Đồng hồ của Mallory chỉ tám giờ ba mươi tối. Còn đúng nửa tiếng nữa là giới nghiêm. Mallory nằm rạp trên mái nhà, sau một bức tường thấp tiếp cận với những bức tường cao hơn của pháo đài. Chàng hồi hộp vô cùng. Chỉ cần một người lính gác nào đó có đèn bấm, đi tuần trên con đường ven bờ tường bên trong, tò mò nhìn xuống, là chàng và các bạn sẽ bị phát giác ngay. Nếu ánh đèn pin quét xuống, chàng và Dusty Miller nằm phía sau, đang ôm cái bình ắc quy to của chiếc xe tải, sẽ không tài nào tránh khỏi. Cách đó hai mái nhà Brown và Louki đang lo thắt sợi dây thành nhiều nút khoảng cách đều nhau và cột cái móc sắt vào đầu một cây sào bằng tre, mà họ đã nhổ từ một hàng rào khi từ lâu đài Vygos trở về đây, trong khi một đoàn ba chiếc xe tải chở đầy lính Đức gầm rú tiến về hướng lâu đài.
Tám giờ ba mươi phút! Trời ơi! Andrea làm gì ở đằng kia lâu thế? Mallory sốt ruột tự hỏi nhưng chàng tự trấn an ngay. Andrea không bao giờ hoang phí một giây. Tốc độ là chính yếu, nhưng hấp tấp có thể là điều bất hạnh. Chàng và các bạn đã nhận định rằng ít có khả năng còn nhiều sĩ quan Đức bên trong căn nhà này vì phân nửa quân số trú phòng đã được tung ra lục soát thành phố hoặc ngoại ô trong khu vực xung quanh lâu đài Vygos. Nhưng nếu… chỉ cần một tên lính Đức trong pháo đài lên tiếng báo động, thế là hết.
Mallory nhìn vết phỏng trên lưng bàn tay bất giác mỉm cười nhớ lại chiếc xe tải bị chàng đốt. Có lẽ đó là đóng góp duy nhất của chàng vào những thành tích của nhóm trong tối nay. Còn Andrea thì phát hiện ra căn nhà này ở phía tây quảng trường thuộc dãy nhà dành cho các sĩ quan Đức. Đó là đáp số cho vấn đề nan giải của cả nhóm: nếu lọt được vào bên trong, sẽ không lo bị khám xét.
Chính Miller khi nãy đã phải lên tiếng báo động về tình trạng mất ngòi nổ chậm, máy phát điện, máy từ điện và đòi hỏi phải có bằng được một bình ắc quy. Andrea đã tìm cách bít lối đi của một chiếc xe tải, khiến bọn lính Đức đành phải xuống đi bộ tới lâu đài. Anh ta chỉ cần vài giây để uy hiếp tài xế, trói hắn lại và giấu dưới một cái hố đang khi Miller lo tháo vít để lấy cái bình ắc quy nặng nề, sau đó họ lấy thùng xăng gắn bên dưới cái bậc lên xe, tưới lên máy và ca-bin. Chiếc xe cháy rụi đã xóa sạch dấu vết bị mất bình ắc quy.
Mallory cảm thấy Miller đụng vào mắt cá chân, chàng quay lại, Miller đưa ngón tay chỉ Andrea đang ra dấu cho hai người. Anh chàng Hy Lạp khổng lồ đã rón rén tới chỗ hai người một cách hết sức nhẹ nhàng đến nỗi Mallory đang bị thu hút bởi những ý nghĩ cũng không biết có Andrea tới. Nhanh như cắt, anh ta đỡ lấy bình ắc quy từ tay Miller, dặn Miller đi gọi Brown và Louki rồi anh ta lại đi trên mái nhà mà không một tiếng động. Đối với Miller thì bình ắc quy nặng ngàn cân, nhưng Andrea ôm nó, trèo qua cửa sập, và leo xuống bên trong nhà một cách dễ dàng như không có nó.
Qua cánh cửa mở, Andrea bước ra bao lơn. Bên dưới ba mươi mét là hải cảng chìm trong bóng tối. Mallory theo sát anh ta và hỏi:
- Không có gì trục trặc chứ?
- Hoàn toàn không, anh Mallory. Không có ai ở nhà. Tôi đã dò xét kỹ hai lần rồi.
- Tuyệt lắm! tôi cho rằng bọn sĩ quan đã lên đường đi truy lùng chúng ta. Họ đâu ngờ chúng ta đang ngồi trong phòng khác của họ.
Mallory tiến sát tới chấn song của bao lơn và đưa mắt nhìn xuống. Chàng rùng mình. Chàng lùi một bước, lắc lư chấn song và hỏi:
- Anh có tin rằng mấy chấn song này còn chắc không?
- Tôi cũng không biết nữa, Andrea nói. Nhưng tôi hy vọng không xảy ra chuyện gì đâu.
- Mặc kệ! Mallory nói. Đằng nào tôi và Miller cũng sẽ leo xuống đây.
