Đã gần chục lần, Mallory cố ra khỏi cơn mê. Có lúc chàng hơi hồi tỉnh nhưng rồi lại đắm chìm trong màn tối. Trong những giây phút hồi tỉnh ngắn ngủi, chàng tự nhủ: “Tôi đang mơ, một cơn mơ khủng khiếp. Tôi chỉ cần mở được mắt ra, ác mộng sẽ biến mất, nhưng tôi không thể nào mở mắt được”.
Một lần nữa chàng lại cố nhấc đôi mi nặng trĩu lên nhưng không thành công, chàng vẫn tiếp tục mở, chàng lắc đầu tuyệt vọng, và nghe văng vẳng bên tai một tiếng reo:
- A! Một dấu hiệu còn sống! Một lần nữa viên y sĩ Miller kỳ cựu này lại chiến thắng!
Một khoảng im lặng trong đó nhận thức mỗi lúc mỗi rõ ràng tiếng động cơ máy bay đã giảm và làn khói cay còn nồng nặc trên mắt mũi chàng. Kế đó, một cánh tay choàng qua cổ chàng đồng thời tiếng nói của Miller thì thầm bên tai:
- Đại úy hãy uống một chút rượu này.
Mallory cầm lấy cổ chai mát rượi, ngẩng đầu lên tu một hơi. Nhưng ngay tức thì, chàng ngồi dậy, vừa ho vừa khạc, trong khi rượu Ouzo đặc sản của người Hy Lạp, ngấm dần vào cơ thể. Chàng định mở miệng nói nhưng cố lắm chỉ phát ra được vài âm thanh không rõ. Chàng nhướng mắt nhìn bóng người ngồi bên.
Miller đang ngắm nhìn chàng, vẻ hài lòng.
- Đại úy thấy không? Như tôi đã nói, không có rượu nào sánh bằng. Chỉ vài hớp là tỉnh dậy ngay. Tôi chưa hề thấy bệnh nhân nào bình phục mau như Đại úy.
- Quỉ thần! Anh định làm gì vậy? Mallory hỏi. Đầu độc tôi à? Anh hành nghề y sĩ vậy sao?
- Đại úy cứ lựa chọn đi, Miller cắt lời chàng, hoặc uống thứ rượu này hoặc bị cú sốc khác còn nặng hơn gấp mấy lần trong mười lăm phút nữa khi bọn Đức tới đây.
- Chúng đã đi rồi mà, tôi không còn nghe tiếng máy bay Stuka.
- Nhưng bọn khác từ thành phố đổ bộ xuống. Louki vừa thông báo cho chúng ta biết rằng gần một chục chiếc xe bọc thép và hai xe vận tải chở đầy súng cối đang di chuyển đến đây.
- Tôi hiểu rồi, Mallory nói.
Mallory quay nhìn ra ngoài và thấy một vệt nắng chỗ khúc quanh của vách đá. Thì ra đây là một hang đá hay đúng hơn là một đường hầm. Chàng nhớ lời Louki đã nói rằng “Sân chơi của Quỷ” đầy dẫy những động đá, Mallory mỉm cười vì khi nãy chàng cứ ngỡ mình bị mù mắt.
- Lại thêm rắc rối nữa phải không Miller? Cám ơn anh đã làm cho tôi hồi phục.
- Tôi rất ân hận, Miller nói. Lẽ ra chúng tôi phải cõng Đại úy đến chỗ xa hơn, nhưng hầu như không có ai còn đủ sức. Casey Brown và Panayis cũng đều bị thương.
- Cả hai à? Có nặng không?
- Không nặng lắm đâu, nhưng nếu họ còn phải tiếp tục bò lê trên đoạn đường chông gai của xứ này thì tôi e họ không chịu nổi.
- Anh chưa cho tôi biết vì sao họ bị thương.
- Cả hai đều bị miểng bom, đúng ngay đùi trái, bên trên đầu gối một chút. May mắn là không bị gãy xương hay đứt gân. Tôi vừa mới băng bó cho Brown.
- Còn Panayis?
