ra phía trước mạn thuyền, bàn tay không rời khỏi cái compas. Có lúc chàng liếc nhìn trời hoặc liếc nhanh mắt về hướng chân trời. Nhưng có một cái mà mắt chàng luôn tránh, đó là tấm kiếng mẻ, lấm tấm phân ruồi, được treo trong buồng lái.
Hai tay của chàng mỏi nhừ. Đã hai lần chàng đu lên xà ngang, nhưng vẫn thấy đau. Miệng vẫn khô đắng dù chàng đã nuốt nước miếng và thỉnh thoảng tu bình nước ấm đặt bên cạnh. Thêm vào đó chứng đau dạ dày cứ quặn thắt từng cơn hoặc thỉnh thoảng ống chân phải cứ tê giật liên hồi.
Hải quân trung úy Stevens sợ hãi. Chàng chưa bao giờ tham dự một điệp vụ loại này. Nhưng đó chưa phải lý do. Chàng đã biết sợ suốt cuộc đời. Ngay từ lúc mới chập choạng vào lớp một, cha của chàng, ngài hầu tước Cedric Stevens, nhà thám hiểm và leo núi nổi tiếng nhất thời đại ấy, đã ném cậu bé Stevens xuống một hồ tắm, và tuyên bố rằng đó là cách tốt nhất để học bơi lội. Chàng còn nhớ lúc ấy trong nỗi kinh hoàng tột độ, chàng cố ngoi ngóp vào bờ, mũi và miệng sặc nước, bao tử thóp lại đau đớn trong khi cha chàng và hai người anh trai lớn, vạm vỡ và cao lớn vừa cười chảy nước mắt vừa đẩy chàng xuống nước trở lại.
Trong suốt thời kỳ là học sinh trung học, biết bao lần chàng phải khốn đốn với cách giáo dục ngông cuồng của cha anh. Họ là những người khỏe mạnh, tràn đầy sức sống, sùng bái môn điền kinh, nhưng họ không chịu hiểu rằng đã chắc gì thích thú khi phóng từ trên cao năm mét xuống nước, phóng ngựa qua khỏi cái rào cao, leo lên những vách núi thẳng đứng hoặc bơi một chiếc thuyền buồm giữa cơn bão tố. Tất cả những điều đó, chàng bị bó buộc phải thực hiện và rốt cuộc chỉ làm chàng căm thù những môn thể thao bạo tàn này. Cha và các anh chàng không phải là người độc ác hay ghét bỏ gì chàng, nhưng họ chỉ đơn giản là người không có học. Ngoài sự sợ hãi của thể xác, lại thêm vào sự sợ hãi không hoàn thành những bài tập điền kinh trên và trở thành trò cười cho mọi người. Chính vì muốn thắng hai cái sợ đó mà vào những năm mười bảy và hai mươi tuổi, chàng đã quyết chí miệt mài học leo núi. Cuối cùng chàng trở nên vận động viên leo núi nổi tiếng, thu phục được sự nể nang của cha anh và họ không dám chê cười chàng nữa. Tuy nhiên cái tiềm thức sợ hãi vẫn tồn tại nơi chàng và thỉnh thoảng lại tái phát mạnh mẽ dù chàng đã cố che giấu.
Màu xanh ký diệu của biển Egée, bóng lờ mờ của những trái núi miền Anatolie [5] ở đường chân trời, sự hỗn hợp màu sắc xanh, tím và màu chàm của những hòn đảo chan hòa ánh nắng, tất cả đang uể oải diễu hành trước mắt chàng. Cơn gió nhẹ đông nam thơm tho bắt đầu làm mặt nước màu ngũ sắc gợn sóng, vẻ hiền hòa của boong tàu, tiếng phình phịch của động cơ Kelvin…, tất cả hợp thành cái gì đó bình an, nồng ấm, mãn nguyện, lững lờ và hình như người ta có cảm giác không có gì phải sợ hãi khi mà chiến tranh có vẻ xa vời trong buổi chiều hôm nay.