Chàng lại cúi người qua chấn song một lần nữa và ngoảnh đầu sang phải. Trong màn mưa đêm, chàng có thể thấy lờ mờ cánh cửa ra vào hầm hai khẩu đại bác có lẽ cách chỗ chàng đứng một trăm hai mươi mét và ít nhất là chín mươi mét trên cao vách núi thẳng đứng. Cửa vào hầm thật khó đến gần chẳng khác gì hầm đại bác đó đang ở trên mặt trăng.
Chàng quay đầu lại và nghe tiếng bước chân khập khiễng của Brown.
- Trung sĩ Brown! Anh hãy chốt ở mặt trước ngôi nhà. Hãy đứng gần cửa sổ và đừng khóa cửa chính. Nếu có ai đến, cứ để họ vào.
- Và tôi sẽ đánh gục hoặc đâm họ nhưng không được nổ súng. Có phải thế không, Đại úy?
- Đúng vậy.
- Đại úy có thể yên tâm trao cho tôi nhiệm vụ này, Brown nói xong liền bước đi.
Mallory quay sang Andrea:
- Đồng hồ của tôi bây giờ là chín giờ kém hai mươi ba phút.
- Của tôi cũng thế, chín giờ kém hai mươi ba.
- Chúc may mắn, Mallory nói khẽ.
Và chàng quay sang mỉm cười với Miller.
- Chúng ta đi, Miller. Vở kịch bắt đầu mở màn.
Năm phút sau, Mallory và Miller đã ngồi trong một tửu quán ở phía sau quảng trường. Mặc dù màu xanh sặc sỡ và nhức mắt được tô trên các bức tường, trên bàn, trên ghế và trên cả sàn gỗ - màu xanh dương và đỏ dành cho các quán giải khát, màu xanh lá cây dành cho các hàng mứt kẹo, điều đó hầu như trở thành quy luật trên các hòn đảo – quán này có vẻ âm u, kém ánh sáng, và nghiêm trang như những vị anh hùng trong chiến tranh giành độc lập, với hàm râu oai vệ, mà chân dung được treo trên bốn bức tường.
Mallory mừng thầm vì ánh áng yếu ớt tỏa ra từ hai ngọn đèn dầu. Với bộ màu sậm mà chàng và Miller đang mặc, do Louki cung cấp, áo vét có đường viền, giày bốt cao, khăn bịt đầu có tua đen, hai người trông giống hoàn toàn tám, chín người dân đảo đang hiện diện trong quán. Vả lại Louki đã xác nhận với họ rằng chủ quán là một người Hy Lạp yêu nước và ông ta không có tính soi mói về những người khách lạ khi có sự hiện diện của quân Đức trong quán. Và hiện giờ, đang có bốn người lính ngồi quanh một cái bàn ở gần quầy, và vì thế Mallory rất hài lòng vì căn phòng nửa tối nửa sáng này.
Miller đốt một điếu thuốc chế tạo tại địa phương và nhăn mặt nói:
- Mùi hắc quá, Đại úy.
- Mùi "hachich" đấy, Mallory nói vắn tắt. Đó là tai ương của các đảo.
Và chàng hất đầu về phía góc tối nhất bên kia:
- Dân ở đây họ hút loại thuốc này mỗi tối. Hình như có người sống chỉ để hút.
- Chà! Cứ như phải chịu đựng cảnh hun khói thuốc này trong khi họ vừa hút vừa hợp xướng thế kia chắc Toscanini cũng phải ngả mũ chào!
Mallory nhìn nhóm ít người trong góc đang quây quần chung quanh một người trẻ tuổi đang chơi đàn bonzouko, loại đàn mandoline dài, để đệm những bài hát thương nhớ quê hương của các tay nghiện thuốc hachich. Có lẽ âm nhạc này có một ma lực buồn và mơ mộng, nhưng trong lúc này, nó càng làm cho thần kinh của chàng và Miller thêm căng thẳng.
- Phải! Nghe thật nhức óc, Mallory nhìn nhận, nhưng nhờ thế mà chúng ta mới nói chuyện với nhau mà không bị chú ý. Chứ nếu bọn người này mà đi khỏi quán…
- Tôi sẽ im lặng ngay, Miller càu nhàu.
Và anh ta bắt đầu nhăn nhó ráng nuốt món ăn "hầm bà lằng" trong đĩa gồm có trái ô liu cắt từng lát, gan bò, phó mát và táo. Là người Mỹ chuyên uống rượu bourbon lâu đời của Pháp, Miller không tán thành cái thói quen của người Hy Lạp là vừa ăn vừa uống đồng thời. Bất chợt, anh ta dụi nát điếu thuốc đang hút dở và ngước mắt nhìn Mallory.
- Lạy Chúa! Còn bao lâu nữa Đại úy?
