RẠNG SÁNG THỨ BA 2g – 6g

Những Khẩu Pháo Ở Navarone

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Toán tuần tiễu của Đức, y như dự đoán của Mallory, đã chứng tỏ có tài năng, tận tâm và rất chuyên chú vào công việc. Không những thế, viên trung sĩ chỉ huy trẻ tuổi lại là người giàu óc tưởng tượng, điều càng thêm nguy hiểm đối với nhóm người của Mallory.

Họ chỉ có bốn người, đi giầy cao cổ, cả nón lẫn áo khoác ngoài đều rằn ri, lốm đốm màu xanh lá, xám và nâu. Việc đầu tiên là họ tìm chỗ đặt máy điện thoại và bắt liên lạc ngay với căn cứ. Kế đó, viên trung sĩ trẻ tuổi cho hai người đi khám xét dọc theo núi đá một trăm mét trong khi hắn và người lính còn lại đi lục soát giữa những tảng đá song song với bờ vực.

Sự tìm tòi của họ rất chậm rãi và tỉ mì, nhưng hai người không đi sâu vào lòng đất phía trong. Viên trung sĩ có lý khi nghĩ rằng nếu người lính gác buồn ngủ hay bị bệnh bất ngờ, anh ta chẳng bao giờ mạo hiểm đi xa những khối đá này. Nhờ đó mà Mallory và các bạn chàng may mắn ở ngoài vòng khám xét.

Mallory có lý do để sợ. Bọn Đức xử trí công việc rất có phương pháp và họ đang thị sát ven bờ vực thẳm. Bất ngờ, viên trung sĩ và ba người lính đi theo sau, đều dừng lại. Hắn kêu lên một tiếng ngạc nhiên, cúi xuống, khuôn mặt và đèn bấm chỉ cách mặt đất vài phân. Có lẽ hắn đã khám phá ra vết dây xoi trên đất mềm.

Lặng lẽ, Mallory và ba người bạn tự động đồng loạt đứng lên, súng vẫn tì trên các khe đá. Không ai tin rằng Stevens đang bị thương nặng hoặc chết ở dưới vực. Chỉ cần một khẩu súng của toán lính Đức quay về phía họ, thì cả bốn đều không tránh khỏi.

Viên trung sĩ bây giờ đang nằm sấp xuống mặt đất, được một người lính nắm chặt hai chân, hắn rọi đèn bấm vào bên trong đường rãnh. Mười lăm giây trôi qua, người ta chỉ nghe có tiếng gió than vãn và tiếng mưa sột soạt trên cỏ ngắn. Đoạn viên trung sĩ đứng dậy, lắc đầu:

- Đích thị là thằng Ehrich đáng thương hắn nói, giọng pha lẫn tức giận và thương xót. Tôi dặn dò nó chớ có đi quá gần bờ vực, vậy mà…

Viên trung sĩ lui vài bước và nhìn dấu vết trên đất.

- Chắc là vết gót chân nó bị trượt, hắn nói, hay là viết báng súng Carabine.

- Trung sĩ có nghĩ rằng nó chết không? Một người lính trẻ măng bồn chồn hỏi.

- Thật khó mà kết luận… Anh hãy nhìn thử coi.

Do dự một chút, người lính trẻ nằm trên đất và ném một cái nhìn cẩn thận xuống vực thẳm.

Mallory hỏi nhỏ vào tai Miller:

- Hồi nãy, trước lúc anh leo lên đây, Stevens có mặc bộ đồ màu đen không?

- Có, hình như có, hạ sĩ Miller trả lời… À không tôi lầm… Cả hai chúng tôi đều mặc áo choàng ngụy trang bên ngoài.