Tuy nhiên, có lẽ chiến tranh không xa thế đâu… Nó khiến ký ức họ phải luôn nhớ đến. Đã hai lần, một chiếc thủy phi cơ của Đức tò mò lượn qua lượn lại trên đầu họ, và một chiếc Savola với chiếc Fiat trong đoàn bay cũng đã xuống sát ném cái nhìn trên chiếc thuyền cũ kỹ, sau đó chúng lại bay lên với vẻ hài lòng. Đó là những kiểu phi cơ của Ý xuất phát từ căn cứ của Rhodes và chắc chắn là do các phi công Đức lái.
Buổi sáng nay, họ đã đi ngang cách nửa dặm, một chiếc tàu lớn mang lá cờ Đức, súng đại liên tua tủa, có cả một khẩu đại bác đằng mũi. Rồi đầu trưa nay, một chiếc trinh sát hạm cực nhanh của Đức gầm rú vang trời khi chạy sát qua, tạo nên những làn sóng lớn làm chiếc thuyền nhỏ lắc lư. Tuy nhiên không ai có hành động ngăn cản họ. Lẽ dĩ nhiên, cả người Anh lẫn người Đức không ngần ngại gì mà không xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng giữa hai bên hình như có một thỏa thuận "tử tế ngầm" khi lưu thông trên vùng biển của một nước trung lập. Cả hai đều ra vẻ ta là con người lịch sự hoàn hảo, lạnh lùng không thèm đếm xỉa gì đế nhau.
Nhưng những hội ngộ tuy vô hại với tàu chiến và máy bay Đức vừa qua vẫn nhắc nhở một điều là không hề có hòa bình. Kim đồng hồ của Mallory càng lúc càng quay, họ càng nhích dần tới gần bức tường đá khổng lồ mà họ sẽ phải leo lên không đầy tám giờ nữa. Bây giờ, thẳng trước mắt họ và cách chừng năm mươi dặm, người ta có thể thấy khối núi lởm chởm của thành Navarone nổi bật trên chân trời phản chiếu như gương, đang giương những đỉnh nhọn âm u và đe dọa lên bầu trời nhuộm màu lam ngọc.
Lúc hai giờ rưỡi trưa máy thuyền chợt tắt không báo trước, không húng hắng ho, không khạc nhổ. Bầu không khí im lặng bao trùm nặng trĩu, không mong đợi.
Mallory là người đầu tiên chạy tới cửa buồng máy.
- Gì thế, Brown? Chàng hỏi bằng giọng lo sợ. Chết máy à?
- Không hoàn toàn đúng vậy, Brown trả lời, đang loay hoay cúi xuống mô-tơ. Tôi vừa tắt nó đấy.
Anh ta rời máy, nhô mình lên khỏi cửa buồng, ngồi trên boong, hai chân đu đưa, mặt xanh mét, bắt đầu hà hít luồng khí mát.
- Anh có vẻ vừa trải qua một cơn kinh hoàng nhất trong đời, Mallory nói.
- Không phải thế đâu, Brown bào chữa. Suốt từ hai đến ba tiếng, tôi bị ngấm ngầm đầu độc trong cái lỗ bẩn thỉu này. Chỉ bây giờ tôi mới nhận ra.
Anh ta đưa tay ôm trán và rên rỉ.
- Tôi có cảm tưởng sắp vỡ sọ.
- Máy bị xì hơi à?
- Phải, nhưng hơn thế nữa. Đại úy có thấy cái ống dọc đang đội cái khối sắt lớn tròn phía trên mô-tơ không. Nó mỏng manh như tờ giấy. Lẽ ra nó bị xì từ nhiều giờ qua. Mới cách đây một phút, nó mới bị thủng một lỗ kim. Thế là khói và những ngọn lửa dài đến mười hai phân thoát ra ngoài. Tôi bắt buộc phải tắt ngay cái máy khốn kiếp này.
Mallory khẽ gật đầu ngụ ý hiểu. Chàng hỏi:
- Anh có thể sửa chữa được ngay không?
- Tuyệt đối không thể được, thưa Đại úy. Phải hàn lại thôi. Tôi tìm được vật thay thế trong đống sắt vụn, nhưng rỉ sét kinh khủng và hầu như cũng tàn tạ gần bằng bộ phận cũ… Để tôi thử xem.