- Anh ấy tự chữa lấy vết thương của mình, Miller nói. Thật là một người kỳ dị. Anh ta không muốn tôi nhìn thấy chân của anh ta, chứ đừng nói gì đến băng bó. Tôi nghĩ rằng anh ta sẵn sàng đâm chết tôi nếu tôi cứ bướng bỉnh đụng vào vết thương của anh ta.
- Tốt nhất cứ để anh ta làm theo ý riêng, Mallory khuyên. Tâm lý của một số người dân đảo là thế, họ có những điều kỵ, kể cả tin dị đoan. Nhưng dù sao anh ta còn sống là tốt rồi. Có điều tôi không hiểu bằng cách nào Panayis tới đây được, trong khi tôi lại lao vào lửa để kiếm anh ta.
- Sau khi Đại úy ra lệnh, anh ta là người đầu tiên đi cùng với Brown. Có lẽ vì khói bom nên Đại úy không thấy.
- Còn tôi, bằng cách nào tôi đã tới được đây? Mallory hỏi.
- Anh chàng khổng lồ kia một lần nữa lại ra tay cứu người bị nạn, Miller vừa nói vừa đưa ngón tay cái ra chỉ bóng người to lớn đứng gần cửa hang. Tôi định đi theo Andrea, nhưng anh ta không cho, viện lẽ không muốn khi trở về phải cõng theo cả anh và tôi.
- Cám ơn Andrea, Mallory nói.
- Cám ơn! Miller thốt lên bất mãn. Người ta cứu sống Đại úy và Đại úy chỉ biết nói có hai chữ “cám ơn” thôi sao.
- Giữa chúng tôi, những lời lẽ hoa mỹ không cần thiết nữa. À, còn Stevens thế nào?
- Anh ấy vẫn còn thở.
Mallory nhíu mày:
- Anh ta đã qua được cơn nguy kịch rồi chứ?
- Không, trái lại, vết độc đã lan tràn khắp chân. Anh ta sẽ chết trước khi mặt trời lặn. Chỉ có Chúa mới cứu anh ta được.
- Tôi cũng linh cảm thế, Mallory nói khẽ vừa đứng dậy cầm lấy súng. Nào! Chúng ta lại tiếp tục thanh toán nốt công việc còn lại.
- Tôi, tôi chỉ biết có giật sập cầu hoặc phá hỏng máy xe, Miller nói. Chiến thuật và chiến lược vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi. Nhưng tôi mơ hồ có cảm tưởng bọn Đức đang chơi trò tự sát nếu tiếp tục dàn đội hình tiến tới như thế kia.
- Tôi cũng đồng ý kiến với anh, Mallory nói.
Núp sau những tảng đá ở lối ra vào gần thung lũng, chàng nhìn những tên lính Đức đang đi trên sườn núi trơ trụi vì trận bom vừa rồi.
- Tại sao thế Đại úy? Chúng đâu phải dại gì mà mạo hiểm vào chỗ chết thế kia.
- Có lẽ chúng không còn cách nào khác. Louki thật khéo chọn địa điểm này. Với vị trí này bọn Đức chỉ tấn công được chúng ta ở mặt trước, còn mặt sau phải mất một tuần lễ để đi vòng qua các chướng ngại của “Sân chơi của Quỷ” đằng sau chúng ta. Trong hai giờ nữa, mặt trời sẽ lặn và chúng không thể nào chiến thắng chúng ta trong bóng tối được. Tôi nghĩ rằng qua cuộc tẩu thoát của chúng ta khỏi trại giam vừa qua, viên Tư lệnh thành Navarone này thế nào cũng bị thượng cấp khiển trách nặng nề. Đã có quá nhiều điều xảy ra và chúng không thể để xảy ra nguy cơ cho hai khẩu đại bác của chúng, cũng như không cho phép người Anh di tản khỏi Khéros ngay trước mắt chúng.
- Người Đức không muốn mất mặt với người Thổ Nhĩ Kỳ, Mallory tiếp tục cho ý kiến. Sự quan trọng về chiến lược của quần đảo Sporades này, thật ra chẳng có nghĩa lý gì, nhưng rất quan trọng về mặt chính trị, Hitler đang cần có một Đồng minh mới trong khu vực này. Vì thế, hắn ta không ngần ngại tung vào đây hàng ngàn quân thiện chiến và hàng trăm phóng pháo cơ Stuka. Mục đích của Hitler là muốn thuyết phục người Thổ Nhĩ Kỳ bỏ chính sách trung lập của mình để về phe với hắn.
