- Thật là dại dột! Mallory chua chát nói. Hết sức dại dột! Chẳng khác gì con ruồi đến thăm cái tổ nhện.
Chàng điên tiết và chán nản luôn miệng tự trách. Khẽ vén tấm vải dầu đang phủ trên cửa buồng lái, chàng nhìn qua màn mưa cái vịnh nhỏ đầy đá. Bây giờ thì quan sát không khó khăn gì lắm, bởi vì mưa chỉ còn rơi hạt nhỏ. Những đám mây xám và trắng rách rời bởi cơn gió lớn nổi lên, đang nối đuôi nhau tản mác về phía chân trời. Phía tây, mặt trời đỏ ối đang dần dần chếch xuống.
Một vài tia nắng cuối cùng ráng chiếu sáng lần cuối cái tháp canh sừng sững ở đầu núi đá, trên cao ba trăm mét, nơi đó, nòng khẩu đại liên bóng loáng ló ra qua lỗ hổng của khối tường đá và lá cờ thêu chữ vạn tung bay trên nóc. Tuy có vẻ lâu đời nhưng kiên cố, với vị trí hết sức thuận lợi, tháp canh oai vệ ngự trị và kiểm soát mọi đường ra vào vịnh.
Chậm rãi, hầu như là hối tiếc, Mallory đậy tấm vải dầu lại. Mặt nghiêm nghị quay nhìn Andrea và Stevens đã trở thành những bóng lờ mờ trong bóng hoàng hôn của cabin.
- Dại dột! Chàng lập lại. Ôi Mallory dại dột! Có thể trong hàng trăm hòn đảo gần đây chỉ có cái vịnh này bị quân Đức đặt tháp canh! Và tôi đã dại dột chọn ngay nó! Nào Stevens chúng ta thử liếc mắt trên bản đồ xem sao?
Stevens trao tấm bản đồ cho Mallory và nhìn xếp đang chăm chú điều nghiên dưới ánh sáng yếu ớt lọt qua vải dầu. Chàng ta rít một hơi thuốc lá dài và cảm thấy sự sợ hãi xưa lại xâm chiếm lấy người. Đưa mắt về phía hình thù to lớn của Andrea, tự nhiên Stevens thấy có ác cảm với anh ta một cách vô lý chỉ vì anh ta là người đầu tiên phát hiện ra hòn đảo này trước đây vài phút. Bọn chúng chắc chắn có trọng pháo trên kia, chàng nghĩ thế. Nếu không, làm sao chúng kiểm soát được vịnh. Chàng nghiến răng đưa tay bóp chặt đùi phía trên đầu gối nhưng chân vẫn co giật. Cũng may trong bóng tối của phòng lái, không ai để ý đến chàng. Cố gắng trầm tĩnh, Stevens nói:
- Đại úy chỉ mất thời giờ với tấm bản đồ này và tự trách mình về việc thả neo ở đây. Dù muốn dù không, với sức gió này chúng ta cũng không thể cho tàu đi nơi khác nhất là đang hỏng máy.
- Đúng vậy, Mallory nói, tay xếp bản đồ lại. Ta không còn chỗ nào khác để thả neo, dù là chúng ta hay bất cứ ai cũng phải làm thế. Ở đây là chỗ lý tưởng để tránh bão và quân Đức đã nhận biết điều đó từ rất lâu rồi. Cho nên lẽ ra tôi phải biết rằng chắc chắn chúng có một trạm gác ở đây. Nhưng bây giờ, "tách sữa đã đổ không thể vớt lên được". Này Brown!
- Có tôi đây, Brown trả lời từ hầm máy.
- Thế nào? Sửa chữa tới đâu rồi?
- Không tệ lắm đâu, thưa Đại úy.
- Phải mất bao nhiêu lâu nữa? Một giờ không?
- Vâng tôi sẽ hoàn thành trong một giờ.
Mallory nhìn ra bên ngoài, đoạn quay sang Andrea và Stevens:
- Chúng ta sẽ đi trong vòng một giờ nữa. Bóng tối sẽ bảo vệ chúng ta khỏi sự quan sát của mấy "ông bạn quý" ở trên cao kia.
- Đại úy có tin rằng họ sẽ tìm cách chận chúng ta lại không? Steven trả lời bằng giọng có vẻ khác thường.
Hầu như chắc chắn Mallory nhận biết điều khác thường đó, nhưng chàng vẫn thản nhiên nói:
- Chẳng có lẽ họ xếp hàng trên bờ để tiếp đón chúng ta sao. Andrea, theo anh nghĩ họ có bao nhiêu người trên kia?
- Tôi đã thấy hai đứa. Có lẽ chúng có ba hoặc bốn. Andreas trả lời. Bọn Đức không phung phí người vào những trạm gác nhỏ này đâu.