Áo choàng đi mưa của lính Đức hao hao giống áo choàng của nhóm này, và Mallory nhẹ nhõm nhớ rằng mái tóc của người lính Đức bị giết màu đen như mái tóc nhuộm thuốc của Stevens. Có lẽ người ta không thấy gì hết ngoài bóng người co quắp dưới chiếc áo choàng và cái đầu chìm đắm trong bóng tối. Sự nhìn lầm của viên trung sĩ là tất nhiên, là không tránh khỏi.

Người lính trẻ thận trọng, đứng dậy:

- Trung sĩ nói đúng, chính là Ehrich. Tôi nghĩ rằng hắn còn sống. Tôi thấy áo choàng của hắn hơi rung động. Chắc không phải tại gió.

Mallory cảm thấy bàn tay to lớn của Andrea siết chặt cánh tay chàng, và nỗi vui mừng khi biết Stevens còn sống tràn ngập lòng chàng.

Chàng biết Andrea đang quay lại thì thầm tin mừng này vào tai hai người kia. Nỗi vui của chàng khi biết Stevens còn sống, chắc chắn trên phương diện nào đó sẽ không được cấp trên tán thành. Chàng hiểu điều đó, Stevens đã hoàn thành nhiệm vụ thuyền trưởng đưa cả nhóm đến đảo Navarone và cả nhiệm vụ vận động viên leo núi, tuy rằng có phần nào hạn chế. Bây giờ anh ta chỉ còn là kẻ tật nguyền, một chướng ngại cho những người còn lại, và gây khó khăn cho cơ may thành công của họ. Đối với một viên Tư lệnh Tối cao, họ chỉ là những con chốt. Con nào hết tác dụng, què quặt thì chỉ gây rối loạn cho bàn cờ. Và con chốt bị thương nếu biết tự trọng thì nên tự sát để những người khác được rảnh tay. Mallory siết chặt hai nắm đấm lại, thề rằng sẽ làm sao cho chàng thanh niên trẻ tuổi này được sống và trở về nhà. Chàng nguyền rủa chiến tranh với những đòi hỏi vô nhân đạo… Stevens chỉ là một cậu bé, một cậu bé ngã đau và sợ hãi, nhưng can đảm nhất.

Viên trung sĩ ra hàng loạt lệnh cho những người của hắn, bằng một giọng nói nhanh và đầy quả quyết: một y sĩ, những thanh gỗ để tháp xương gãy, cái cáng, dây thừng, đinh móc… Đã được huấn luyện kỹ, có phương pháp, hắn không quên gì hết. Mallory lo lắng chờ xem có bao nhiêu người ở lại canh chừng, bởi vì nhóm chàng bắt buộc phải tiêu diệt những người đó thật nhanh để cứu Stevens, và như thế trước sự mất mát liên tục về nhân mạng, bọn Đức sẽ biết có sự đổ bộ của nhóm chàng trên đảo.

Viên trung sĩ giải quyết dùm Mallory vấn đề phức tạp đang làm chàng rối trí, nhờ tính cứng rắn như sắt đá không gì lay chuyển của người chỉ huy trong quân đội Đức. Khi một người hỏi hắn:

- Còn anh chàng Ehrich khốn khổ này. Trung sĩ có cho người ở lại canh chừng không?

- Để làm gì? Ai giúp gì được hắn? viên trung sĩ bực dọc trả lời. Nếu hắn ta động đậy và rơi xuống thì cứ rơi, dù chúng ta có đứng ở đây một trăm người thì cũng làm được gì? Hãy đi đi và nhớ đừng quên những thứ mà tôi đã dặn.

Ba người lính quay lưng không nói một lời đi vội vã về hướng đông. Viên trung sĩ nấn ná lại một chút để gọi điện thoại báo cáo vắn tắt cho ai đó ở đầu dây, sau đó hắn đi về hướng ngược chiều với đồng đội, có lẽ để kiểm tra chốt gác kế tiếp. Mallory còn nghe tiếng giày của hắn nện thình thịch trên sỏi đá. Sau khi sắp đặt Miller và Brown ở lại canh chừng, Mallory và Andrea leo xuống đường rãnh.