- Hấp dẫn dữ ha! Miller nói. Và cuối cùng thì sao?
- Có gì đâu. Bộ chỉ huy của chúng ở Navarone này không ngần ngại nướng thêm từ ba đến bốn chục quân thiện chiến cốt làm sao tiêu diệt chúng ta… Cứ để bọn chúng tiến tới thêm một trăm mét nữa, Louki và tôi bắn ngay giữa hàng quân. Còn anh và Andrea bắn hai bên cánh.
- Tôi chẳng thích thú gì với trò bắn giết này, Miller nói.
- Thế anh tưởng tôi thích thú lắm sao, Mallory nói. Tôi đâu muốn tàn sát họ, vì họ cũng là người bị bó buộc cầm súng hoàn thành một nhiệm vụ nào đó. Nhưng nếu chúng ta không giết họ, họ sẽ giết chúng ta.
Chàng ngưng nói, chỉ tay về phía biển láng như sa tanh nơi đó, ở chân trời, đảo Khéros đang lốm đốm vàng bởi mặt trời chiều tà.
- Anh nghĩ sao về một ngàn hai trăm người ở Khéros.
- Tôi hiểu, tôi hiểu rồi, Đại úy. Miller vừa nói, vừa kéo mũ len sụp xuống trán và hướng cặp mắt buồn về phía sườn núi và hỏi tiếp: khi nào thì bắt đầu cuộc tàn sát tập thể?
- Hãy để chúng tiến thêm một trăm mét nữa, như tôi đã nói.
Miller nhìn những khẩu súng dựng trên đường ven biển, đằng sau hai xe tải và hỏi:
- Hai khẩu súng kia đều là súng cối?
- Phải!
- Tại sao họ chưa sử dụng?
- Họ sẽ sử dụng sau khi chúng ta bắn và để lộ mục tiêu.
- Cầu Chúa che chở chúng ta! Miller lẩm bẩm.
- Và che chở từng phút giây, Mallory hạ thấp giọng. Tôi mong sao anh bạn Turzig của chúng ta đừng có mặt trong toán quân kia.
Chàng định đưa tay ra cầm ống nhòm, nhưng Andrea đã nắm lấy cổ tay chàng và nói:
- Ở địa vị tôi, tôi sẽ không sử dụng ống nhòm nữa. Nó đã hại chúng ta một lần. Tôi đã suy nghĩ nát óc để tìm hiểu cuộc oanh tạc vừa rồi. Chính tại ống nhòm này! Đại úy biết chứ! Hai thấu kính phản chiếu ánh sáng mặt trời…
- Đúng vậy! Đúng vậy! Mallory gật đầu. Tôi tự hỏi… Ai đã vô ý thế? Chỉ cần một tia sáng lóe lên là bọn Đức biết chúng ta đang ở đâu. Phải, có lẽ tại tôi…C uộc oanh tạc vừa rồi đã bắt đầu sau phiên tôi trực gác… và Panayis thì lại không có ống nhòm. Tại lỗi tôi cả, Andrea.
- Tôi không tin, Andrea nói bằng giọng quả quyết, Đại úy không thể phạm sai lầm như thế…
- Không, tôi e rằng sẽ phạm. Thôi được chúng ta sẽ bàn lại vấn đề này sau.
Toán lính Đức sắp tiến ra khỏi phạm vi đồi trọc.
- Chúng đã tới khá sát rồi. Nhớ đấy! tôi và Louki bắn ở giữa, còn hai anh bắn hai bên. Trong khi chàng nói, ba người bạn đã đặt súng vào giữa các khe đá và các ngón tay chuẩn bị bóp cò.
Giọng chàng rắn chắc vang lên:
- Bắn!