Mallory biết rõ điều mà Miller đang cảm thấy, bởi vì điều lo lắng của Miller cũng là điều lo lắng của chàng và thật khó chịu đựng lâu nổi. Biết bao nhiêu sự việc chỉ tùy thuộc vào vài phút sắp tới. Chính những phút sắp tới này sẽ quyết định rằng mọi gian khổ, công lao của họ là cần thiết hay không, rằng sự hy sinh của Andy Stevens là có ích hay vô ích, rằng một ngàn hai trăm người ở Khéros sẽ sống hay chết.
Mallory lại nhìn nét mặt mệt mỏi, đôi môi mím chặt, đôi bàn tay nóng nảy của Miller. Chàng nghĩ thầm rằng trừ Andrea ra, trong tất cả những người chàng biết, chỉ có anh chàng người Mỹ này xứng đáng là người bạn đồng hành tối nay của chàng. Đại tá Jensen đã nói rằng anh ta là chuyên viên chất nổ số một của miền Nam Châu Âu. Anh ta từ xa đến đây chỉ để hoàn thành độc nhất nhiệm vụ đó. Đêm nay là đêm cuối của Miller.
Mallory nhìn đồng hồ và nói với Miller:
- Còn mười lăm phút nữa là tới giờ giới nghiêm. Mọi việc sẽ diễn ra trong mười hai phút mà thôi. Chúng ta chỉ còn đợi bốn phút nữa.
Miller gật đầu không nói gì. Anh ta lại rót rượu đầy ly, đốt một điếu thuốc mới. Mallory thấy trên thái dương của anh ta có một sợi thần kinh co giật và chàng tự hỏi còn bao nhiêu sợi khác đang co thắt trên mặt anh ta. Chàng cũng tự nhiên hỏi Casey Brown xoay sở thế nào với cái chân bị thương trong ngôi nhà ở của sĩ quan Đức. Dù sao nhiệm vụ của anh ta không kém phần nặng nề, và trong trường hợp cực chẳng đã, anh ta đành rút lui khỏi vị trí chốt của cánh cửa chính để trở lên bao lơn. Chỉ cần một bước sơ sẩy trên cao là…
Mallory cảm thấy Miller đang nhìn chàng với vẻ lạ lùng. Chàng mỉm cười với anh ta. Phải thành công bằng mọi giá, bởi vì nếu thất bại… Chàng cố xua đuổi ý nghĩ về những gì sẽ xảy ra nếu thất bại. Lúc này nghĩ đến thất bại là không tốt.
Chàng nghĩ đến Andrea và Louki giờ này đang ở vị trí đã định. Chàng thầm mong cả hai người không gặp trở ngại gì. Chàng hy vọng thế bởi vì quân Đức hiện đang lục soát ở khu vực bên trên.
Chàng lại nhìn đồng hồ: chưa bao giờ kim chỉ giây lại có vẻ chạy chậm đến thế. Chàng đốt một điếu thuốc cuối cùng, rót một ly rượu cuối cùng, nghe nhưng thật ra chẳng chú ý đến bài hát âu sầu vang lên từ trong góc. Khi những người nghiện thuốc hachich thôi hát, những ly rượu đã nốc cạn, Mallory đứng dậy.
- Đã đến giờ hành động! Chàng nói khẽ.
Chàng đi ra cửa, vừa lên tiếng chào chủ quán. Tới ngưỡng cửa chàng dừng lại, thọc tay vào túi ra vẻ tìm vật gì đó mà không thấy, nhưng liếc mắt nhanh ra bên ngoài. Còn đường hoàn toàn không một bóng người, cơn mưa lớn đang nện xuống mặt đường lát bằng đá. Sau một hồi làm bộ lục lọi mà không thấy, chàng nhíu mày chửi đổng lên một tiếng và quay trở lại bàn đã ngồi, bàn tay phải bây giờ đang đút vào túi trong của áo vét. Dusty Miller lúc đó cũng xô ghế đứng dậy. Chỉ cách chín mươi phân cái bàn của bốn người lính Đức. Mallory đứng im và nói nhỏ bằng tiếng Đức, giọng đầy đe dọa tay phải lăm lăm khẩu sung Colt 45 của Hải quân.
- Tất cả ngồi im! Chúng tôi bị dồn vào bước đừng cùng. Nếu ai nhúc nhích chúng tôi bắn.
Trong ba giây, những lính Đức ngồi bất động, những cặp mắt mở to vì kinh ngạc. Chợt người lính ngồi sát quầy hàng nhất chớp mắt, vai động đậy trong tư thế định chống cự, nhưng hắn ta chỉ kịp rú lên một tiếng đau đớn, viên đạn từ nòng súng hãm thanh của Miller đã xuyên thủng bàn tay hắn.
- Rất tiếc, đại úy Miller nói với Mallory. Hắn ta phải chịu đau một chút…
Mallory quay sang chủ quán, một người khá cao, mặt gầy trông có vẻ buồn, nhưng oai vệ nhờ hàm râu. Chàng hỏi bằng thổ ngữ của dân đảo.
- Bọn lính này có biết tiếng Hy Lạp không?