Vết thương ở đầu của Stevens vẫn tiếp tục ra máu. Anh nằm co dúm người lại, mê man. Phía dưới dầu gối phải, ống quyển nhô lên cao và hướng ra ngoài làm thành một góc khá lớn với tảng đá. Đứng xoạc chân hai bên thành vách, thân người được Andrea giữ chặt, bằng những động tác vô cũng nhẹ nhàng, Mallory khẽ nâng ống chân gãy của nạn nhân. Cả hai lần, dù đang mê man, Stevens cũng rên lên vì đau đớn. Mallory nghiến răng, hết sức cẩn thận vén ống quần của Stevens lên. Chàng rùng mình, chợt nhắm nghiền đôi mắt lại khi trông thấy xướng ống quyển màu trắng gãy đôi và lòi ra ngoài xuyên qua da thịt màu tím ngắt.

- Gãy nặng lắm, chàng lầm bầm.

Những ngón tay chàng vuốt nhẹ nhàng xuống đến cổ giày của nạn nhân và chợt la lên:

- Lạy Chúa! Phía trên mắt cá chân cũng bị gãy. Chúng ta không làm được gì cho người bạn khốn khổ này. Trước hết phải đưa anh ta lên đỉnh… Nhưng làm sao đây?

Chàng ngước mắt nhìn những vách đá thẳng đứng sừng sững phía trên chàng.

- Để tôi cõng anh ta lên, Andrea sốt sắng nói, tuyệt nhiên không nghĩ gì đây là một việc làm quá sức người. Anh cứ giúp tôi nâng anh ấy lên và cột vào lưng tôi.

- Sao? Cột anh ta vào lưng anh với cái chân gãy lủng lẳng ở đầu da thịt rách nát? Mallory phản đối, anh ta sẽ chết nếu phải chịu hình phạt như thế.

- Anh ta sẽ chết nếu chúng ta không làm thế, Andrea nói.

- Anh có lý? Chúng ta đành làm vậy thôi.

Mallory leo xuống thấp, một chân chàng móc vào khe đá bên dưới nạn nhân khoảng một mét tám mươi, chàng quấn hai vòng dây qua người Stevens và ngước về phía Andrea, hỏi:

- Sẵn sàng chưa, Andrea?

- Sẵn sàng, Anh chàng Hy Lạp trả lời.

Andrea cúi xuống, hai tay xốc nách Stevens và nhấc lên từ từ trong khi Mallory từ dưới đẩy lên. Hai ba tiếng "A!" đau đớn thốt ra từ cửa miệng nạn nhân trước khi Andrea đã ôm chặt anh ta trong đôi cánh tay rắn chắc. Vài giây sau, Mallory đã lên tới. Chàng khéo léo cột hai tay của Stevens. Đầu nạn nhân lơ lửng giữa hai tay của Andrea, máu vẫn tuôn trào trên khuôn mặt bất động, hòa lẫn với thuốc màu đen nhuộm trên tóc bị nước mưa hòa tan. Mallory phẫn nộ nguyền rủa: "Thuốc nhuộm dỏm! Đại tá Jensen chưa biết chuyện này! Người ta có thể mất mạng như chơi vì loại thuốc kém phẩm chất này".

Andrea mất không đầy ba mươi giây để lên tới đỉnh. Thêm một trọng lượng bảy mươi ký lô vẫn không cản trở bước đi thần tốc thường ngày của anh ta. Tuy nhiên, trong lúc leo lên, khi vừa ra khỏi đường rãnh chật hẹp, ống chân gãy của Stevens chạm vào đá khiến nạn nhân kêu lên một tiếng xé gan làm tim hai người thắt lại.

Khoảnh khắc sau, Andrea đã đứng trên đỉnh vực và Mallory khẩn trương cắt đứt dây nối hai người.