Với bốn khẩu súng tự động – hai khẩu Bren và hai khẩu Schmeisser 9 ly – không phải là cuộc chiến quy mô nhưng cũng để tàn sát những nguời đang đi trên đồi trơ trụi không một bóng cây, hốc đá để ẩn núp. Những thân người ngã xuống giãy giụa, một vài người khác còn sống nằm im chỗ không dám nhúc nhích.
- Chúng còn lại khoảng tám, chín tên, và chúng đang cố ẩn núp sau những hòn đá chỉ to bằng quả cam… Chúng ta tiêu diệt nốt nhé? Miller hỏi.
- Chúng ta tiêu diệt nốt, Mallory trả lời. Chúng sẽ không…
Nhưng Mallory chợt giật mình, nằm rạp xuống trong khi một tràng đạn bắn trúng vào những tảng đá nơi họ ẩn núp.
- Chúng sẽ không… à? Miller mỉa mai hỏi, vừa đặt lại nòng súng qua khe đá, nhưng Mallory đã ngăn lại, kéo anh ta lui ra sau.
- Không phải bọn trên đồi! Hãy lắng nghe!
Thêm một tràng đạn, rồi một tràng nữa, Mallory cảm thấy tóc gáy dựng đứng lên.
- Đại liên Spandau. Chỉ cần nghe nó một lần là cả đời người ta sẽ không quên. Chúng đặt đại liên từ sườn núi bên kia. Nhưng tôi chỉ sợ hai khẩu cối kia.
- Tôi lại không, Miller nói. Chúng chưa bắn súng cối đâu.
- Chính vì thế mà tôi lo sợ… Anh nghĩ thế nào Andrea?
- Cũng nghĩ như Đại úy thôi. Chúng đang chờ. “Sân chơi của Quỷ” là một địa điểm hiểm trở như mê hồn trận, chúng đang bắn như người mù.
- Chúng không đợi lâu đâu. Những “con mắt” của chúng tới kìa, Mallory vừa nói vừa chỉ tay về hướng bắc.
Thoạt đầu chỉ là những chấm nhỏ, rồi to dần. Những chiếc máy bay trinh sát! Chúng đang bay cao bốn trăm năm mươi mét trên mặt biển Egée, Mallory ngạc nhiên quay sang Andrea:
- Tôi có mơ không? Chàng hỏi. Có phải chiếc đi đầu là chiếc PZL không?
- Phải đấy, Andrea lẩm bẩm, PZL là loại máy bay trinh sát của Ba Lan khá xưa rồi. Còn chiếc thứ hai là loại trinh sát hiệu Bréguet của Pháp… Bọn Đức đã sử dụng cả những máy bay của các nước bị chiếm đóng.
- A! Chúng phát hiện ra địa điểm ẩn núp của chúng ta rồi. Chúng đang lượn vòng trên đầu chúng ta, Mallory kêu lên.
- Đại úy! Chúng ta hãy rời khỏi chỗ này ngay nếu không muốn tan xương với hai khẩu súng cối.
Cả một buổi chiều diễn ra trò chơi cút bắt trong thung lũng, giữa những đống đá của “Sân chơi của Quỷ”.
Hai máy bay trinh sát điều khiển trò chơi. Từ trên cao chúng ghi nhận từng động tác của nhóm biệt động và báo cho lực lượng truy kích bên dưới biết. Vì thế khi Mallory và đồng đội đã rút sang chỗ khác, thì bọn Đức đã nhanh chóng lần ra ngay. Sau đó, hai chiếc máy bay trinh sát hiện đại hơn đến để thay thế cho chiếc PZL và Bréguet vì, theo như Andrea nói, hai chiếc cũ chỉ bay lâu được hơn một giờ mà thôi.
Mallory cảm thấy như đang ở giữa búa và đe. Đã nhiều lần, chàng và các bạn cố tiến lên thật nhanh để tăng khoảng cách giữa họ và kẻ thù, dưới sự hướng dẫn của Louki.