- Anh có lý. Chúng tăng cường người hầu hết cho các đơn vị quân trù phòng đóng trong làng, cách đây khoảng mười cây số theo bản đồ, về hướng tây. Không thể…
Chàng chợt ngưng bặt, lặng người. Một tiếng gọi lớn như ra lệnh từ vọng tới. Tự rủa thầm vì đã lơ đễnh không đặt một người trinh sát trên bờ - Chính vì sự cẩu thả đó mà có lần chàng suýt mất mạng ở đảo Crète.. Mallory vén tấm vải dầu bước chậm chạp lên boong. Chàng không mang theo vũ khí nhưng bàn tay trái cầm một chai rượu vang Moselle còn phân nửa.
Giả bộ bước đi xiêu vẹo, suýt nữa thì ngã xuống nước nếu không nắm kịp sợi dây giăng cột buồm, chàng liếc mắt nhìn về phía bóng đen đứng trên bờ không tới mười thước, tự nhủ thầm "cũng chẳng cần phải đặt người trinh sát, bởi vì chỉ có một người lính đeo súng ở vai". Chàng ngửa cổ đưa chai rượu lên miệng tu một hơi, không có gì phải vội vã.
Chàng biết cơn giận làm tím mặt gầy gò, sạm đen của tên lính Đức và tảng lờ như không biết. Chậm rãi, bằng động tác ngụ ý khinh bỉ, chàng đưa tay áo vét đen đã sờn và có tua lên lau môi, liếc nhìn kỹ tên lính Đức từ đầu tới chân trước khi hỏi:
- Ê cái anh kia muốn gì?
Trong chốc lát, chàng chợt hối hận vì đã hơi quá trớn khi thấy tên lính nắm chặt báng súng. Chàng không lo cho tính mạng mình bởi vì trong hầm máy mọi tiếng động đã ngưng bặt và bàn tay của Miller không bao giờ rời khỏi khẩu súng lục có gắn ông hãm thanh, lúc nào cũng sẵn sàng bắn che cho xếp. Nhưng chàng không muốn gây rắc rối nhất là trong lúc này nhất là còn khẩu đại liên ở trên cao kia đang rình rập.
Bằng một cố gắng hầu như có thể thấy được, người lính trẻ tự chủ lại. Chẳng cần phải tưởng tượng nhiều để hiểu sự do dự và phân vân đang xâm nhập vào người hắn. Đó là phản ứng mà Mallory mong đợi. Những người Hy Lạp, kể cả đang say rượu, cũng không bao giờ dám nói với người lính bảo hộ bằng cái giọng như thế, trừ phi được che chở bởi một thế lực nào đó.
- Chiếc tàu này từ đâu đến và các ông đi đâu? Người lính Đức hỏi bằng tiếng Hy Lạp bập bẹ nhưng hiểu được.
Mallory tự thiết đãi mình bằng cách uống thêm một ngụm nữa đoạn giơ cao chai lên và nhìn ngắm nó với vẻ hài lòng tôn kính.
- Có một điều mà các anh, những người Đức, không biết chế tạo, đó là rượu ngon, chàng cất cao giọng nói. Tôi dám cá rằng các anh không bao giờ được thưởng thức loại hảo hạng này.
Người lính nhăn mặt, lạnh lùng nói:
- Tôi hỏi ông: chiếc tàu này ở đâu đến và đi đâu?
- Đây là chiếc Aigion, Mallory ngạo mạn trả lời, có nhiệm vụ đi về phía đông đến tận Samos [1] .
- Theo lệnh ai? Người lính hỏi.
- Ngài tư lệnh ở Vathy [2] tướng Graebel. Chắc anh đã nghe tên?
Tướng Graebel tư lệnh quân nhảy dù Đức nổi tiếng là "kỷ luật thép", ai mà không biết đến, nhất là trong các vùng quần đảo này.
Dù trong bóng chiều tối, Mallory cũng thấy tên lính tái mặt. Nhưng hắn vẫn ương ngạnh.
- Có giấy tờ chứng minh không?
Mallory thở dài, quay đầu rống to:
- Andrea!
- Cái gì vậy mày? Andrea vờ nổi quạu.
Andrea đã nghe rõ từng lời đối thoại của hai người, xuất hiện ở cửa buồng lái, chai rượu cầm nghiêng đổ cả ra tay.
- Mày không thấy tao đang bận sao? Giọng anh ta lè nhè cằn nhằn.
Chợt dừng lại khi thấy người lính Đức, Andrea nhíu mày giận dữ.
- Cái thằng con nít kia nó muốn gì?
- Nó muốn xem giấy phép hành nghề đánh cá của chúng ta và lệnh của tướng Graebel.
Andrea làu bàu biến mất vào trong một lúc. Một sợi dây được quăng vào bờ, kéo đuôi thuyền vào gần chỗ người lính đứng. Giấy tờ được trao cho người lính. Anh ta có vẻ hoàn toàn hài lòng, gấp lại và trao trả cho nhóm, miệng lầm bầm lời cám ơn. Mallory có dịp nhìn kỹ người lính hơn. Hắn còn nhỏ quá, không quá mười chín tuổi, vẻ mặt chất phác khác hẳn những tên SS [3] cuồng tín của chiếc tàu bọc thép hồi chiều. Mallory không muốn phải giết hắn. Nhưng phải tìm cách dò hỏi tin tức càng nhiều càng tốt. Chàng ra hiệu cho Stevens mang lên một két còn sót lại vài chai rượu Moselle vừa thầm nghĩ "Đại tá Jensen thật chu đáo lo lắng cả khoản nước uống này". Đưa ngón tay chỉ bâng quơ trên đồi cao, chàng hỏi:
- Các anh có mấy người trên đó?