- Anh hãy đặt Stevens nằm ở một chỗ bằng phẳng và kín đáo, Mallory nói nhỏ, tôi sẽ đến sau.

Andrea tiếp tục bế xốc nạn nhân, đi sâu vào bên trong vùng đất soai soải. Mallory đứng lại, vểnh tai nghe ngóng xung quanh. Chàng không nghe gì khác ngoài tiếng gió rên rỉ, tiếng mưa rơi, và một lớp tuyết mỏng đang phủ xuống. Chàng bỗng nổi cơn thịnh nộ với chính mình khi nhớ ra rằng còn sót lại một cái đinh móc dưới đường rãnh.

Chàng lại leo xuống vực, hoàn toàn xóa đi dấu vết còn lại của cuộc đổ bộ này, và chưa đầy mười phút sau cuộn dây ướt trên vai, chàng đi theo Miller và Brown vào một cái hốc đá tối tăm. Stevens được đặt nằm vào bên trong, dưới một tảng đá lớn, trên tấm vải dầu, và một cái áo mưa phủ lên người anh ta. Andrea đã vén quần anh ta lên quá trên đầu gối và vừa lột vừa cắt chiếc giày bốt nặng nề khỏi bàn chân bị thương.

- Lạy Chúa tốt lành! Miller thì thầm, quỳ xuống bên nạn nhân. Vết thương nặng này thế nào cũng gây biến chứng! Chúng ta phải lo ngay cho anh ta, không được để chậm trễ chút nào. Anh bạn trẻ này đang là đối tượng của thần chết.

- Tôi biết. Chúng ta phải cứu anh ta. Hãy xem vết gãy của nạn nhân! Mallory nói và ngồi sụp xuống.

Bằng động tác nóng nảy, Miller gạt chàng qua một bên.

- Hãy để tôi điều trị cho anh ta, thưa Đại úy, Miller nói bằng giọng như ra lệnh khiến Mallory cũng phải làm thinh. Hãy đưa tôi hộp cứu thương, nhanh lên, và tháo bọc lều ra.

- Anh chắc chắn biết mình phải làm gì chứ? Mallory hỏi, đúng ra vì muốn biết chứ không phải vì nghi ngờ khả năng của anh ta.

- Đại úy, Miller nhẹ nhàng nói, suốt cuộc đời tôi đã từng lao động dưới mỏ, ở các đường hầm và chế tạo chất nổ. Đó là những công việc nguy hiểm. Đã có hàng trăm người bị tai nạn, gãy tay, gãy chân và tôi đã điều trị cho phần đông những người đó…

- À ra thế! Mallory thốt lên.

- Việc đầu tiên, Miller nói, vừa nhanh chóng chọn lựa những thứ cần thiết trong hộp thuốc cứu thương dưới anh đèn bấm, việc đầu tiên và cần thiết là phải chích cho anh ta một mũi moọc-phin, nếu không anh ta sẽ chết vì đau đớn. Kế đó, phải có chỗ cho anh ta ẩn náu, quần áo khô, hơi nóng..

- Nhưng, lạy Chúa, kiếm ở đâu bây giờ?

Mallory nhớ lại rằng chính Stevens đã sơ ý cột không chặt, làm rơi cả lương thực và chất đốt xuống vực.

- Tôi không biết ở đâu, Miller nói, nhưng chúng ta phải kiếm ra. Với một cái chân trong tình trạng này, và trời ướt như chuột lột, anh ta chắc chắn sẽ bị sưng phổi. Và rồi, cần phải rắc Sulfamide vào chỗ hai đầu xương gãy này, chỉ cần nhiễm trùng một chút là anh ta chết ngay.

Mallory nhận thấy Miller cũng run lên vì lạnh, hai hàm răng lập cập nhưng không vì thế mà anh ta làm việc cẩu thả. Quần áo của Miller ướt sũng và Mallory ngạc nhiên tự hỏi sao anh ta lại ướt cả người như thế khi mỗi người đều mặc áo mưa.