Còn nửa giờ mặt trời mới lặn, họ đang men theo con đường trũng dưới thung lũng và dừng tạm ở địa điểm có một vách đá nhô ra, nơi đường rãnh rẽ làm hai, một về hướng bắc một quẹo sang phải. Mặt trời đang xuống dần ở chân trời, và rừng cây bắt đầu trở nên âm u hơn. Máy bay khó trinh sát họ được, nhưng toán lính Đức vẫn bám chặt phía sau, với quyết tâm trả thù cho đồng bọn bị tàn sát trên sườn đồi khi nãy. Mallory và các bạn đã đuối sức sau những ngày dồn dập biến cố, nhưng toán lính Đức vẫn luôn sung sức, chưa cần phải tiêu hao đến lực dự trữ.
Qua khỏi khúc quanh của đường rãnh, Mallory mệt mỏi ngã người xuống đất nhưng vẫn trong tư thế bố trí. Chàng quay đầu nhìn đồng đội, họ đều có vẻ thảm hại. Panayis và Brown thì bị thương, cố lết theo đoàn. Lần đầu tiên kể từ lúc khởi hành làm nhiệm vụ từ Alexandrie, Casey Brown mới lộ vẻ cau có, ít chú ý và lạnh lùng. Mallory đã hạ lệnh cho anh ta bỏ lại máy vô tuyến nặng nề đeo trên vai, nhưng anh ta thô bạo từ chối tuân lệnh chàng. Louki thì không có thể lực như mọi người, nhưng vẫn can đảm và luôn mỉm cười tuy đôi mắt buồn bã. Miller cũng mệt như Mallory, nhưng vẫn còn có khả năng chịu đựng lâu hơn nữa. Stevens vẫn tỉnh và mỗi lúc một nhợt nhạt như xác chết. Về phần Andrea có nhiệm vụ bồng người bị thương, anh luôn tỏ ra dẻo dai và không hề nản lòng.
Mallory rút điếu thuốc từ trong túi ra, định đưa lên môi, nhưng chợt nhớ rằng hai chiếc máy bay vẫn còn quần trên không, chàng lại ném đi, uể oải, đưa mắt nhìn về hướng bắc, chợt chàng lặng đi. Con đường rãnh trở nên lớn hơn, hoàn toàn thẳng và khá dài. Từ chỗ đứng ở đây chàng vẫn thấy nó chắn ngang bởi một vách núi thẳng đứng.
- Louki! Mallory nhổm dậy, quên cả mệt. Anh có biết chúng ta đang ở đâu không? Anh có biết rõ địa điểm này không?
- Nhưng tôi biết chắc mà, Louki trả lời hơi khó chịu vì bị nghi ngờ. Tôi đã nói với Đại úy rằng tôi và Panayis hồi còn nhỏ đã…
- Nhưng chỗ này là hẻm cụt! Mallory phản đối. Chúng ta bị dồn vào đường cùng, không lối thoát.
Louki mỉm cười:
- Đại úy không tin Louki này sao? Panayis và tôi đã đi quan sát vùng này suốt buổi trưa. Dọc theo vách núi kia có rất nhiều đường hầm. Một trong những đường hầm đó sẽ trổ ra một thung lũng khác, dẫn chúng ta vòng ra con đường ven biển, phía sau bọn Đức.
- Tôi hiểu, tôi hiểu, Mallory thở phào. Và thung lũng dẫn đến điểm nào ở bờ biển.
- Ngay trước mặt eo biển Maidos.
- Cách thành phố bao nhiêu xa?
- Từ tám đến mười cây số, không xa hơn.
- Rất tốt! Rất tốt! và anh chắc chắn không đi nhầm hang chứ?
- Tôi nhắm mắt đi cũng không nhầm, Louki trả lời với vẻ tự tin.
Bất ngờ, Mallory vấp ngã, chàng nhảy sang một bên để tránh đụng phải Stevens đang nằm gần đó. Trong lúc sơ ý, chàng đứng ở vị trí hơi lộ ra ngoài, khiến quân Đức vừa bám sát theo sau trông thấy, liền nã ngay một tràng súng liên thanh về phía chàng. Một viên đạn sướt qua vai làm rách áo và sướt da Mallory. Miller quì xuống xem xét ngay vết thương cho vị chỉ huy của mình.
- Tôi thật vô ý quá, Mallory tự nguyền rủa. Tôi không ngờ chúng ở gần quá.