- Để tôi giúp anh ấy một tay, Miller đề nghị.
- Cám ơn, hạ sĩ. Này Brown, theo anh thì phải mất bao lâu?
- Chỉ có Chúa mới biết. Hai giờ hoặc có lẽ bốn giờ. Phần lớn các con ốc và bù lon đều bị bám chặt một lớp sét, cần phải cắt hoặc cưa hoặc tìm vật thay thế.
Mallory không nói gì hết. Chàng đi xa khỏi phòng máy bằng bước chân nặng nề buồn bã, đụng đầu với Stevens vừa bước ra ngoài buồng lái và đang nghiêng mình trên hòm đựng buồm. Stevens đưa cặp mắt dò hỏi nhìn Mallory.
- Phải, anh hãy lấy buồm ra và giương lên, Brown đã nói phải mất khoảng bốn tiếng. Andrea và tôi sẽ làm hết sức mình để phụ anh.
Hai giờ sau, máy vẫn không nổ. Họ đã rời khỏi vùng biển Thổ và đang hướng về một hòn đảo lớn cách khoảng tám dặm ở phía tây tây-bắc. Bây giờ một làn gió nồng thổi qua. Phía đông, bầu trời tối sầm, báo hiệu một cơn giông đang chuẩn bị nổ ra. Với một cái buồm tam giác lớn ở đằng mũi và một lá buồm hình thang, họ không thể tiến về phía đông. Vì thế, Mallory quyết định hướng về đảo, dù sao cũng có ít cơ hội bị quan sát hơn là lênh đênh giữa biển. Chàng lo lắng khi nhìn đồng hồ, khi nhìn bờ biển an toàn Thổ Nhĩ Kỳ xa dần. Bất thình lình, chàng đờ đẫn cả người và trố mắt nhìn về phía đông.
- Andrea! Anh có thấy không…?
- Tôi thấy, thưa Đại úy. Cách ba dặm một tàu tuần tiễu đang đâm thẳng về phía chúng ta.
- Phải, thẳng về phía chúng ta. Hãy cho Miller và Brown biết. Kêu họ lên đây!
Khi mọi người đã tụ tập xong. Mallory nói:
- Chúng ta sắp bị chận lại và lục soát. Nếu tôi không lầm, đó là chiếc tàu lớn đã vượt qua chúng ta sáng nay. Có lẽ chúng đã được điểm chỉ và đang hết sức nghi ngờ chúng ta. Nên nhớ rằng chúng không đút tay vào túi quần mà do xét chúng ta đâu, bọn chúng đều "vũ trang tận răng". Không thể có biện pháp lưng chừng. Một là chúng đắm hai là chúng ta. Chúng ta không thể sống sót một khi những vật liệu trên thuyền này bị phát hiện và, nói đến đây giọng chàng dịu xuống, dù sao chúng ta cũng không thể vất những thứ đó xuống nước được.
Chàng nhanh chóng đề ra kế hoạch. Nghiêng mình ra khỏi cửa sổ buồng lái, Stevens cảm thấy cơn đau dạ dày cũ tái phát và máu như dồn hết lên tim. Anh ta mừng thầm nhờ vách buồm che khuất nửa thân dưới, không ai thấy chân phải của anh bắt đầu co rút. Giọng anh ta cũng lạc hẳn.
- Nhưng, thưa Đại úy…
- Có gì thế, Stevens? Mallory hỏi, tuy đang vội vã, nhưng vẫn tinh ý nhận ra vẻ xanh mét đau đớn trên khuôn mặt chàng trai trẻ.
- Đại úy không thể làm như vậy được! Đó là tàn sát, là… giết người!
- Im đi, chú bé! Miller càu nhàu.
- Đủ rồi, hạ sĩ! Mallory khô khan ra lệnh.
Kế đó, chàng nhìn Stevens bằng con mắt lạnh lùng:
- Này Trung úy, trong chiến tranh này, muốn thắng, chúng ta phải đặt kẻ thù vào vị trí bất lợi và không nên tạo thế cân bằng giữa ta và họ. Ta giết kẻ thù, nếu không, chúng giết ta. Chúng ta đánh chìm tàu họ, hoặc chúng ta bị chìm. Và không riêng gì chúng ta, mà cả một ngàn hai trăm người ở Khéros. Chỉ đơn giản có thế, Trung úy. Đây không phải là vấn đề lương tâm.