- Anh hãy băng bó cho Stevens, tôi sẽ tìm chỗ trú ẩn thích hợp cho nạn nhân, Mallory nói vì nghĩ rằng trên núi lửa xưa này, thế nào mà chẳng tìm được một cái hang đá.

Vào lúc này, chàng nhận thấy vẻ mặt xám ngắt vì kiệt sức và bệnh hoạn của Casey Brown, hậu quả của sự nhiễm độc oxýt Cabon dưới hầm máy. Anh ta lảo đảo đứng dậy vày chuẩn bị đi.

- Anh đi đâu, Brown?

- Đi mang đồ đạc còn lại tới đây, thưa Đại úy.

- Anh còn đủ sức không? Anh có vẻ không được khỏe.

- Tôi mệt lắm, thưa Đại úy. Nhưng tôi kính phục Đại úy vì Đại úy vất vả hơn tôi nhiều.

- Nào! Chúng ta cùng đi.

Trong mười phút sau, bầu không khí im lặng chỉ bị cắt ngang bởi những tiếng thì thầm của Miller và Andrea, và tiếng rên của người bị thương, nhưng chất Moọc-phin có tác dụng ngay và Miller có thể làm việc nhanh. Andrea đã căng một tấm vải dầu phía trên đầu họ, để ngăn tuyết rơi và để ánh sáng của đèn bấm không lọt ra ngoài. Cuối cùng, chân của Steven được băng bó và được nẹp cứng bằng cọc lều. Miller đứng dậy, lưng đau nhói.

- Nhờ ơn Chúa, tôi đã làm xong. Miller mệt mỏi nói. Tôi cũng cảm thấy đau bằng chàng trai này… Này Andrea! Tôi nghe có tiếng động.

- Brown đấy, Andrea cười nói.

- Sao anh biết là Brown?

- Brown cũng khá cẩn thận, nhưng vì anh ta đang mệt nên không thể đi nhẹ được. Tôi, người ta gọi tôi là con mèo lớn, vậy mà tôi còn thua Đại úy. Ở đảo Crète, người ta đặt biệt hiệu cho đại úy Mallory là con ma. Chỉ khi nào Mallory đụng vai anh, anh mới biết có sự hiện diện của anh ta.

Brown đi tới bằng bước chân lảo đảo của người đuối sức.

- Thế nào, Casey, Miller hỏi, còn đủ sức không?

- Chưa biết lắm, Brown trả lời vừa cám ơn Andrea đã phụ bỏ cái thùng chất nổ trên lưng xuống.

- Còn gì nữa không?

- Hết rồi. Bọn Đức đã trở lại. Đại úy đang ở gần bờ vực để dò xem họ nói gì khi thấy xác người dưới đường rãnh biến mất. Đại úy dặn chúng ta phải leo lên sườn núi bên phải ngay.

Brown đưa ngón tay chỉ một khối núi đồ sộ đầy đe dọa và nói thêm:

- Đại úy sẽ đến chỗ chúng ta trong mười lăm phút nữa. Đại úy dặn để lại thùng chất nổ và cái bao này ở đây. Đại úy sẽ tới lấy.

Miller nhìn Stevens nằm dài dưới những tấm vải dầu ướt, đoạn ngước nhìn Andrea:

- Tôi sợ không thể được…

- Được chứ! Được chứ! Andrea vừa nói vừa cúi xuống. Anh ta bọc tấm vải dầu và bế xốc lên nhẹ nhàng như không có gì bên trong.

- Để tôi đi trước, Miller đề nghị và vác lên vai máy phát điện và một số bao vải.

Miller bước chập choạng vì phải gánh nặng, quên đi sự yếu đuối của mình. Chàng nói:

- Tôi đi trước để chọn đường nào dễ cho anh và Stevens… còn sau này, chắc anh phải cõng luôn cả tôi nữa…

Mallory đã tính sai thời gian chàng phải tới chỗ các bạn. Đã hơn một giờ trôi qua, từ lúc Brown đi khỏi, chàng vẫn ở lại với thùng đồ ba mươi ký trên lưng.