Ngay lập tức, người lính Đức lấy lại vẻ nghi ngờ và thù nghịch.
- Tại sao ông muốn biết?
- Chúng tôi sẽ từ Samos trở lại trong hai hoặc ba ngày nữa và thế nào chẳng có một két rượu vang Moselle khác. Tướng Graebel thường rộng rãi với chúng tôi, là những… phái viên đặc biệt của ngài mà. Trên kia, chắc các anh cũng thèm có rượu uống lắm phải không? Mỗi người sẽ được biếu đồng đều một chai. Các anh có bao nhiêu người nhỉ?
Người lính Đức yên tâm khi được Mallory cho biết sẽ còn quay lại đây nữa. Hấp dẫn bởi món quà biếu ngon tuyệt và lo ngại phản ứng của đồng đội nếu hắn từ chối, người lính dẹp ngang mọi nghi ngờ và miễn cưỡng trả lời.
- Chúng tôi chỉ có ba người.
- Vậy thì đây một, hai, ba chai. Mallory vui vẻ đếm và để chứng tỏ cho anh lính bảo hộ biết mình cũng học lóm được vài chữ tiếng Đức, chàng giơ cao chai rượu đang uống lên kêu to:
- Prosit. Auf Windersehen [4] .
Người lính lưỡng lự một giây, hơi xấu hổ đoạn quay người lại và đi dọc theo vịnh tay ôm mấy chai rượu trước ngực.
- Chúng chỉ có ba đứa, Mallory nói, như thế càng dễ cho chúng ta…
- Hoan hô Đại úy! Stevens thốt lên, Đại úy đóng kịch quá khéo!
- Phải! Quá khéo! Đến phiên Miller cho ý kiến. Tôi chẳng hiểu hai bên nói gì, nhưng Đại úy xứng đáng đoạt giải Oscar [5] !
- Cám ơn, Mallory nói. Nhưng tôi e rằng lời khen ngợi của các anh hơi quá sớm… Hãy nhìn kìa!
Người lính trẻ đứng lại cách bờ vịnh khoảng hai trăm mét và sau cái giật mình kinh ngạc hắn bước qua giữa rặng cây. Một người lính khác ló đầu ra, nói với hắn điều gì đó, tay chỉ về phía chiếc tàu đậu trong vịnh. Rồi cả hai đều biến mất.
- Chúng ta lại phải làm lại từ đầu, Mallory nói. Có điều gì đó xảy ra. Nhưng phải làm sao để đánh lạc hướng nghi ngờ của bọn chúng. Đừng cho họ có cảm tưởng chúng ta đang họp bàn âm mưu gì đó.
Miller xuống trở lại trong hầm máy với Brown, Stevens bước vào buồng lái. Mallory cố không để ý đến những người lính canh nghĩ gì. Vấn đề là phải ra khơi nhưng với điều kiện… Khẩu đại liên của chúng đừng ngăn cản… Thế thôi!
- Theo Đại úy, chuyện gì đã xảy ra? Stevens hỏi.
-Thật khá rõ ràng. Chúng đã nhận được tin, bằng cách nào tôi không thể biết. Bọn chúng chắc đã được báo động về một vụ chiếc tàu tuần tra bị mất tích, khiến mọi nghi ngờ chúng ta thêm gia tăng. Anh có nhớ tên lính khi nãy mang theo trên lưng vô tuyến và ăng-ten. Có lẽ chúng luôn giữ liên lạc với chỉ huy của chúng, bằng vô tuyến, bằng điện thoại, và chúng đều hoảng hốt về tin tức vừa nhận được.
- Vậy thì có lẽ chỉ huy của quân Đức sẽ điều một đội quân đi xét hỏi chúng ta, Miller nói bằng giọng bi đát.
Bộ óc của Mallory hoạt động nhanh chóng và chàng cảm thấy tự tin một cách lạ lùng.
- Không, Mallory nói. Sở chỉ huy của chúng cách đây mười cây số theo đường chim bay, hoặc có thể mười tám nếu đi xuyên qua núi rừng… và nhất là trong đêm tối. Họ không làm thế đâu.
- Vậy thì chúng ta phải chờ cho đến khi khẩu Spandau của chúng nhả đạn vào chúng ta sao? Stevens lại hỏi.
- Không, Mallory nói. Dù nghi ngờ, bọn Đức vẫn kiêng dè chúng ta vì tên lính trẻ thế nào cũng cho đồng đội biết rằng chúng ta có lệnh do tướng Grabebel ký. Chúng không dại dột gì mà liều lĩnh nổ súng. Tuy nhiên, có lẽ chúng đã đánh tín hiệu về Samos để xin xác minh và đang chờ đời điện trả lời, trễ lắm là trong vòng nửa giờ.
- Nhưng ở lại đây và viết di chúc thì được ích lợi gì, Miller mỉa mai. Phải làm điều gì chớ.
