Suốt cả ngày, Mallory và đồng đội lẩn trốn trong khu rừng cây minh quyết rậm rạp. Cây nào cũng to lớn cằn cỗi và nhiều mắt, bám trên sườn núi trải đầy đá nhỏ, soai soải xuống tận nơi mà Louki gọi là “Sân chơi của Quỷ”. Chỗ ẩn núp tầm thường và thiếu tiện nghi lại được điểm lợi về mặt sau, luôn có gió hiu hiu từ bờ biển phía nam thổi qua và một cái nhìn bao quát trên biển Egée lấp lánh ánh mặt trời dưới bầu trời không mây.
Xa xa, bên trái, dãy quần đảo Lérades chìm đắm trong màu xanh, màu chàm và màu tím trộn lẫn và mờ nhạt dần tận chân trời. Gần nhất là hòn đảo Maidos, gần đến nỗi người ta có thể thấy lác đác những ngôi nhà của dân chài. Eo biển hẹp ngăn cách biển Maidos và đảo Navarone sẽ là đường di tản của hạm đội Hải quân Hoàng gia vào ngày mốt. Bên phải, xa hơn nữa, là bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ uốn cong theo hình cây mã tấu về hướng bắc và phía tây. Phía bắc nhô ra mũi nhọn của vịnh Demirci lởm chởm những tảng đá lớn nhưng xen lẫn những vịnh nhỏ toàn cát trắng. Qua khỏi mũi nhọn Demirci, xa xa kia trong nền trời tim tím là hòn đảo Khéros đang mơ mộng trên sóng nước.
Thật là một cảnh bao quát tuyệt đẹp, nhưng Mallory chỉ liếc qua vẻ đẹp này khi đến phiên chàng trực gác. Ngồi dựa lưng vào một gốc cây, hai mắt chàng cứ dán chặt vào pháo đài, mục tiêu mà nhóm chàng có nhiệm vụ phá hủy.
Thành phố Navarone có khoảng từ bốn đến năm ngàn dân, Mallory ước lượng như thế, và co cụm phần lớn dọc theo hải cảng hình vòng cung khép lại gần như một vòng tròn chỉ để hở một eo nhỏ phía tây bắc, đó là cửa ngõ trọng yếu của pháo đài nơi sừng sững các đài hải đăng, nơi đặt các dàn súng cối và các ổ súng đại liên. Rừng cây minh quyết chỉ cách cảng có bốn cây số, nên mỗi chi tiết, mỗi con đường, mỗi dinh thự, mỗi tàu bè trong vịnh đều được thấy rõ qua ống nhòm và Mallory nghiền ngẫm kỹ những chi tiết đó đến thuộc lòng. Chàng khắc sâu trong óc địa thế ở phía tây hải cảng bên dưới khu rừng, những con đường bụi bặm dẫn xuống tận biển, dốc đứng hiểm trở ở mặt phía nam, nơi đó những con đường song song với bờ biển đi vào thành phố cổ, còn ở phía đông, những dãy núi đá loang lổ những hố bom mới đây do phi đội của thiếu tá Torrance ném, thì dựng đứng trên cao mặt biển bốn mươi lăm mét. Pháo đài Navarone được đặt sâu bên trong lòng vách, chi chít những hệ thống đường ngầm tối tân nhất, bên trên lẫn bên ngoài đều được bảo vệ chặt chẽ bằng những dãy súng phòng không, những đài ra đa, những trại lính với những tòa nhà bê tông dày đặc và thấp.
Pháo đài này là cái gai đối với quân đồng minh từ mười tháng nay. Nó kiểm soát mọi hoạt động lưu thông trên biển trong vòng tam giác năm ngàn cây số vuông, giữa quần đảo Lérades và bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ.
Bây giờ thấy nó, Mallory mới hiểu. Pháo đài không thể tấn công bằng đường bộ, cũng không thể bằng đường hàng không và Mallory nhận thức rằng thật là điều điên rồ khi gửi phi đội cừ khôi của Torrance đến đây trong khi hai khẩu đại bác nằm sâu bên trong vách núi, che chở bên trên bằng lớp núi dầy và cong, như lưỡi liềm, lại được bảo vệ vững vàng bởi hàng trăm khẩu phòng không. Càng không thể tấn công pháo đài bằng đường biển nếu không muốn nát thịt với hai khẩu đại bác, đó là chưa kể đến hai trăm máy bay oanh tạc của Đức luôn sẵn sàng cất cánh lên bầu trời đại dương. Đại tá Jensen đã có lý: chỉ còn có điệp vụ phá hoại may ra hy vọng, một hy vọng mỏng manh, hầu như là tự sát, nhưng dù sao cũng là hy vọng. Và Mallory hiểu rằng không thể làm khác hơn.