Toán lính tuần tra Đức quay trở lại đỉnh núi với mục đích là trục kéo người lính Đức bị tai nạn lên. Sau khi hắn mất tích khỏi đường rãnh của vách núi, họ lại lục xét chung quanh một lần nữa, và với sự tỉ mỉ, chậm rãi khiến Mallory phải điên ruột. Chàng lo lắng khi nghe một người lính đề nghị xuống xem xét đường rãnh, như thế chúng sẽ phát hiện ra dấu đinh móc vào vách đá. Nhưng may mắn thay, không ai trong toán tuần tiễu mạo hiểm làm việc đó. Họ bàn với nhau rằng chắc người lính gác đã rớt xuống biển và đã chết. Không còn cách nào cứu chữa! Sau một hồi khám xét không có kết quả, họ bàn cãi với nhau rất lâu về những việc phải làm. Cuối cùng, họ chẳng làm gì cả. Họ đặt một người lính gác khác, những người còn lại mang dụng cụ cấp cứu trở về.

Sau khi đi qua những đống đá ở dưới chân núi bên phải, Mallory tiến vào một vùng rải rác đá sỏi. Chàng vượt qua một cái đồi nhỏ thì nghe có tiếng thì thầm và thấy một tia sáng yếu ớt sau tấm vải dầu phủ từ trên vách một hòn đá lớn xuống.

Miller giật mình khi cảm thấy một bàn tay đặt trên vai. Chàng mới rút súng ra nửa bao thì nhận ra Mallory.

Mallory đặt thùng đồ nặng trên vai xuống, thở phào và khi nhìn thấy Andrea cười, chàng hỏi:

- Có gì vui vậy?

- Tôi đã nói với Miller rằng chỉ khi nào Đại úy vỗ vai, anh ta mới biết là Đại úy đã tới. Vậy mà anh ta không tin.

- Đại úy làm tôi hết hồn! Lẽ ra Đại úy đằng hắng hay làm một tiếng động nào đó, Miller nói. Sau bốn mươi tám tiếng, thần kinh tôi căng thẳng quá rồi.

Mallory sắp trả lời thì chàng thấy vẻ mặt xanh xao của một khuôn mặt gối đầu trên một cái túi nhỏ, và dưới khăn băng quấn qua trán, đôi mắt đang mở to nhìn chàng. Mallory quỳ xuống vừa hỏi vừa mỉm cười với Stevens.

- Thế nào Andy? Anh tỉnh lại rồi chứ? Anh thấy trong người thế nào?

Kẻ bị thương khốn khổ, đôi môi ứa ra máu mấp máy mỉm cười lại với chàng.

- Tôi không đau lắm đâu, Đại úy. Tôi hoàn toàn ân hận về tình trạng bi đát này. Thật là ngu xuẩn.

- Không phải ngu xuẩn đâu, Mallory chậm rãi nói, biết rằng mọi người đang nghe chàng. Phải nói là một trọng tội. Tội ác và điên khùng này không thể tha thứ được, chính tôi là kẻ tội phạm. Tôi biết anh mất nhiều máu khi ở trên tàu, nhưng tôi không ngờ tới những vết thương sâu hoắm ở thái dương anh. Anh có biết đồng đội đã trách tôi điều gì khi họ leo lên đến đỉnh vực không? Và họ có lý. Lẽ ra tôi không nên chỉ định anh đi sau chót, vì tình trạng sức khỏe của anh. Tôi thật điên rồ. Lẽ ra chúng tôi phải buộc dây kéo anh lên như kéo Miller và Brown… Hãy tha thứ cho tôi, Andy Stevens.