- Hãy yên tâm đi, hạ sĩ. Chúng ta sẽ đắm mình trong cuộc chè chén say sưa thật vui, thật ồn ào trên boong tàu…
Đây là bài hát thứ ba của họ ngân dài từng chuỗi trong không trung. Mallory không tin rằng tiếng hát của nhóm sẽ vang lên đến tận tháp canh vì gió ngược, nhưng lối nhảy nhót, dậm chân, cụng chai nhau chắc chắn sẽ không lọt qua cặp mắt dò xét của bọn Đức trừ phi chúng mù và điếc. Thái độ của họ chắc chắn không phải là thái độ của những gián điệp khi biết bị nghi ngờ, sẽ không để mất thì giờ. Những người đang rình rập từ tháp canh chắc chắn cũng nghĩ thế hoặc đang phân vân bối rối.
Mallory nhìn ba người ngồi gần chàng: Miller, Stevens và Brown. Còn Andrea thì núp trong buồng lái lưng đeo súng ngắn và tay cầm bao lựu đạn.
- Bây giờ đã đến lúc đóng phim cho xứng với giải Oscar anh tặng cho tôi, Mallory nói với Miller. Chúng ta giả bộ đánh nhau.
Cả hai vừa la lối, vừa lăn xả vào nhau, tay chân đấm đá túi bụi. Mallory vờ rú lên đau đớn ngã xuống. Miller chạy tới chụp lấy cây sào bổ xuống đầu chàng, nhưng những người khác kịp giữ tay anh ta lại và cố gắng can ra trong tiếng la ó huyên náo. Lợi dụng lúc lộn xộn, Andrea đã lặng lẽ biến mình dưới nước và lặn vào bờ.
Một phút sau, theo đúng luật giang hồ của bợm nhậu, cả hai lại làm hòa bắt tay nhau và cụng chai uống tiếp.
- Vai đóng đạt lắm, Mallory nói. Phải tặng một Oscar cho hạ sĩ Miller.
- Tôi chẳng khoái chút nào xếp ơi, Miller nói ủ rũ. Lẽ ra Đại úy phải để tôi đi cùng với Andrea. Một mình anh ta phải chọi với ba đứa trên kia nhất là bọn chúng lại đang tư thế sẵn sàng. Quỷ bắt tôi đi! Đại úy há không nói rằng sứ mạng của chúng ta rất quan trọng sao?
- Chính vì quan trọng mà tôi không phái anh đi theo Andrea. Không ai trong chúng ta được đi cả bởi vì chúng ta chỉ làm anh ta thêm vướng bận. Anh chưa hiểu Andrea đâu, anh Dusty.
Lần đầu tiên Đại úy Mallory thân mật gọi Miller bằng tên riêng khiến anh ta cảm động. Đại úy nói tiếp:
- Trong các anh chưa ai hiểu được Andrea con người khổng lồ nhưng luôn tươi cười và bông đùa. Nhưng tôi, tôi hiểu anh ấy. Trong lúc này, anh ta bước xuyên rừng như mèo, một con mèo lớn và nguy hiểm nhất. Chỉ trừ phi bọn lính gác chống cự lại, chứ Andrea không cần giết người nếu không cần thiết. Khi phái Andrea đi, tôi hoàn toàn tin tưởng chúng bị vô hiệu hóa chẳng khác gì chúng đang ngồi trên ghế điện và tôi ngồi đây bấm nút.
Năm phút trôi qua, có thể đã mười phút, những người trên thuyền vẫn say sưa ồn ào. Trời đã tối hẳn. Chiếc thuyền bắt đầu chòng chành do những đợt sóng lớn. Những cây thông trên vịnh trong bóng tối hợp thành một cái vòm đen cao lớn và tiếng gió than vãn như kinh cầu hồn xuyên qua các ngọn cây. Một đêm nặng nề như đe dọa, đầy linh cảm chẳng lành đánh thức sự sợ hãi.
Bất chợt, tiếng gọi vui vẻ của Andrea từ trên bãi như kéo họ ra khỏi cơn thôi miên và họ đều đứng bật dậy. Nụ cười của anh ta vang lên ròn rã khiến cho khu rừng như có vẻ lui lại vì thất bại. Không chờ cho đuôi thuyền tiến lại gần bờ, Andrea đã phóng mình xuống nước, bơi sải chừng mười hai cái đã chạm tay vào mạn thuyền và đu lên dễ dàng.
Vẫn luôn tươi cười, anh ta lắc người ướt nhẹp và đưa tay đón lấy chai rượu.
- Chắc khỏi cần phải hỏi anh đã giải quyết xong tháp canh chưa? Mallory mỉm cười hỏi.
- Hoàn toàn khỏi cần. Thật quá dễ. Toàn là mấy đứa nhắt. Chúng cũng chẳng nhìn thấy tôi.
Andrea ngửa đầu tu một hơi và tiếp tục kể, giọng đắc thắng:
- Bọn nhãi đang trố mắt nhìn chúng ta qua lỗ hổng của tháp canh. Tôi ra lệnh cho chúng giơ tay lên, trước súng của chúng và nhốt chúng trong một căn hầm. Sau đó, tôi phá hư khẩu đại liên Spandau của chúng. Đơn giản chỉ có thế.