Chủ quán lắc đầu. Hoàn toàn bình tĩnh không mảy may xúc động, ông ta coi việc ẩu đả có vũ khí trong quán rượu là chuyện thường tình. Ông ta trả lời Mallory:
- Không! Chúng biết chút ít tiếng Anh, nhưng không biết tiếng của chúng tôi.
- Tốt! Tôi là sĩ quan Tình báo Anh. Tôi cần một chỗ để nhốt bọn lính này.
- Lẽ ra các anh không nên tấn công họ, chủ quán nói. Bọn Đức sẽ giết tôi vì chuyện này.
- Ồ không! Ông sẽ không chết đâu.
Vừa nói Mallory vừa chĩa súng vào ngực chủ quán, nhưng khẽ nháy mắt ra hiệu ngầm cho ông ta. Tất cả mọi người trong quán kể cả bọn lính đều thấy ông ta bị uy hiếp thô bạo. Mallory nói nhỏ:
- Tôi sẽ trói ông cùng với bọn họ, như thế ông không sợ bọn Đức nghi ngờ nữa.
- Cám ơn anh. Ở đầu quầy có một cái hầm rượu đầy bằng một nắp gỗ lớn.
- Tốt lắm!
Mallory giả bộ dùng súng đẩy chủ quán chúi nhủi qua một bên. Sau đó chàng tiến về góc nơi tụ tập những người nghiện thuốc. Chàng nói nhanh:
- Tất cả các anh hãy về đi. Vả lại gần tới giờ giới nghiêm rồi. Hãy ra ngoài bằng cánh cửa sau và nhớ rằng các anh không thấy, không biết gì hết. Hiểu chưa?
- Chúng tôi hiểu.
Anh chàng chơi đàn bouzouko trả lời và đưa ngón tay cái chỉ những người ngồi quanh, mỉm cười nói tiếp:
- Họ là những người bê tha nghiện ngập, nhưng đều là người dân Hy Lạp tốt bụng. Chúng tôi giúp hai anh được gì không?
- Không, Mallory trả lời. Các anh hãy nghĩ đến gia đình… À! Bọn lính Đức này chắc biết mặt các anh thường đến đây mỗi tối phải không?
Anh chàng đánh đàn gật đầu!
- Nếu vậy, tất cả hãy chuồn vê nhà đi! Dù sao tôi cũng cám ơn nhã ý của các bạn.
Một phút sau, trong hầm rượu soi sáng bằng một ngọn nến, Miller thúc cùi chỏ vào một người lính có khổ người ngang tầm anh ta và ra lệnh:
- Cởi quần áo ra!
- Đồ bọn Anh heo mọi! tên lính Đức nhe răng chửi.
- Tao không phải người Anh, Miller cãi lại. Tao cho đúng ba mươi giây để cởi quần áo.
Tên lính Đức vẫn chửi nhưng không tuân lời. Miller thở dài. Tên Boche (tiếng dùng để chỉ người Đức) này thật gan lì, nhưng không thể để mất thì giờ. Miller nhắm vào bàn tay tên lính và bóp cò khẩu súng hãm thanh. Chỉ nghe một tiếng "bộp" và nạn nhân sững sờ nhìn lòng bàn tay đã lủng một lỗ.
- Không nên làm hư bộ quân phục đẹp này phải không? Miller hỏi.
Anh ta đưa khẩu súng lên ngang tầm mắt của tên lính và nói:
- Viên đạn tới sẽ ghim vào trán của anh và lúc đó tôi lột quần áo của anh không khó khăn gì đâu.
Nhưng Miller khỏi cần bắn, tên lính đã cởi đồ vừa gầm gừ vì tức giận và đau đớn.
Chưa đầy năm phút trôi qua Mallory và Miller, chững chạc trong bộ quân phục Đức, mở cửa quán rượu, cẩn thận liếc nhìn ra bên ngoài. Mưa càng to hơn và không một bóng người bên ngoài. Không cần phải trốn tránh, Mallory và Miller ngang nhiên đi trên đường để qua phía nam quảng trường cách đó chỉ bốn mươi mét. Khi đi tới ngôi nhà cổ nơi họ đã ẩn núp hồi đầu chiều tối, hai người quẹo trái, vẫn không giảm tốc độ trong khi bàn tay bí mật của Louki ló ra từ sau cánh cửa hé mở, và bàn tay đó đang cầm hai túi vải của quân đội Đức chứa đầy dây, móc và chất nổ cực mạnh.
Đi thêm vài mét xa hơn, Mallory và Miller chợt dừng lại, ngồi chồm hổm đằng sau hai thùng rượu lớn đặt trước một tiệm hớt tóc và nhìn về phía hai người lính Đức vũ trang đứng gác ngay cổng hình cong bán nguyệt của pháo đài cách đó không đầy ba mươi mét. Mallory và Miller đeo hai túi vải mà Louki mới trao lên vai và chờ đợi mật hiệu của đồng đội.