Stevens cử động khó khăn, vẻ sung sướng pha lẫn bối rối hiện lên trên khuôn mặt trắng nhợt của chàng.

- Tôi xin Đại úy đừng nói thế.

Stevens ngưng nói, nhắm nghiền mắt, cắn răng, trong khi cơn đau nhức dữ dội xuất phát từ ống chân phải lan khắp người chàng.

- Cuộc leo núi vừa rồi hoàn toàn không mang lại vinh dự cho tôi. Tôi thấy sợ, sợ kinh khủng, trong đời tôi chưa bao giờ sợ như vậy.

Mallory thật sự sửng sốt. Chàng mỉm cười nói với Stevens:

- Bây giờ tôi mới biết anh chưa quen với trò chơi chết người này. Thế anh tưởng tôi vừa cười vừa hát khi leo lên đỉnh này sao? Có lẽ anh cho rằng tôi không sợ. Nói thật với anh tôi rất sợ, ngay cả Andrea cũng thế.

- Andrea! Stevens cười nói.

Nhưng anh ta kêu lên một tiếng, nụ cười làm nhăn da mặt và làm anh đau. Tuy nhiên Stevens gắng gượng nói tiếp, giọng khàn khàn.

- Andrea sợ à? Tôi không tin!

- Andrea đã sợ, anh chàng khổng lồ người Hy Lạp dịu dàng cất tiếng nói. Tôi luôn luôn sợ, và nhờ đó tôi sống dai. Và nếu những người khác đã chết là bởi vì họ không sợ bằng tôi. Tất cả mọi người đều can đảm và đều sợ. Người mà thiên hạ gọi là can đảm cũng biết sợ, chỉ khác là anh ta can đảm nhiều hơn những người khác năm phút. Đôi khi nhiều hơn mười phút hoặc hai mươi, hoặc thời gian nào đó đối với người bệnh, người bị thương phải chinh phục một đỉnh cao như anh.

Stevens không nói gì hết. Đầu chàng gục trên ngực, và chàng chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc, bình an với chính mình như thế này. Chàng biết Andrea nói thật. Anh ta muốn nói với chàng nữa , nhưng chàng không còn đủ sức nghe.

- Trung úy đừng nói chuyện nữa, Miller khuyên nhủ. Trung úy cố gắng ngủ đi.

Stevens ngạc nhiên nhìn Miller.

- Hãy làm những điều thầy thuốc của anh yêu cầu, Mallory giải thích. Chính Miller đã điều trị cho anh đấy.

- Ồ! Tôi không biết. Cám ơn Miller nhiều. Chắc khó khăn lắm phải không?

- Với một người có kinh nghiệm như tôi thì không khó đâu, Miller nói dối để bệnh nhân yên tâm.

Miller quay sang đại úy trưởng nhóm:

- Đại úy hãy để Andrea giúp đỡ bệnh nhân nằm xuống ngủ.

Sau khi đi ra khỏi lều, Miller nói tiếp:

- Phải có lửa và quần áo khô cho Stevens. Mạch đập khoảng 140 và sốt đến 41 độ. Anh ta lâm nguy từng phút.

- Tôi biết, nhưng không có hy vọng tìm chất đốt trên hòn núi tuyết ma quỷ này. Chúng ta thử vào lều tìm trong đống quần áo xem có cái nào khô không.

Họ gặp hai người kia, Mallory nói:

- Vì chúng ta sẽ trải qua đêm ở đây, hãy cố gắng làm sao cho được tiện nghi bao nhiêu hay bấy nhiêu.

- Đại úy… Miller ngập ngừng và trao đổi cái nhìn với Brown và Stevens chưa ngủ.

- Gì vậy Miller? Mallory hỏi.