Trong nhiều giây, Stevens im lặng nhìn Mallory. Ngay lúc ấy, anh ta căm ghét người chỉ huy đến nỗi có thể giết chết ông ta. Chợt Stevens ý thức rằng anh ta ghét chỉ vì lý lẽ xác đáng không thể bác bỏ được của vị chỉ huy. Mallory, thần tượng của giới vận động viên trẻ leo núi người Anh thời tiền chiến, Mallory với những chiến công hiển hách đã là những tít lớn trên các tờ báo của thế giới vào những năm 1938 và 1939, Mallory nếu không gặp vận đen, đã bắt sống được Rommel [6] ngay tại Tổng hành dinh của hắn ở sa mạc, Mallory, người đã ba lần từ chối được thăng cấp tá để ở lại với đồng đội thân yêu ở đảo Crète.
Những ý kiến ấy xuyên lẫn lộn qua đầu óc Stevens. Anh ta ngước mắt nhìn khuôn mặt sạm nắng hốc hác của vị chỉ huy, lông mày rậm đen như hai vạch ngang trên cặp mắt nâu, có quầng thâm, khi lạnh lùng khi chứa chan tình cảm, và bất chợt anh cảm thấy hổ thẹn.
- Tôi xin lỗi Đại úy, Stevens nói. Tôi sẽ không làm Đại úy thất vọng.
- Tôi luôn tin tưởng nơi anh, Mallory mỉm cười trả lời.
Đoạn chàng quay qua Miller và Brown:
- Hãy chuẩn bị mọi thứ cần thiết, nhưng đừng vội vã và phải kín đáo. Bọn Đức có lẽ đang quan sát chúng ta qua ống nhòm.
Chàng quay lưng đi ra đằng mũi, Andrea theo sau chàng vừa nói:
- Đại úy hơi quá cứng rắn đối với chàng trai trẻ.
- Tôi biết. Mallory trả lời. Tôi bó buộc phải làm thế.
- Đúng vậy, Andrea chậm rãi nói… Đại úy có tin rằng họ sẽ sử dụng cả đại bác để chận chúng ta lại không?
- Có lẽ, họ không quay trở lại phía chúng ta nếu không nghi ngờ chúng ta đang trù tính điều gì mờ ám. Đã đến lúc phải sẵn sàng đối phó. Nên nhớ phải chờ hiệu lệnh của tôi đã. Các anh sẽ nghe thấy dễ dàng.
Những đợt sóng biển màu đục như kem vỗ vào mũi tàu chiến của Đức trong khi tiếng rú của động cơ diesel hùng mạnh chợt tắt, chỉ còn lại tiếng gầm gừ nho nhỏ. Bọn Đức cho tàu cập dọc bên hông chiếc thuyền nhỏ cách chừng hai mét. Ngồi trên thùng dùng để chứa cá, tay cầm kim khâu nút vào chiếc áo vét cũ đặt giữa hai chân. Mallory có thể thấy rõ sáu người mặc quân phục hải quân Đức. Một người đang ngồi sau ổ đại liên Spandau trụ trên cái kiềng ba chân, ngay đuôi khẩu đại bác. Ba người khác đứng giữa khoang, tay ai cũng lăm lăm khẩu tiểu liên. Thuyền trưởng là một viên hải quân Trung úy trẻ măng, mặt cứng rắn và lạnh như tiền, trên cổ áo gắn chữ Thập sắt, đang nhìn qua cánh cửa mở của phòng lái, và cuối cùng một cái đầu tò mò ló lên khỏi hầm máy. Từ chỗ ngồi, Mallory không thể thấy đằng sau tàu địch che khuất bởi tấm buồm luôn luôn căng phồng, nhưng nếu như vùng sát hại của khẩu Spandau chỉ mới được một nửa tàu, chàng đoán rằng phải còn ít ra một khẩu liên thanh ở phía sau nữa.