° ° °
Bây giờ thế là hết, Mallory buồn bã nhủ thầm. Thế là chấm dứt mọi cố gắng, mọi hy vọng, mọi sợ hãi, mọi tình cảm, mọi vui mừng. Chấm dứt với tất cả năm người ở đây và một ngàn hai trăm người ở Khéros. Trong khi chàng đưa tay chùi bọt sóng mặn chát bắn trên môi, và mở to mắt nhìn vào bóng tối thăm thẳm nơi đang tung hoành cơn giông bão, nỗi tuyệt vọng không khoan nhượng cay đắng xâm chiếm tâm hồn chàng. Tất cả đã mất, tất cả sẽ biến mất, trừ những khẩu đại bác thành Navarone. Chúng trở thành bất khả tiêu diệt. Chúng mãi mãi bị nguyền rủa, nguyền rủa!
Chiếc thuyền nhỏ đang hấp hối, kêu răng rắc khắp nơi, liên tục bị tấn công cho đến chết. Đuôi thuyền chúi xuống mặt nước, mũi thuyền điên cuồng dựng đứng lên không trung, rồi lại kinh hồn đập xuống. Những cây đà và những tấm ván mệt mỏi, rạn nứt dần.
Khi nãy, lúc cho tàu nổ máy rời khỏi vịnh để đi theo hướng bắc, về phía Navarone, tình thế đã khá lo ngại. Thật là vô cùng khó khăn để giữ cho thuyền đi đúng hướng, bởi vì sóng đập vào thân bên phải thuyền, khiến nó chệch một góc 50 độ, nhưng lúc đó nó vẫn còn nguyên vẹn.
Nhưng bây giờ, gần nửa lô ván bắt đầu tách rời khỏi mũi. Nước dâng lên trong thuyền nhanh đến nỗi cái máy bơm bằng tay không kịp hút nước ra. Những đợt sóng quái ác cũng không còn đều đặn. Gió cũng bắt đầu nhân đôi sức mạnh, đổi hướng liên tục giữa tây nam và đông nam. Ngay lúc này, nó đang từ hướng nam thổi tới và đẩy con tàu bất trị trôi dạt mạnh mẽ về dãy núi đá của hòn đảo Navarone, dãy núi dựng đứng nhưng vô hình trong bóng tối dày đặc.
Mallory đứng thẳng người một chút, cố làm dịu cơn đau nhói ở vùng thận. Từ hơn hai giờ, chàng liên tục nhấc lên và đổ xuống biển hàng ngàn xô nước, do Miller liên tục múc đầy trong hầm tàu. Chỉ có thượng đế biết Miller cảm thấy thế nào. Việc làm của anh ta hết sức nặng nhọc, và từ nhiều giờ, anh lại đang bị say sóng. Diện mạo anh ta thật đáng sợ, như diện mạo người chết, và cái ý chí theo đuổi nỗ lực trong tình trạng này vượt qua giới hạn của anh.
Mallory ném một cái nhìn ra phía sau để xem các bạn khác ra sao. Lẽ dĩ nhiên chàng không thể không gặp Casey Brown, giam mình trong buồng máy hẹp, cũng đau khổ vì say sóng và ngoài ra còn chịu thêm cái ách nhức đầu gây nên bởi khói được lọc và thoát ra ngoài qua ống thoát hơi mới chế. Tuy nhiên, luôn nghiêng mình trên mô-tơ, anh ta không một lúc nào rời khỏi vị trí từ lúc họ ra khỏi vịnh, và anh ta chăm sóc cái mô-tơ hiệu Kelvin già yếu với vẻ trìu mến tận tâm cộng với khéo léo tuyệt vời của con người hãnh diện sinh ra từ dòng dõi thợ máy. Động cơ này chỉ cần ngưng nổ một giây, thế là tai họa khủng khiếp lập tức. Khả năng còn lái được và mạng sống của năm người tùy thuộc hoàn toàn vào sức đẩy không ngừng nghỉ của chân vịt và hai ống hình trụ rỉ sét đang chăm chỉ dao động. Đó là trái tim của thuyền. Nếu nó ngừng đập, thuyền sẽ chết và tan tành trong vực thẳm đang chờ đón họ.
Ở phía trước buồng máy, Andrea đang cong lưng, hai chân soạc ra, vận dụng ống bơm liên tục, không bao giờ ngẩng đầu lên, không cần biết đến độ lệch của hướng đi, không chú ý đến cơn gió rát da và bụi nước lạnh ngắt làm hai tay của anh ta sưng phồng. Không mệt mỏi, cánh tay của anh nhắc lên và hạ xuống đều như cái pít-tông. Anh ta điều khiển ống bơm từ ba giờ và có vẻ đủ sức tiếp tục mãi mãi, khiến Mallory tự hỏi sự chịu đựng dẻo dai của anh ta phải chăng là vô bờ bến.