Cả hai chờ không lâu: chỉ gần một giây sau, bàn tay của Mallory nắm chặt sợi dây đeo của túi vải khi một loạt tiếng nổ làm rung chuyển thành phố cách đó hai trăm mét, tiếp theo là một tràng liên thanh, rồi lại những tiếng nổ mới. Andrea thật khéo đánh lạc hướng với những quả lựu đạn và những trái bom chế tạo thô sơ.
Cả hai lùi lại trong khi từ trên nóc pháo đài, một ngọn đèn pha quét trên đầu các bức tường tua tủa những cọc nhọn và những vòng kẽm gai.
Mallory chờ thêm nửa phút, đụng nhẹ cánh tay Miller, chàng đứng lên và chạy như điên xuyên qua quảng trường vừa ép sát cây tre dài dọc theo bên hông. Miller chạy sát đằng sau chàng. Chỉ trong vài giây, họ đã tới cách cổng bằng song sắt của pháo đài. Hai người lính gác vội vã tiến ra.
Tất cả các anh hãy đi ra đường Marches, Mallory ra lệnh bằng tiếng Đức. Bọn khủng bố người Anh đáng nguyền rủa đang cố thủ trong một căn nhà trên đường Marches. Chắc chúng ta phải sử dụng đến súng cối. Đi đi! Tất cả đi đi!
- Nhưng còn cổng! Một người lính gác lên tiếng chúng tôi không thể bỏ trống cổng này!
Người lính gác không chút ngờ vực, đứng trước mặt hắn ta là là một viên sĩ quan Đức, mặc quân phục Đức, nói tiếng Đức và thực tế là phía bên đường Marches vừa vang lên tiếng súng lẫn tiếng nổ dữ dội.
- Đồ ngốc! Mallory giận dữ la lên. Ở đây thì có quái gì mà gác? Bọn heo mọi Anh đang ở trên đường Marches, biết chưa? Phải tiêu diệt chúng. Lạy Chúa! Đi nhanh lên! Nếu chúng mà trốn thoát một lần nữa, tất cả chúng ta sẽ bị đưa ra mặt trận Nga hết!
Mallory đã đặt tay lên vai người lính gác, định đẩy hắn đi, nhưng chàng khỏi cần phải làm thế. Cả hai người lính Đức ngoan ngoãn tuân lệnh, chạy ngang qua quảng trường và biến mất trong màn mưa. Vài giây sau, Mallory và Miller đã đột nhập vào bên trong pháo đài Navarone.
Bên trong pháo đài, đang xảy ra cảnh huyên náo. Những khẩu lệnh vang lên, xen lẫn tiếng còi tu huýt, tiếng động cơ xe nổ, các viên trung sĩ Đức chạy qua chạy lại để tránh không bị chú ý nếu cứ tiếp tục đi thong dong trong không khí ồn ào nào nhiệt này.
Họ đi qua hai trại lính ở bên phải, rồi đến trung tâm phát điện ở bên trái, kế đó là kho đạn, ga-ra. Bây giờ họ đang leo lên trong bóng tối, nhưng Mallory biết chắc phải đi đâu. Chàng đã khắc ghi trong óc sơ đồ của ông Vlachos và phối kiểm lại với sự mô tả của Panayis và chàng có thể đi trong bóng tối hoàn toàn mà không bị lạc đường.
- Cái gì thế kia, Đại úy? Miller vừa hỏi vừa chỉ tay về phía một tòa nhà lớn hình chữ nhật nổi lên ở chân trời.
- Hồ chứa nước đấy, Mallory trả lời. Theo lời Panayis thì nó chứa hai triệu lít, nếu cần chữa cháy, sẽ làm ngập cả hầm đạn ở ngay bên dưới, và cửa ra vào hầm thì luôn luôn khóa và được canh giữ nghiêm ngặt.
Bây giờ họ đang đi tới gần khu cư xá dành cho sĩ quan cao cấp, căn phòng của viên tư lệnh ở tầng hai, nhìn ngay ra một cái tháp đồ sộ bằng bê tông cốt sắt, đó là đài chỉ huy hoạt động của hai khẩu đại bác đặt ngay bên dưới. Mallory chợt dừng lại, bốc một nắm bùn chà mặt và bảo Miller làm y như chàng.
- Để ngụy trang, chàng giải thích, tuy có vẻ sơ đẳng nhưng cần thiết cho chúng ta trong lúc này. Chỗ này có vẻ hơi sáng đấy.
Mallory bước nhanh lên bậc thềm và đi vội qua các cánh cửa đến nỗi muốn bứt chúng ra khỏi các bản lề. Người chỉ huy có nhiệm vụ giữ tấm bảng treo những chìa khóa ngạc nhiên nhìn chàng và bằng phản ứng tự nhiên hắn ta dí họng tiểu liên ngay ngực chàng.
- Bỏ súng xuống, đồ ngu! Mallory sủa bằng tiếng Đức. Ngài Tư lệnh đâu? Mau lên thằng ngốc! Ta có chuyện hết sức khẩn cấp cần báo cho ngài Tư lệnh!
- Ngài… ngài Tư lệnh! Người lính ấp úng. Ngài đã đi rồi mà… Tất cả đã ra đi cách đây một phút.