Chàng bỏ ống nhòm xuống, dụi mắt cho đỡ mỏi, và suy nghĩ mông lung. Bây giờ thì chàng hài lòng đã biết chính xác mục tiêu phải đương đầu, và làm quen từ xa với địa thế của thành Navarone. Vị trí mà nhóm biệt động đang ở có thể nói là điểm duy nhất để tránh mọi hiểm nguy cấp thời.
Chính Louki đã hướng dẫn nhóm chàng đến đây, sau khi đi theo thượng lưu con sông gần Margaritha để Andrea có thì giờ tới chòi của già Leri thu hồi lại chất nổ, đồng thời để biết chắc không bị theo dõi, trước khi tiến vào khu rừng rậm này.
Mallory quay lại nhìn đồng đội. Anh chàng Louki nhỏ con đang ngủ, dựa lưng giữa hai thân cây và không hề cựa quậy suốt trong năm tiếng đồng hồ. Dẫu Mallory đang rất mệt, chàng cũng không nỡ đánh thức Louki dậy, kể cả Panayis. Nhưng Panayis vừa mở mắt ra đã tỉnh táo ngay. Thật là một con người nguy hiểm, đáng sợ. Mallory chỉ hiểu anh ta phần nào qua lời kể của Louki, nhưng chàng cũng không muốn biết nhiều hơn nữa.
Phía trên dốc cao, Andrea đã dùng những cành cây đan thành cái giường kê giữa hai thân cây lớn cho Stevens nằm. Bệnh nhân vẫn mở to mắt. Anh ta chưa ngủ lại từ lúc toán tuần tra của Turzig đột nhập vào hang đá cho đến lúc cả nhóm thoát ra khỏi doanh trại quân Đức đóng ở làng Margaritha. Hình như Stevens không cần ngủ nữa và cố dồn nén cơn buồn ngủ. Chân của anh đã bốc mùi hôi thối dữ dội. Mallory và Miller đã băng bó lại vết thương cho anh ta ngay sau khi họ vừa tới đây.
Mallory lại đưa ống nhòm lên mắt định quan sát thành Navarone một lần nữa, nhưng chàng lại đưa xuống ngay khi cảm thấy có ai đụng vào cánh tay chàng. Đó là Panayis, vẻ bốí rối, lo sợ và cả giận dữ.
- Mấy giờ rồi? Anh ta hỏi nhỏ bằng tiếng Hy Lạp, giọng hơi rít lên thật hợp với bản tính bí ẩn của con người anh ta.
- Hai giờ rưỡi, khoảng đó, Mallory nói. Anh có vẻ giận dữ, tại sao vậy, Panayis?
- Lẽ ra Đại úy phải đánh thức tôi dậy sớm hơn! Đã qua vài giờ rồi! Lẽ ra đã đến phiên tôi gác.
Mallory nghĩ thầm “hèn chi mà anh ta không giận”. Chàng mỉm cười nói:
- Đêm qua anh không được ngủ. Tôi thật không công bình nếu…
- Nhưng đến phiên tôi gác mà!
- Thôi được, tùy anh vậy.
Mallory biết rõ lòng kiêu hãnh của người dân trên đảo nên chàng thôi bàn cãi.
- Không có anh và Louki, chúng tôi chẳng làm nên trò trống gì cả. Để tôi cùng gác với anh một chút cho vui.
- A! Chính vì thế mà Đại úy cứ để tôi ngủ quên, Panayis trách móc. Đại úy không tin tưởng tôi…
- Ồ! Lạy chúa! … Mallory vội bào chữa.
Đoạn chàng trấn tĩnh, mỉm cười nói tiếp:
- Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi phải tin tưởng vào anh. Dù sao tôi cũng sẽ ngủ một chút và anh có lòng tốt tạo cho tôi dịp này. Trong hai giờ nữa anh nhớ đánh thức tôi dậy nhé!