Stevens cũng làm chàng ngạc nhiên. Suốt bốn tiếng đồng hồ, anh ta không rời tay lái là một cái thanh sắt luôn chấn động và như bướng bỉnh tìm mọi cách để thoát khỏi bàn tay đuối sức của người thuyền trưởng trẻ tuổi. Anh ta đang làm một công việc hết sức khó khăn, đó là lái chiếc tàu bé nhỏ và bệnh hoạn này giữa cơn giông bão, và anh ta đang hoàn thành nó một cách vững vàng và đáng phục. Bụi nước quất vào mặt Mallory làm chàng mờ mắt, nhưng chàng cũng nhìn thấy được qua màn nước hai môi mín chặt của Stevens, đôi mắt quầng thâm vì thiếu ngủ và một giòng máu luôn rỉ ra từ vết thương trên thái dương. Một đợt sóng khổng lồ đã đập bể cửa sổ của phòng lái, dữ dội và đột ngột đến nỗi Stevens không kịp né tránh và lãnh trọn một mảnh nhọn vào thái dương phải.
Tim thắt lại, Mallory quay người đưa tay đỡ lấy xô nước đầy. Chàng không biết phải dùng từ nào để mô tả những nhân viên của chàng, vì tinh thần chàng quá mệt mỏi nhưng vả lại cũng không có đủ từ để ca ngợi họ.
Tại sao những người đang chịu trận đòn nhừ tử này phải chết một cách phi lý? Có lẽ không cần thiết phải biện minh cho cái chết dù là cái chết không vinh quang, vô ích. Người ta không thể chết cho lý tưởng hoặc cho cái gì đó trừu tượng hay sao? Những người tử đạo đã hoàn thành được gì khi bị thiêu sống trên giàn hỏa? Nếu người ta đã sống xứng đáng thì cách chết quan trọng ra sao? Mallory ghê tởm nhớ lại những lời của đại tá Jensen về Bộ Tư lệnh Tối cao chơi trò "Ai sẽ làm Vua" với quân địch. Vậy thì họ đang ở trong cuộc của ván cờ. Những con chốt này sắp mất. Điều đó không quan trọng với họ, bởi vì họ còn hàng vạn con chốt khác để chơi.
Lần đâu tiên, Mallory nghĩ đến chính mình, không phải để than trách số phận cũng không phải để nuối tiếc đã mất tất cả. Chàng chỉ nghĩ đến vai trò làm trưởng nhóm trong cuộc viễn chinh này, đến trách nhiệm của chàng trong tình thế hiện tại. "Lỗi tại tôi, chàng tự lập lại, tất cả do lỗi của tôi. Chính tôi đã dẫn họ đến đây, buộc họ đến đây".
Dù biết rằng nếu ở lại trong vịnh, bọn Đức sẽ tiêu diệt họ trước khi trời sáng, Mallory cũng tự mắng mình đã bó buộc đồng đội đương đầu với bão tố và bây giờ chàng không thể làm khác họ, nghĩa là đồng chờ chết. Tuy nhiên, chàng là xếp và phải tìm ra một giải pháp để cứu họ, nhưng chưa tìm thấy được.
Chàng đánh rơi xô nước, bám chặt vào cột buồm để khỏi bị đợt sóng to như mái nhà đập xuống boong cuốn phăng đi, bọt nước cuồn cuộn trắng xóa, sáng ngời như có lân tinh. Chiếc thuyền nhào lộn chòng chành, nghiêng ngả, chúi xuống như trong khoảng trống, bởi không ai thấy gì hết, kể cả nơi mà đợt sóng vừa qua biến mất nhường chỗ cho đợt kế tiếp. Biển tối đen như mực trở nên vô hình, xa cách lạ lùng, nhưng đáng sợ gấp bội vì ta luôn có cảm giác nó ở gần bên có thể sờ soạng được.
Mallory nhìn xuống hầm tàu và mơ hồ nhớ rằng Miller đang lặn hụp dưới đó. Có lẽ anh ta đã chết ngộp mất. Cần phải khẩn cấp tới đó ngay. Một cơn sóng lớn hơn xô tới và tan nhanh trên boong. Chàng chợt hiểu:
Gió! Gió đã bớt và đang yếu sức dần. Trong khi chàng ôm chặt cột buồm bằng hai cánh tay để chống lại đợt sóng thứ hai này, chàng nhớ lại khi xưa lúc ở trên một dãy núi cao, chàng đang đứng dưới chân một vực thẳm trong khi gió lồng lộn tìm đường ít cản trở nhất, nên đã tung hoành dọc hai bên vách đá bên ngoài, còn chỗ chàng đứng là một cái hóc nhỏ hơn tương đối yên tĩnh. Hiện tượng này, mọi vận động viên leo núi đều biết. Ý nghĩa của hai đợt sóng khủng khiếp vừa qua và sức yếu của đột ngột của gió đập mạnh vào tâm trí chàng. Núi đá! Vậy thì nhóm chàng đang ở gần vách núi đá phía nam hòn đảo Navarone.
Chàng rống lên khản cả giọng vừa lảo đảo chạy tới hầm máy xuyên qua màn nước.