- Cái gì? Tất cả đều đi? Mallory vừa hỏi vừa nhìn người lính bằng cặp mắt nheo lại và nguy hiểm. Họ đã đi ra ngoài hết rồi sao?
- Vâng, tôi… tôi chắc chắn thế.
Hắn ta chợt ngưng bặt khi Mallory đưa tay chỉ qua vai hắn vừa nói:
- Thế thằng nào còn đứng kia?
Người lính quay đầu nhìn lại. Nhanh như cắt, Mallory đã đấm mạnh vào gáy hắn. Trước khi nạn nhân gục xuống, chàng đã vơ vét tất cả xâu chìa khóa gắn trên bảng – có khoảng mười hai cái – và nhét vội vào túi. Chàng còn mất thêm hai mươi giây để nhét giẻ bịt miệng, trói tay chân người lính và nhốt hắn vào trong một cái tủ.
Bây giờ còn một trở ngại thứ ba nữa. Chàng không biết có bao nhiêu người canh giữ hầm đạn. Chàng và Miller bật đèn bấm lên khi đi ngang quan dàn súng phòng không. Thử hỏi có ai dám nghi ngờ hai viên sĩ quan cao cấp đang đi tuần tra thế kia, anh đèn pin lóe lên ngang dọc, một người luôn miệng nói bằng tiếng Đức với người kia có vẻ ít nói.
Chợt Mallory thấy hai bóng đen đang rời khỏi cánh cửa vào hầm đặt hai khẩu đại bác.
- Tốt lắm! Chàng thủ thỉ nói với Miller. Chúng tiến lại gần ta và chỉ có hai đứa. Mỗi người chúng ta phụ trách một đứa. Nhớ nhé! Nhanh và không một tiếng động. Chỉ cần một tiếng la hoặc một tiếng súng nổ là hỏng việc hết. Và lạy Chúa, anh đừng dùng đèn bấm mà đánh nó nhé. Bên trong hầm không được soi sáng đâu.
Chàng đổi tay cầm đèn sang trái, tay phải rút trong túi ra khẩu Colt Hải quân, cầm sẵn ngay nòng súng.
- Có chuyện gì đây, Mallory hách dịch hỏi. Có ai tới đây không? Trả lời nhanh lên!
- Dạ, dạ. Không có chuyện gì xảy ra cả. Ngoài kia có gì mà ồn ào vậy, thưa sếp?
- Ồ lại bọn khủng bố quỷ quái người Anh đấy mà! Chúng đã giết lính canh cửa và hiện đã vào pháo đài. Các anh có chắc rằng không ai bén mảng tới đây không? Để tôi kiểm tra xem.
Chàng tiến tới cửa hầm, bật đèn pin soi ngay ổ khóa khổng lồ còn nguyên vẹn.
- Nhờ ơn Chúa, chưa xảy ra chuyện gì! Chàng lẩm bẩm.
Đoạn chàng quay lại, rọi đèn bấm ngay mắt người lính, giả vờ xin lỗi, tắt đèn đi, nhưng đồng thời bàn tay phải cầm nòng súng giáng mạnh báng súng xuống mang tai, ngay phía dưới mũ sắt của người lính. Người lính thứ hai chồm lên người chàng khi thấy đồng bọn bị sát hại, nhưng bằng một thế võ cận chiến chàng đã đánh gục hắn ngay tức khắc. Chàng bỗng giật mình khi nghe hai tiếng "bộp" khô khan của khẩu súng hãm thanh của Miller.
- Chúng thật quỷ quyệt! Đại úy. Chúng còn một tên thứ ba núp trong bóng tối. Tôi chỉ còn cách duy nhất là bắn hạ nó.
- Anh hãy trói chặt hai tên này lại, Mallory vừa nói vừa rút các chìa khóa ra thử.
Thử đến chìa thứ ba thì mở được ở khóa khổng lồ của hầm đạn. Chàng đưa mắt ra sau một lần chót. Không một bóng người và chỉ nghe tiếng động cơ xe tải cuối cùng đang lăn bánh ra khỏi pháo đài trong khi tiếng súng liên thanh vẫn còn nổ dòn từ xa. Andrea thật xuất sắc với vai trò được giao phó. Miễn sao anh ta đừng làm thái quá… dù sao anh ta cũng phải tính đường rút lui cho kịp lúc…
Mallory bấm đèn và bước vào trong hầm. Miller theo bén gót chàng.
Một cái thang bằng thép, thẳng đứng, đóng sâu vào vách đá, dẫn họ xuống tận hầm đại bác. Ở hai bên thang là những hệ thống mái trục kéo, với những sợi dây bằng kim loại bôi dầu bóng loáng, những đường rãnh bằng thép cũng trơn tru dầu mỡ để các bánh xe của máy kéo lên xuống dễ dàng. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là hệ thống vận chuyển đạn từ hầm lên tận hai khẩu đại bác.