- Vâng! Vâng! Tôi không quên đâu! Panayis hứa, mặt lộ vẻ vui mừng.
Mallory đi ra nằm chỗ giữa rừng. Trong vài phút, chàng nhìn Panayis đi qua đi lại, kế đó sau khi thấy anh ta nhẹ nhàng leo lên một cành cây cho dễ quan sát xung quanh, chàng nhắm mắt ngủ thiếp đi.
° ° °
- Đại úy Mallory! Đại úy Mallory! Hãy thức dậy mau!
Bị lắc mạnh bên vai, Mallory mở choàng mắt ra. Panayis đang cúi xuống nhìn chàng, vẻ mặt trầm ngâm tràn đầy sợ hãi.
- Chuyện gì vậy, Panayis?
- Máy bay! Có một phi đội đang trên đường tới đây.
- Máy bay? Máy bay nào?
- Tôi không biết. Chúng còn xa.
- Chúng từ hướng nào đến?
- Từ hướng bắc.
Chàng cùng với Panayis chạy ra tận bìa rừng và Mallory nhận ra ngay những chiếc phóng pháo cơ Stuka mà đôi cánh phản chiếu như gương dưới ánh nắng mặt trời ban trưa. Chúng bay thành hai hàng, mỗi hàng bốn chiếc, bay trên độ cao không quá bảy trăm năm mươi mét, và chỉ còn cách bìa rừng có bốn cây số.
- Hãy chạy đi, Đại úy Mallory! Chúng ta không còn thời gian đâu! Panayis vừa nói vừa kéo tay áo chàng. Chúng ta phải vào sâu bên trong, đến tận “Sân chơi của Quỷ” ngay bây giờ!
- Nhưng tại sao? Mallory ngạc nhiên hỏi. Đã chắc gì các máy bay đó đến đây vì chúng ta! Làm sao lại có thể như vậy được khi mà không ai biết chúng ta đang ở đây?
- Nhưng tôi biết chắc chúng tới đây vì chúng ta, Đại úy đừng hỏi làm sao tôi biết điều ấy, bởi vì chính tôi cũng không biết gì hết. Louki sẽ nói với Đại úy rằng Panayis biết những điều ấy.
Mallory sững sờ một giây, chẳng hiểu anh ta nói gì cả. Nhưng nhìn vẻ nghiêm túc, dáng điệu thành khẩn hoàn toàn và nhịp điệu dồn dập của những lời nói làm chàng bất giác liên tưởng đến tiếng nổ dòn của khẩu súng liên thanh, khiến cán cân nghiêng về phía bản năng hơn về lý trí. Hầu như chẳng hiểu tại sao và chẳng rõ vì lý do gì, Mallory bất chợt vùng chạy, lảo đảo vấp ngã mấy lần trên những hòn đá trơn. Chàng tới chỗ nghỉ của đồng đội.
- Tất cả hãy đi ra bìa rừng! Mallory la lên. Nhanh lên! Và hãy núp ở đấy! Có lẽ chúng ta sẽ phải đi qua núi kia.
Chàng chỉ tay về một khe nhỏ cách đó khoảng chừng ba mươi mét và thầm cám ơn Louki đã chọn cho nhóm một chỗ ẩn núp có lối thoát khá tiện lợi.
- Hãy chờ lệnh tôi đã, Andrea!
Andrea đã bế xốc cả người bị thương lẫn mùng mền trong hai tay.
- Có chuyện gì vậy, Đại úy? Miller hỏi. Tôi không thấy gì hết.
- Nếu anh thôi nói một chút, anh sẽ nghe thấy, Mallory nói. Hay tốt hơn, hãy nhìn về phía bên kia.
Nằm sấp cách bìa rừng bốn mét, Miller ngẩng đầu lên nhìn trời và nhận ra ngay các máy bay oanh tạc.
- Phóng pháo cơ Stuka! Không có lý nào, Đại úy!
- Có chứ! Đại tá Jensen đã cho tôi biết rằng quân Đức đã điều từ mặt trận Ý về đây hơn hai trăm máy bay Stuka để tung vào mặt trận Egée và bảo vệ pháo đài Navarone.
- Nhưng chúng đến đâu phải vì chúng ta, Miller phản đối.
- Tôi e rằng vì chúng ta đấy. Tôi cho rằng Panayis nói đúng, Mallory.