- Tất cả hãy lui lại! Chàng hét lên. Lạy Chúa! Hãy lui lại! chúng ta sắp đâm đầu vào vách đá!
Bằng hai bước, chàng tới buồng lái. Bàn tay chàng run rẩy tìm một trái sáng.
- Núi đá, Stevens! Phải ném trái sáng lên xem nó ở đâu?
Chàng thấy Stevens gật đầu, Chàng nhìn bên ngoài tối đen như mực. Tuyệt vọng, Mallory cầm trái sáng dộng mạnh, chợt nó xé gió bay vút lên theo quỹ đạo hầu như ngang mặt nước. Mallory tưởng nó bị tắt, chàng giận dữ nắm chặt hai tay bất lực. Chợt nó đụng vào vách núi, rớt trên một hòn đá lồi ra và ở bên trên mặt nước khoảng bốn mét, bốc khói và cháy ngập ngừng trong cơn mưa và bọt sóng.
Ánh sáng yếu ớt nhưng vừa đỏ cho thấy dãy núi đá chỉ còn cách họ chừng bốn mươi mét. Và thẳng trước mặt họ, có lẽ cách bờ mười lăm mét, một lớp đá ngầm với những răng lởm chởm như kim nhọn đang tua tủa chờ họ.
- Anh có thể đi qua được không? Mallory hỏi Stevens.
- Cầu Chúa giúp! Tôi sẽ thử!
Anh ta nói thêm về tốc độ cần thiết, nhưng lúc ấy Mallory đã bước ra ngoài. Như mọi khi, gặp hoàn cảnh gay go, đầu óc chàng lại đối ứng nhanh như tên bắn, sáng suốt và bình tĩnh lạ thường.
Chàng lấy móc sắt, búa và sợi dây, ruột bằng kim loại đoạn quay trở lại boong trong vài giây. Hông tàu va mạnh vào một tảng đá ngầm khiến Mallory té quỵ trên hai đầu gối. Hòn đá cào rách mạn thuyền nhưng bàn tay của Stevens bẻ quặt tay lái qua một bên cho tàu lướt tới vừa hét to:
- Tất cả hãy lùi ra sau!
Mallory lảo đảo trỗi dậy, nhanh chóng quấn sợi dây qua cổ và dưới vai trái, nhét móc câu và búa vào thắt lưng. Khoảng cách giữa tàu và vách tường dựng đứng đứng của núi đá càng lúc càng gần với tốc độ khủng khiếp. Mallory không ngừng tự nhủ "Chỉ còn một cơ hội duy nhất, là làm sao lên được mỏm đá nhô ra trên kia, tuy nhiên còn hơi xa, hầu như không thể lên tới được, nhưng dù sao nó cũng là một thử thách độc ác và cuối cùng".
Sau khi cố gắng vất ra ngoài những vỏ xe tải cũ và tất cả những gì có thể che chở tạm cho con thuyền hấp hối, Andrea hiểu ý đặt lên vai Mallory bàn tay khích lệ:
- Mỏm đá lồi?
Mallory gật đầu, hai đầu gối hơi chùng xuống, hai chân sẵn sàng trong tư thế nhảy.
- Đại úy phải nhảy thật cao mới với tới nó được. Sau đó nhớ giữ hai chân thật cứng nhé.
Chiếc tàu đang lảo đảo trên đầu sóng chường hông về phía vách núi và đang được đẩy lên cao. Không chút chậm trễ, đây là giây phút thuận lợi nhất. Mallory biết thế. Hai tay chàng quặt ra sau, hai chân nhún xuống, và như một con mèo thu người lại để rồi phóng lên không trung. Mười ngón tay của chàng bấu chặt vào bìa mỏm đá ẩm ướt. Trong giây lát, chàng treo người lơ lửng, hai tay duỗi thẳng, không thể động đậy được, rùng mình khi nghe bên dưới tiếng cột buồm gãy làm đôi.
Chậm chạp, có phương pháp của một vận động viên leo núi, chàng đưa tay sờ soạng vách đá tìm một đường nứt làm bàn đạp để leo lên. Mười lăm giây sau, chàng đã đứng trên mỏm đá lồi.
Nhanh nhẹn và an toàn, vừa cố giữ thân người được thăng bằng trên hòn đá trơn và nghiêng. Mallory đóng thật chắc một cái đinh móc vào khe đá, sau đó chàng thả đầu dây kia xuống thuyền.
Không đầy một phút trôi qua chiếc tàu sau khi va vào vách đá, chỉ còn là một cái xác ngổn ngang. Cứ trong vài giây một đợt sóng lại xô đẩy nó vào vách, những vỏ xe tải cũng không che chở nó được bao nhiêu, và cứ mỗi cú sốc, sườn tàu lại thủng, ván gỗ vỡ nát.
Ba người đang đứng gần buồng lái là phần duy nhất còn sót lại. Chỉ có ba, và bất chợt Mallory nhận ra là thiếu Casey Brown, và động cơ vẫn đang nổ. Brown vẫn cố gắng duy trì máy nổ tối đa ngay trong giây phút vỏ tàu đang tan thành mảnh vụn này. Mallory lầm bầm "Trời ơi! Anh ta điên chắc?"