Viên hải quân trung úy trẻ tuổi, một sản phẩm chính hiệu của chế độ Hitler, nghiêng mình ra khỏi phòng lái, bắc tay lên miệng làm loa, hô lớn!
- Hạ buồm xuống!
Mallory chợt rùng mình, cứng người lại đến nỗi đâm cả kim vào lòng bàn tay mà không biết. Viên sĩ quan nói bằng tiếng Anh! Stevens quá trẻ, còn non nớt, thế nào cũng bị sa bẫy, chàng nghĩ thế.
Nhưng Stevens không bị mắc lừa. Anh ta mở cửa bước ra, đặt tay lên tai, mắt ngước nhìn trời, miệng há hốc, vẻ ngốc nghếch. Anh chàng bắt chước điệu bộ của người không hiểu gì hết, bắt chước khéo đến nỗi Mallory cảm động muốn ôm hôn lấy anh. Tóc của Stevens cũng nhuộm màu đen như tóc của Miller. Trong bộ đồ màu sậm, anh ta chẳng khác gì người ngư dân ở đảo, chậm chạm và đa nghi.
- Hả? Stevens la lên.
- Hạ buồm xuống! Chúng tôi sẽ lên khám thuyền các anh! Viên chỉ huy người Đức hét lớn, vẫn bằng tiếng Anh.
Stevens nhìn hắn với vẻ đần độn, đoạn quay nhìn Andrea và Mallory, hai người này cũng trơ bộ mặt ngớ ngẩn không hiểu gì hết. Anh ta nhún vai thất vọng:
- Tôi không hiểu tiếng Đức. Các ông không biết nói tiếng của chúng tôi sao?
Tiếng Hy Lạp phát âm rất đúng của Stevens là giọng người thủ đô Athenes chứ không phải là giọng địa phương của dân ở đảo, nhưng Mallory đoán chắc rằng tên sĩ quan Đức không thể phân biệt được. Thật thế, hắn không nhận ra điều đó, lắc đầu với vẻ điên tiết và nói bằng tiếng Hy Lạp ngập ngừng:
- Hãy dừng tàu lại ngay. Chúng tao lên khám xét.
- Dừng tàu tôi lại à? Stevens la lên giọng bất mãn tự nhiên, theo sau là một tràng tiếng chửi giận dữ khiến tên Đức cũng chưng hửng trong giây lát. "Tại sao tao lại dừng tàu vì tụi bây, đồ…"
- Tụi bay chỉ có mười giây, tên sĩ quan cắt ngang sau khi đã lấy lại tự chủ. Nếu không, chúng tao bắn.
Stevens phác họa một cử chỉ ra vẻ nhường nhịn, đoạn buồn bã nói với Mallory và Andrea.
- Những người thắng trận của chúng ta ra lệnh dừng tàu lại.
Họ nhanh nhẹn tháo dây thừng quấn dưới chân cột buồm, Mallory kéo buồm hình tam giác ở mũi xuống, đưa hai cánh tay chụp lấy và ngồi chồm hổm vẻ càu nhàu gần thùng cá, nhưng thừa hiểu rằng đang bị theo dõi bởi mười hai con mắt thù nghịch. Tấm buồm phủ trên hai đầu gối, và trên hai cánh tay đang cầm chiếc áo vét cũ. Chàng cúi đầu xuống ra vẻ người bị áp bức. Lá buồm hình thang cũng nặng nề rơi xuống đột ngột. Andrea dẫm lên nó, bước loạng choạng về phía sau đoạn dừng lại, bàn tay buông thõng hai bên hông.
Động cơ Diesel lại nổ giật, chợt rú mạnh lên trong khi chiếc tàu của Đức nhích tới cập sát và cọ sát vào chiếc nhỏ. Ba người lính Đức trang bị tiểu liên Schmeisser nhanh nhẹn nhảy qua tàu nhỏ, nhưng khôn khéo tránh khỏi dường bắn của hai khẩu đại liên của đồng bọn. Bây giờ Mallory mới thấy rõ khẩu đại liên ở đuôi thuyền. Một tên trong bọn chạy ngay tới phía trước và khi ngang tầm cột buồm chính, hắn quay lại giương súng uy hiếp cả nhóm, chỉ còn trừ Mallory hắn đang tin tưởng vào khẩu đại liên ở mũi tàu Đức. Mallory thầm phục sự chính xác, sự phối hợp hành động nhịp nhàng trở thành một tập quán của toán lính tuần tra.