- Nhưng chúng sẽ bay qua luôn nếu không thấy chúng ta.
- Không, chúng không qua luôn đâu. Hãy quan sát kỹ chiếc đi đầu.
Trong lúc Mallory nói những lời này, từ trên cao, viên chỉ huy phi đội đã cho chiếc phóng pháo cơ của mình nghiêng đôi cánh trút hai trái bom đen sì xuống.
- Không ai được bắn trả lại! Tất cả để hai tay trên đầu và cúi xuống! Mallory ra lệnh.
Trong phút chốc… ầm! ầm! Hơn mười hai quả bom đã được ném xuống liên tiếp trúng ngay giữa rừng, làm các thân cây đổ nhào xuống. Bom lửa! Chiếc Stuka chưa bay lên cao thì toàn khu rừng khô cằn, già nua đã bùng cháy dữ dội.
- Chúng muốn thiêu sống chúng ta hoặc ít ra cũng phun khói để chúng ta chạy ra ngoài đồng trống, Mallory nói. Nếu còn ở lại đây chúng ta sẽ chết cháy hết.
Chàng cố nhìn lên trên núi cao, nhưng khói đen dày đặc đã bao trùm xung quanh.
- Tất cả hãy đi ngay! Mallory hét lớn. Đi dọc theo bìa rừng mười lăm mét đến đống đá kia, rồi sau đó men theo khe núi đi thẳng, không được dừng lại bất cứ ở đâu trong một trăm mét đầu. Andrea đi trước dẫn đường! Panayis đâu?
Không có tiếng trả lời.
- Panayis! Mallory gọi đến khản cả giọng, Panayis!
- Có lẽ anh ta quay lại để tìm gì đó, Miller nói, để tôi đi…
- Không! Cứ thẳng tiến! Mallory giận dữ. Nếu xảy ra chuyện gì cho Stevens, anh sẽ biết tay tôi…
Nhưng Miller ngoan ngoãn đã chạy theo sau Andrea và đồng đội. Họ vừa lảo đảo vừa ho sặc sụa.
Mallory lưỡng lự trong hai giây, đoạn chàng bước xuống dốc về phía trung tâm khu rừng. Có lẽ Panayis đã quay trở lại đó tìm vật gì để quên và anh ta lại không hiểu tiếng Anh. Mallory vừa đi chưa được bốn bước đã phải đưa tay lên che mặt khỏi sức nóng như thiêu đốt. Panayis không thể nào ở trong cái lò lửa đó được. Không ai có thể sống sót trong đó dù là một giây. Hổn hển, tóc cháy xém, quần áo cũng bị cháy. Mallory chạy ngược lên dốc, vấp vào các thân cây ngã xuống nhiều lần.
Chàng chạy tới bìa rừng phía đông. Không có ai cả. Chàng trở lại phía bên kia, về hướng đống đá, hầu như hoàn toàn bị mờ mắt, hơi nóng cấu xé hai buồng phổi và cổ họng, chàng tự nhủ chỉ còn cách duy nhất là tự cứu mình thoát ra khỏi nơi đây. Chàng nghe lửa cháy rộ bốn bề, và tiếng hú khủng khiếp của một chiếc phóng pháo cơ vừa lao xuống bồi thêm hai quả bom lửa. Tuyệt vọng, chàng chạy vội tới phía trước, trên những đống đá trơn và ngã quỵ xuống. Bị thương hay không, chẳng cần biết! Chàng lại trỗi dậy và lết hai chân rã rời leo lên dốc. Những tiếng động cơ máy bay nổ vang rền như sấm, lại thêm một phi đội Stuka tham gia tấn công. Phía trước chàng, một quả bom vừa nổ, hơi nóng hất chàng xuống đất. Chàng lồm cồm bò dậy vừa nguyền rủa: “Điên quá! Dại quá! Mình đã ra lệnh cho đồng đội đi vào chỗ chết! Một đứa trẻ năm tuổi cũng phải hiểu rằng bọn Đức đâu cần oanh tạc khu rừng. Chúng chỉ cần oanh tạc khoảng trống giữa núi đá và bìa rừng vì chúng dư biết các con mồi đang bò ra đấy”.
Lại một tiếng nổ, chàng có cảm giác đất sụp dưới chân. Một bàn tay khổng lồ chụp lấy chàng và chàng đắm chìm trong bóng tối.