Mallory bước xuống nên hầm đặt đại bác, quay ngọn đèn bấm soi một góc 180 độ. Đây là một hang đá rộng lớn, đúng hơn là một cái hầm nhân tạo đã được khoan sâu vào bên trong tận lòng núi. Bên ngoài cửa hang há miệng như con quái vật ngự trị khắp hải cảng và vùng biển trước mặt. Hầm đại bác này ăn thông với hai hệ thống vận chuyển đạn lên xuống từ hầm đạn nằm sâu bên dưới trong bóng tối và cạnh đó là một cái thang bằng thép dẫn xuống sâu thẳm. Nhưng điều khẩn cấp bây giờ là dò xét xem có lính gác ở đây không và tính toán luôn đường rút.
Mallory đi dọc theo đường hầm, đèn bấm khi bật khi tắt liên hồi. Phải nói người Đức bậc thầy về gài mìn bẫy, nhất là để bảo vệ những cơ sở tối quan trọng như ở đây. Nhưng Mallory nghĩ rằng chúng không dám mạo hiểm gài mìn bẫy ở trong đường hầm này vì sợ rủi ro làm nổ sập hai khẩu đại bác.
Con đường hầm lúc nào cũng ẩm ướt, lối đi hơi chật hẹp vì choán bởi hệ thống ròng rọc chuyển đạn tới gần đuôi hai khẩu đại bác. Hệ thống ròng rọc cùng với đường hầm chợt bẻ quặt sang trái ăn thông ra một hầm rộng hơn. Nóc hầm cao vút chìm đắm trong bóng tối. Còn dưới chân chàng, ánh đèn bấm soi sáng hai cặp đường ray đóng chặt trong nền đá chạy song song đen ngòm của hang đá đang há mõm ra ngoài đại dương.
Đầu các đường ray tận cùng bằng hai giàn thép khổng lồ, nơi dùng làm bệ đặt hai khẩu đại bác. Cả hai giàn đều quay được như một cái trục và cả hai đang nằm bất động như những con quái vật đang rình mồi, chỉ chờ cơ hội để khạc ra lửa.
Mallory tắt đèn bấm, khẩu súng bên tay phải cũng lơ đễnh chúc xuống đất, vì chàng biết chắc không có ai trong hầm này. Chàng bất giác trở nên chậm chạp. Đó là sự chậm chạp của người đang mơ mộng, đang ngờ vực, không tin vào sự thành công của mình vì đã từ lâu cho rằng sứ mạng không thể hoàn thành được. Đó là sự chậm chạp lúng túng của người cuối cùng đang đứng trước một kẻ thủ đáng sợ, một kẻ thù khiến phải hy sinh bao nhiêu xương máu mới thấy được mặt nó. "Thế là cuối cùng thì tôi ở đây, Mallory lập đi lập lại hàng chục lần. Hai khẩu đại bác thành Navarone đang ở trước mặt tôi, hai khẩu đại bác mà tôi đến để phá hủy".
Vẫn chậm chạp, chàng bước tới gần hai khẩu đại bác, đi nửa vòng quanh cái bệ thép của khẩu bên trái, và chăm chú nhìn ngắm nó trong bóng tối lờ mờ. Chàng ngẩn ngơ kinh ngạc trước chiều dài của nòng súng, chu vi và kích thước mọi thứ bao bọc xung quanh. Hai họng súng thẳng tắp vươn dài, chỉa thẳng ra mảnh trời đêm ngoài lỗ hang. Lạy Chúa tốt lành! Các chuyên gia của tình báo Anh đã ước lượng đường kính của họng súng là chín pouces, nhưng tất cả đã lầm. Khẩu kính của chúng ít nhất là mười hai pouces. Ôi chỉ có người điên, những người mù mới phái tuần dương hạm Sybaris với trọng lượng mười ngàn tấn đến để nổ tan xác vì hai con quái vật này.
Bất thình lình, giòng suy nghĩ của chàng bị cắt ngang và Mallory hoàn toàn bất động, cố nhớ lại tiếng động đã kéo chàng ra khỏi giấc mơ để trở về với hiện tại. Chàng nhắm mắt lại để nghe cho rõ hơn, những tiếng động đã im bặt. Chàng chợt hiểu đó không phải là tiếng động, nhưng sự im lặng như tờ trong hầm đá này như đánh thức trong tiềm thức chàng sự cảnh giác. Ngay bây giờ, bên ngoài thành phố, có lẽ tiếng súng liên thanh đã im tiếng.
Mallory thầm khiển trách mình đã làm mất thì giờ quý báu. Andrea có lẽ đã rút lui và quân Đức sau một thời gian lục soát sẽ hiểu rằng bị đánh lừa. Chúng sẽ vội vã trở về pháo đài. Mallory nhanh nhẹn mở túi vải lấy ra một cuộn dây ruột thẳng bằng kim loại dài ba mươi mét. Dù sao cũng phải tính đến việc rút lui ra khỏi đây.