Chàng ngẩng đầu lên, nhìn chung quanh, với điệu bộ thờ ơ của người dân quê. Casey Brown ngồi chồm hổm trên boong ngay cửa hầm máy đang gọt giũa ống hãm thanh để lắp vào mô tơ. Cách hai bước gần mũi thuyền là Dusty Miller đang chau mày chăm chú cắt cái hộp sắt, có lẽ để phụ giúp Brown sửa máy. Anh ta cầm kềm cắt sắt ở bàn tay trái nhưng Mallory biết rõ anh thuận tay phải. Cả Stevens lẫn Andrea đều không nhúc nhích. Luôn đứng bên cạnh cột buồm chính, tên lính Đức không hề chớp mắt, hai tên kia từ từ tiến về đuôi thuyền, đi ngang qua Andrea. Thái độ của chúng bớt căng thẳng, tỏ ra người làm chủ hoàn toàn tình thế, không tin rằng có bất trắc nào xảy ra.
Một cách tỉ mỉ, lạnh lùng, chính xác, khẩu Bren của Mallory dấu dưới áo vét và đống vải buồm, khạc ngay một viên vào đúng tim của tên xạ thủ đại liên bên kia. Chàng quay khẩu trung liên đang nổ quét vào ngực tên lính đứng gần cột buồm, khiến hắn gục chết ngay. Nhưng trước khi người hắn ngã xuống boong, bốn sự việc xảy ra một lúc. Casey Brown chụp khẩu súng dấu bên cạnh bắn hạ tên xạ thủ đại liên ở đuôi thuyền khiến hắn gục ngay trên kiềng ba chân của ổ súng ngón tay còn chạm trên chân cò. Miller thảy cái hộp sắt qua hầm máy của tàu địch, Stevens ném quả lựu đạn rơi trúng buồng lái đối phương, còn Andrea bằng hai cánh tay dài rắn chắc, nhanh và chính xác như rắn mổ, cụng đầu hai tên lính Đức vũ trang tiểu liên Schmeisser vào nhau bằng sức mạnh chết người.
Trong khoảnh khắc, cả năm người nằm rạp trên boong trong khi chiếc tàu Đức nổ tung, lửa, khói và mảnh vụn tung tóe.
Mallory nhổm dậy, chậm chạp khó nhọc, choáng váng bởi sức nổ kinh hồn vừa qua. Phản ứng của chàng là ngạc nhiên về sự hiệu quả không ngờ của khối chất nổ.
Chiếc tàu Đức đang chìm xuống và chìm thật nhanh. Quả bom do Miller chế chắc đã làm tung cả phòng máy, Mallory chỉ sợ những cột khói đen dâng cao thu hút sự chú ý của máy bay địch. Nhưng chỉ trong chốc lát, tất cả biến mất dưới mặt biển. Chợt chàng nghe tiếng nôn mửa phát ra từ buồng lái. Chàng hiểu rằng Stevens không chịu nổi cảnh tượng hãi hùng này.
Mallory quay về phía đồng đội. Brown và Miller đã đứng lên, hai mắt như bị nam châm hút trên mặt nước nơi chiếc tàu vừa đắm. Stevens đứng dựa cửa buồng lái. Anh ta không bị thương nhưng mặt xanh như tàu lá chuối, trước cái chết khủng khiếp của viên thuyền trưởng trẻ tuổi Đức, do chính quả lựu đạn của anh ném. Andrea bị một vết thương trên má, lặng lẽ nhìn hai tên lính Đức nằm dưới chân.
- Chết? Mallory khẽ hỏi.
- Phải, Andrea trả lời bằng giọng trầm trầm. Tôi đã quá mạnh tay.