Lại một đợt sóng mới đập tàu vào vách, lần này hung bạo đến nỗi buồng lái sụp đổ. Stevens bị hất văng xuống nước, thân người mềm nhũn. Anh ta sẽ chết đuối hoặc sẽ bị đợt sóng kế tiếp xô xác tàu nghiền nát người anh vào vách đá, nếu Andrea không lao theo vớt anh lên kịp.
Mallory thét lên:
- Hãy đu dây leo lên mau! Lạy Chúa! Tàu sắp chìm rồi!
Chàng thấy Andrea đang đỡ Stevens đứng dậy và thầm thì vào tai anh ta. Stevens tuy nôn ọe ra nước và máu những vẫn còn tỉnh táo. Anh ta nắm lấy sợi dây, bên dưới nhờ Andrea đẩy, bên trên Mallory với tay kéo anh lên. Cuối cùng Stevens cũng leo lên được tới nơi, lưng anh tựa vào vách núi, tay níu vào móc sắt, mệt mỏi nhưng thoát nạn.
- Miller đến phiên anh đây! Mallory la to. Nhanh lên!
Miller nhìn chàng, mỉm cười, và thay vì nắm bắt sợi dây, anh lại nói:
- Một phút, thưa xếp. Tôi quên "bàn chải đánh răng".
Anh ta chạy vào ca-bin và trở lại vài giây sau, tay ôm thùng màu xanh đựng chất nổ. Trước khi Mallory hiểu điều gì xảy ra thì thùng gỗ hai mươi lăm ký lô đã được hai tay không mệt mỏi của anh chàng khổng lồ người Hy Lạp chuyển tới tay chàng. Rồi sau đó là máy vô tuyến điện được bọc trong bao chống nước.
Mallory hét to:
- Cứ để những vật quỷ quái đó qua một bên. Các anh hãy leo lên ngay!
Hai cuộn dây leo núi, thùng đựng quần áo và thực phẩm lại tiếp tục được đưa lên.
- Các anh có nghe tôi nói không? Mallory giận dữ. Các anh phải leo lên ngay. Đây là lệnh! Tàu đang chìm rồi!
Thật thế, tàu đang chìm nhanh. Nước đã tràn ngập trên mọi thứ, và Casey Brown bó buộc phải rời khỏi cái mô-tơ hiệu Kelvin đang nằm yên dưới nước.
- Tôi không nghe xếp nói gì cả, Miller chối. Vả lại tàu chưa chìm.
Nói xong, anh ta lại lặn hụp vào ca-bin.
Trong vòng ba mươi giây, cả nhóm làm việc cật lực, và toàn bộ vật liệu cần thiết được câu lên mỏm đá lồi. Khi Brown leo lên thì cả đuôi tàu đã chìm dưới biển, đến phiên Miller thì mũi thuyền là là sát mặt nước, và cuối cùng khi Andrea đu lên thì hai chân chàng lơ lửng trên biển trống. Chiếc thuyền đã hoàn toàn biết mất, không để sót lại bất cứ vật gì dù là mảnh vụn, dù là một bọt khí để đánh dấu chỗ tàu vừa đắm:
Mỏm đá nhô ra không tới một mét và hai đầu thon lại. Điều tệ hại hơn là chỗ bề mặt tương đối phẳng nơi Stevens chất đồ đạc, lại nghiêng ra ngoài và trơn nhẵn. Lưng áp sát vào vách đá, Andrea và Miller phải đứng trên gót, hai bàn tay bám sát vách để giữ thăng bằng. Chưa đầy một phút, Mallory đã đóng thêm hai móc sắt khoảng năm mươi phân phía trên mỏm đá, để ràng dây làm thành đai an toàn cho cả nhóm.
Mệt mỏi, Miller ngồi xuống, áp ngực vào dây an toàn, rút trong túi ra một bao thuốc lá và mời mọi người, quên rằng mưa đã làm điếu thuốc ướt nhẹp. Chính anh ta cũng ướt như chuột lột từ đầu đến chân, hai đầu gối rướm máu vì bờ vách nhọn hoắt và cảm thấy lạnh kinh khủng, sợi dây trước ngực gây khó thở kiệt sức sau hằng giờ mệt mỏi và say sóng. Tuy nhiên anh ta cũng thành thật thốt lên:
- Lạy Chúa! Như thế này không tuyệt hơn sao?
--------------------------------
| 1 | Rommel: Thống chế D8ức trong quân đội của Hitler. |
| 2 | Samos: tên hòn đảo trên biển |
| 3 | Vathy: tên hòn đảo trên biển |
| 4 | SS (Viết tắt của chữ Schutz – Staffel): tên lực lượng cảnh sát đặc biệt của chế độ phát xít Đức, thường quản lý các trại tạp trung và các lãnh thổ do Đức chiếm đóng |
| 5 | Prosit. Auf Wiedersehen: Uống mừng sức khỏe! Chào tạm biệt (tiếng Đức) |
❀ ❀ ❀
[1] 1
[2] 2
[3] 3
[4] 4
[5] 5