Chàng bình tĩnh thốt lên những lời này. Chàng biết rằng nếu khẩu súng kia chỉ nhích sang vài ly, chàng chỉ còn là cái xác không hồn.
- Đại úy cảm thấy đỡ chưa? Miller hỏi.
- Cũng may chỉ rách da thôi, Mallory vui vẻ trả lời.
Chàng trỗi dậy lượm lấy súng.
- Nào! Chúng ta lại tiếp tục đi! Từ đây đến đường hầm bao nhiêu xa, Louki?
Louki chợt ấp úng, nụ cười đã tắt, tay bứt cằm:
- Đường hầm… đường hầm ở khá xa, tận đầu vách núi kia.
- Tận đầu vách núi kia? Mallory hỏi lại.
Louki gật đầu vẻ khốn khổ, hai mắt cúi gằm xuống đất.
- Tôi rất ân hận, thưa Đại úy. Thật là điều khủng khiếp. Tôi không ngờ bọn Đức đang ở gần chúng ta đến thế.
- Không phải lỗi của anh, Mallory nói, động lòng trước nỗi thất vọng của anh chàng nhỏ bé. Chính tôi cũng ngỡ chúng còn ở xa.
Stevens nắm tay Mallory hỏi:
- Tôi không hiểu lý do tại sao các anh lo sợ?
- Thật dễ hiểu thôi, Stevens. Từ đây đến vách núi kia còn bảy trăm năm mươi mét. Đường đi thì trơ trụi, không có chỗ ẩn núp. Trong khi đó, bọn Đức chỉ còn cách chúng ta khoảng ba trăm mét. Chúng ta đi chưa được nửa đường thì bọn Đức đã có mặt ở đây, và hai khẩu đại liên Spandau của chúng sẽ quét sạch chúng ta.
- Nhưng tại sao Đại úy lại không bố trí hai người ở đây chặn quân Đức để những người khác rút.
- Rồi sau đó hai người ở lại sẽ rút lui bằng cách nào? Mallory hỏi vặn.
- Tôi hiểu Đại úy muốn nói gì. Tôi không nghĩ đến điều ấy, Stevens nói rất nhỏ. Thật là một vấn đề nan giải.
- Lẽ ra chẳng có vấn đề nào cả, Louki tuyên bố. Lỗi ở tôi tất cả! Tôi thật không đáng sống!
Louki định đưa súng lên tự sát, nhưng Miller đã nổi giận, giật mạnh khẩu Bren của Louki rớt xuống đất:
- Anh không được làm thế! Đại úy đã nói không phải lỗi của anh.
Trong giây lát, Louki giận dữ nhìn Miller đoạn anh buồn bã quay đầu đi và gần như muốn khóc. Mallory hơi ngạc nhiên vì tính hung hăng khác với bình thường của Miller. Chàng chợt nhận ra rằng từ một giờ nay, Miller có vẻ trầm ngâm suy nghĩ điều gì đó. Tại sao vậy?... Chàng sẽ tìm hiểu vấn đề này sau.
- Tại sao chúng ta không cố thủ tại đây cho đến khi trời thật tối hẳn, rồi sau đó chúng ta sẽ lợi dụng bóng tối để rút qua đường hầm bên kia? Casey Brown cho ý kiến.
- Không ích lợi gì, Mallory lắc đầu, bởi vì đêm nay có trăng sớm và trên trời không có một tí mây nào cả. Họ sẽ thấy chúng ta như ban ngày. Và điều quan trọng này nữa là ngay hôm nay chúng ta phải bằng mọi cách xâm nhập vào thành phố sau khi mặt trời lặn và trước giờ giới nghiêm. Đó là cơ hội cuối cùng của chúng ta.
Nửa phút im lặng, chợt tất cả giật nẩy mình khi nghe Andy Stevens cất tiếng nói dịu dàng:
- Louki không có lỗi, các bạn biết đấy.
Giọng anh ta yếu ớt, nhưng chứa đựng vẻ cương quyết khiến mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía anh ta. Stevens chống người trên khuỷu tay, khẩu Bren của Louki cầm ở tay. Mọi người đang mải mê bàn cãi nên không biết Stevens đã nhoài người tới lượm khẩn súng của Louki từ lúc nào.