- Chúng tôi có tin buồn báo cho Đại úy. Lẽ ra khi nãy chúng tôi phải báo cho Đại úy ngay. Xác tên lính Đức mà Đại úy và Andrea đã ném xuống vực, và tưởng nó mất tích trên dưới biển, nhưng không, nó lại vắt tòn ten trên tảng đá ngầm cách bờ biển mười mét. Đã bốn lần tôi bơi ra định đẩy nó xuống, nhưng những đợt sóng dữ dội cứ đẩy tôi vào vách núi.

- Bây giờ tôi hiểu tại sao mình mẩy anh ướt đẫm dù có áo mưa, Mallory nói khẽ. Trời sắp sáng trong ba, bốn tiếng nữa. Bọn Đức sẽ thấy xác nó. Họ sẽ bơi xuồng ra xem xét và sẽ biết sự hiện diện của chúng ta trên hòn đảo này.

- Tại sao? Stevens hỏi. Chính bọn Đức đã cho rằng nó sẩy chân rơi xuống vực mà?

- Chúng tôi quên nói với các anh rằng Andrea đã đâm nó chết. Họ sẽ khám phá ra khi xét nghiệm tử thi. Chúng tôi phải rời khỏi đây ngay bây giờ.

Những giờ kế tiếp là những giờ đen tối của cơn ác mộng, những giờ bất tận của những bước đi lảo đảo xuyên qua vùng núi tuyết, còng dưới những thùng đồ nặng, tàn nhẫn đối với những người đuối sức, đói khát, tay chân rã rời.

Thế nào quân Đức cũng dự đoán rằng nhóm của chúng sẽ xâm nhập vào khu vực trung tâm hòn đảo, do đó thay vì đi thẳng lên hướng bắc, Mallory cho nhóm vòng theo hướng tây bắc. Không la bàn, không trăng sao để định hướng nhưng Mallory căn cứ vào vách núi và tấm bản đồ của Vlachos để mò mẫm tiến bước trong đêm tối. Một thời gian sau, chàng chắc chắn rằng đã đi vòng núi và men theo một đường đèo nhỏ để xâm nhập vào nội địa hòn đảo Navarone.

Trong lúc này, kẻ thù tệ hại nhất của họ là tuyết. Mưa tuyết đang quay cuồng chung quanh, thấm vào giầy, vào áo quần, vào mắt, vào tai, vào miệng và làm tê cứng cả người họ. Tất cả đều khổ sở, nhưng Stevens khổ hơn hết. Chàng lại mê man vài phút sau khi khởi hành từ chỗ ẩn náu đầu tiên. Đã hai lần, Andrea ngừng lại bắt mạch cho nạn nhân vì sợ anh ta chết, nhưng những ngón tay của Andrea tê cóng không thể cảm nhận được gì hết. Chàng lại tiếp tục đi, bồng trên tay thân thể bất động của chàng trai trẻ.

Vào khoảng năm giờ sáng, khi họ vượt qua một vách núi sừng sững trên đèo, Mallory hạ lệnh cho cả nhóm buộc dây vào người nhau. Họ leo theo hàng dọc, Mallory đi đầu, kế đó là Andrea cõng Stevens, rồi đến hai người còn lại. Phải mất hai mươi phút sau để vượt qua sườn núi cheo leo này. Tiếp theo, họ đến vùng đất bằng phẳng và hướng về thung lũng của ngọn đồi bên kia.

Họ tới hang đá lúc rạng đông. Ông già Vlachos đã nói rằng phía nam đảo Navarone chi chít động đá.

Họ chọn một cái hang đá vừa đủ chỗ cho mọi người. Lối ra vào được phủ bằng tấm lều giăng bằng những hòn đá lớn, Miller và Andrea lột đồ ướt của Stevens ra và đặt anh ta nằm trong một cái túi ngủ có dây kéo. Họ cho Stevens hớp vài giọt cồn và gối đầu bị thương của anh ta lên xấp quần áo khô. Kế đó, cả bốn người còn lại nằm lăn quay ra đất ướt và ngủ mê mệt, cố quên đi cái lạnh và cái đói.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.