Cuộn dây trên cánh tay, chàng cẩn thận tiến ra cửa hang. Đi được được ba bước, đầu gối của chàng chợt va mạnh vào một vật cứng. Cố nén tiếng kêu, chàng đưa tay sờ soạng và chợ hiểu đó là một hàng ràng sắt cao bằng đầu người chắn ngang cửa hang, mục đích để tránh tai nạn cho các chuyên viên kỹ thuật hoặc lính Đức không bị sẩy chân rớt xuống khoảng không nhất là ban đêm. Lúc trưa nay từ khu rừng cây minh quyết, chàng không thấy rõ chấn song này qua ống nhòm.
Chàng đi dọc theo hàng rào sắt đến tận đầu bên cánh trái, lách người qua và cột chặt sợi dây vào thanh sắt dọc gần vách đá. Chàng từ từ tháo dây dài ra, nắm chặt lấy nó và bước dần ra sát mí bờ hang. Chàng liếc nhìn xuống: ba mươi sáu mét vách đá thẳng đứng xuống tận hải cảng Navarone.
Xa xa, bên phải một hình thù trên mặt nước chỉ có thể là mũi nhọn của dãy Demirei. Thẳng tắp trước mặt chàng, phía bên kia eo biển Maldos. Mallory thấy lấp lánh những ánh sáng có lẽ từ những ngôi nhà của các ngư dân. Phía trên đầu, chàng không thể thấy gì hết, bởi vì vòm núi đá che khuất hơn một nửa bầu trời. Bên dưới là bóng tối sâu thẳm và mặt biển đen như mực. Tuy nhiên chàng biết rằng trong hải cảng có những thuyền dài và hẹp của Hy Lạp và những tàu trinh sát của Đức. Sau mười giây để có cái nhìn bao quát như thế Mallory cúi xuống cột cái nút ghế để có thể ngồi ở đầu dây và đặt sát bờ vực. Nếu vì lý do thoát thân khẩn cấp, chàng chỉ cần đá một cái, là đầu dây sẽ rơi xuống vực và chỉ cách mặt nước chín mét, khoảng cách an toàn để khỏi chạm vào cột buồm của bất cứ tàu nào lưu thông trên cảng. Nếu cần họ phải nhảy từ trên độ cao chín mét xuống một boong tàu nào đấy dù có gãy chân cũng phải liều. Mallory ném một nhìn lần chót vào màn đêm tối đen như địa ngục và rùng mình thầm cầu xin Chúa đừng để cho chàng và Miller thoát thân theo kiểu đó.
Lúc Mallory từ đường hầm trở lại thì Dusty Miller đang quỳ gối trên đường hầm, gần đỉnh cầu thang thép dẫn xuống kho đạn. Anh ta đứng lên thì thấy Mallory và vừa nói vừa chỉ vào những sợi dây điện, dây chì, những ngòi nổ và những chất nổ đã bị Panayis nén phá hư.
- Tôi nghĩ rằng bọn Đức sẽ hạnh phúc với những quà tặng này.
Anh ta cầm quả mìn tự động mà công tắc đã bị bẻ cong leo xuống thang vừa nói:
- Phải gài quả mìn thối ngay giữa hai hàng núm này.
- Anh muốn đặt đâu thì đặt. Mallory nói. Miễn đừng quá lộ liễu bên ngoài hoặc khó kiếm. Làm như thế nào cho chúng phải vất vả mới phát giác ra được những quả mìn này.
- Vâng, vâng! Miller nói. Chúng ta cứ làm như không biết những vật liệu nổ đã bị gián điệp phá hỏng và vẫn mang ra sử dụng. Khi phát hiện ra điều ấy, chúng sẽ vỗ vai nhau khen ngợi và chúc mừng nhau, không cần tìm tòi những chỗ khác nữa.
- Tốt lắm, Miller. À mà anh có khóa cửa trên đỉnh hầm chưa đấy?
- Ồ! Làm sao tôi quên được. Miller nói bằng giọng trách móc. Đại úy, đôi khi tôi tin rằng…
Nhưng Mallory không bao giờ biết được Miller tin gì bởi vì ngay lúc đó một tiếng động lớn vang lên qua hầm đại bác và hầm đạn. Hai người hốt hoảng nhìn nhau trong khi tiếng động kia lập đi lập lại.
- Chúng ta có khách, Mallory lẩm bẩm, những người khách trang bị bằng búa của thợ rèn. Lạy Chúa! Cầu mong sao cánh cửa sắt kia chịu đựng khá lâu!
Chàng và Miller chạy dọc theo hành lang dẫn ra chỗ hai khẩu đại bác.
- Làm thế nào mà bọn chúng trở về đây sớm thế? Miller hỏi.
- Quỷ bắt tên gián điệp Panayis! Mallory trả lời vừa kéo Miller vượt qua chấn song sắt và ra ngoài miệng hang. Chúng ta khá ngu đần nên tin rằng hắn đã nói hết sự thật. Nhưng hắn vẫn cố tình dấu một điều là khi mở cửa đường hầm, chuông báo động sẽ reo lên ở đài trực Sở chỉ huy pháo đài.