- Mọi sự sẽ hết sức đơn giản, Stevens tiếp tục nói. Chân tôi đã hoàn toàn bị làm độc, lên tận trên đầu gối phải không Đại úy?
Mallory không nói gì hết. Chàng không biết phải trả lời ra sao. Miller đưa mắt ra hiệu cho chàng nói “không”.
- Có đúng vết độc đã lan quá trên đầu gối tôi, phải không Đại úy? Stevens hỏi lại vẻ kiên nhẫn lạ lùng.
Bất chợt Mallory trả lời:
- Phải, đúng vậy.
Miller nhìn chàng với vẻ lo sợ.
- Cám ơn Đại úy, cám ơn nhiều, Stevens nói. Chẳng cần nói nhiều các bạn cũng biết nếu tôi ở lại sẽ có lợi vô cùng.
Stevens mỉm cười với vẻ mãn nguyện và với quyền lực của người hoàn toàn làm chủ tình thế.
- Đã đến lúc tôi phải làm cái gì cho xứng đáng. Tôi yêu cầu các bạn đừng bận tâm nữa. Hãy để lại đây cho tôi hai hộp đạn, hai hoặc ba trái lựu đạn và các bạn hãy đi đi.
- Tôi thà bị đày đọa còn hơn làm vậy! Miller la lên và anh ta tới gần Stevens nhưng chợt dừng lại. Khẩu Bren của Stevens đã dí vào ngực anh ta.
- Nếu anh bước tới nữa, tôi bắn, Stevens điềm tĩnh nói.
Miller im lặng nhìn Stevens rất lâu, đoạn anh ta gục xuống đất nức nở.
- Tôi sẽ bắn nếu ai cản trở tôi, Stevens nói. Vĩnh biệt! Tôi cám ơn tất cả các bạn…
Một phút trôi qua trong sự im lặng lạ lùng. Miller trỗi dậy, tấm thân tiều tụy trong bộ đồ rách rưới, mặt âu sầu:
- Tạm biệt anh bạn trẻ… Có lẽ cuối cùng thì tôi cũng chưa phải là y sĩ giỏi.
Miller nắm tay Stevens, nhìn rất lâu khuôn mặt hốc hác của viên trung úy trẻ tuổi, định nói điều gì nhưng lại thôi.
- Tạm biệt, Miller lẩm bẩm và quay lưng bước đi nặng nề.
Từng người một chào vĩnh biệt Andy Stevens, trừ Andrea nghiêng mình nói nhỏ vào tai người sắp chết, Stevens mỉm cười, gật đầu với vẻ tán thành.
Ngước mắt nhìn Mallory, Stevens mỉm cười nói:
- Cám ơn Đại úy. Cám ơn Đại úy đã hết lòng chăm sóc cho tôi. Đại úy và Andrea, Đại úy hiểu chứ…
- Anh… anh có cảm thấy thoải mái không? Stevens?
Nhưng rồi Mallory lại tự trách “Lạy Chúa! Tôi nói thế thật vụng về!”
- Andy Stevens, tôi không thể…
- Đã đến lúc Đại úy phải đi cho kịp. Những người khác đang chờ Đại úy. Trước khi đi, tôi chỉ yêu cầu Đại úy mồi cho tôi điếu thuốc.
Trong vòng năm phút, Mallory đã bắt kịp những người khác và chưa đầy một khắc sau họ đã tới đường hầm ăn thông ra bờ biển. Họ đứng lặng một lúc trước đường hầm, nghe những tiếng súng nổ liên hồi ở phía bên kia thung lũng, nơi Andy Stevens bố trí.
Andy Stevens ở lại, nằm sấp, và đang chăm chú nhìn về hướng bờ dốc của đường rãnh đang tối dần. Chàng không cảm thấy đau nữa. Chàng rít một hơi thuốc dài và mỉm cười tra băng đạn mới vào khẩu Bren. Lần đầu tiên trong cuộc đời, chàng sung sướng và hài lòng. Chàng cảm thấy tâm hồn bình yên lạ thường. Chàng không còn sợ nữa.