- Có ai khác bị thương không. Mallory hỏi, giọng phấn khởi trở lại. Không ai cả? Hoan hô! Chúng ta chuẩn bị tiếp tục hành trình ngay. Phải đi xa khỏi đây càng sớm càng tốt. Gần bốn giờ chiều rồi. Đã đến giờ phải liên lạc bằng vô tuyến với Le Caire. Này Brown, hãy rời khỏi kho sắt phế thải của anh vài phút và thử xem có bắt được tín hiệu của họ không.
Chàng nhìn trời ngả sang màu tím xanh đe dọa cơn mưa lớn và nói tiếp:
- Có thể sẽ nghe được cả dự báo thời tiết.
Những đám mây đen hiện giờ phủ một nửa bầu trời khiến liên lạc với Le Caire thêm khó khăn, tuy nhiên họ cũng nắm bắt được một số tin tức đáng băn khoăn. Người ta báo cho họ biết cuộc tấn công của quân Đức vào Khéros sẽ sớm hơn một ngày tức diễn ra lúc tờ mờ sáng thứ sáu thay vì thứ bảy. Như vậy họ chỉ còn hơn ba ngày để hành động.
Mallory chỉ thị:
- Hãy cho họ biết chúng ta đã nhận được tin "X trừ một".
Sau đó là giọng nói vô tư của xướng ngôn viên báo cáo cho biết buổi tối có nhiều cơn giông và mưa rào, nhiệt độ xuống thấp, tầm nhìn xa trung bình, gió thổi từ đông sang nam, sức gió cấp tám, nhưng yếu dần vào sáng sớm hôm sau.
Mallory thốt lên:
- Thật là rắc rối! Chỉ còn hơn ba ngày mà mô tơ thì hỏng, cơn bão dữ dội sắp ập đến.
Chàng chợt nghĩ đến cơn thịnh nộ đúng lý của viên thiếu tá không quân Bill Torrance sau phi vụ đột kích Navarone, khi thấy trên trời, ngay trên đỉnh đầu họ, những đám mây đen đáng sợ đang tụ tập lại.
- Có lẽ muốn gay go đấy, một giọng mũi vang lên sau lưng chàng.
- Phải, tôi cũng nghĩ thế, Mallory nói.
- Họ đã nói "sức gió cấp tám", có nghĩa gì vậy thưa Đại úy?
- Đó là sự đo lường sức gió, Mallory trả lời. Với một chiếc tàu cỡ này và nếu anh mệt mỏi, anh không bao giờ vượt qua nổi gió cấp tám.
- Lẽ ra tôi phải nghi ngờ trước chuyện này, Miller nói. Tôi đã thề không bao giờ mạo hiểm trên vùng biển quỷ quái này mà!
Anh ta đưa ngón tay cái chỉ về hướng một hòn đảo cách xa khoảng dưới ba dặm.
- Trông nó có vẻ không quyến rũ chút nào.
Ở đây thì tưởng thế, Mallory nói. Nhưng dựa trên bản đồ thì ở đó có một cái vịnh nhỏ để tránh gió và sóng.
- Chắc có người ở?
- Có thể.
- Bọn Đức?
- Có thể.
Miller thất vọng lắc đầu và bước xuống giúp Brown. Bốn mươi phút sau, trong bóng tối lờ mờ của buổi hoàng hôn và dưới cơn mưa ập xuống như thác lũ trên đầu, chiếc thuyền nhỏ thả neo ở cái vịnh nhỏ hai bên là rừng thẳm ướt đẫm, vẻ lạnh lùng thù nghịch.
--------------------------------
| 1 | Rhodes: tên một hòn đảo của Hy Lạp trong vùng biên Egée. |
| 2 | Eton và Sandhurst: Tên hai thành phố của nước Anh. |
| 3 | Tên các loại súng tiểu liên và súng lục. |
| 4 | Moselle: tên một loại rượu nho của Pháp. |
| 5 | TNT: viết tắt của chữ Trinitrotoluene: loại chất nổ rất mạnh. |
| 6 | Anatolie (tiếng Hy lạp) có nghĩa là “mặt trời mọc” tên gọi miền Tiểu Á ở phía tây châu Á và phía nam biển Đen. |
❀ ❀ ❀
[1] 1
[2] 2
[3] 3
[4] 4
[5] 5
[6] 6