Ánh sáng mặt trời phân tán một tia sáng yếu ớt qua những đám mây và sương giá. Khi Andrea vén lều, ném một cái nhìn thận trọng ra bên ngoài thì mặt trời đang thấp dần về phía tây.
Trong vài giây, chàng đứng hầu như bất động sau tấm lều vải, làm vài động tác co giãn bắp thịt đau nhức và đôi mắt làm quen với màu tuyết trắng chói chang bên ngoài. Kế đó, không một tiếng động, chàng rời khỏi hang, leo lên một cái dốc và quan sát cảnh vật.
Bên dưới chàng, một thung lũng lớn trải dài xa xa khá cân đối giữa hai vách núi thẳng đứng ở phía bắc. Đỉnh nhọn bị mây che phủ của trái núi khổng lồ bên phải chắc là ngọn Kostos, ngọn núi cao nhất ở Navarone. Đêm qua họ đã đi qua sườn phía tây của nó. Ở hướng đông, hướng đối diện, cách khoảng bảy cây số, khối núi thứ ba thấp hơn, soai soải xuống vùng đồng bằng ở đông bắc Navarone. Cách khoảng sáu cây số về phía đông đông bắc, ở chỗ khá trũng, tụ tập những mái nhà bằng phẳng ẩn mình sau những rặng đồi phủ đầy tuyết, bên ngoài lác đác vài căn chòi của những người chăn cừu. Có lẽ đó là làng Margaritha.
Vừa điều nghiên địa hình của thung lũng, vừa soi mói nhìn từng góc cạnh ở đó nguy hiểm có thể xuất phát bất cứ lúc nào, Andrea đang tìm hiểu lý do của một âm thanh nhỏ cách đây hai phút đã kéo chàng ra khỏi giấc ngủ. Sau đó chàng lại nghe ba lần liên tiếp một tiếng còi lanh lảnh, ngắn gọn và ngắt lịm dưới chân núi Kostos. Tiếng dội cuối cùng của âm thanh còn rung nhẹ trong không khí khi Andrea quay trở lại động đá.
Chưa đầy ba mươi giây, Andrea đã trở lại vị trí quan sát, tay cầm ống nhòm hiệu Zeiss-Ikon của Mallory. Cảm tưởng ban đầu của chàng thật chính xác: hai mươi lăm, có thể là ba mươi lính Đức, đi thành một hàng không đều, theo sườn núi Kostos, xem xét kỹ lưỡng từng chỗ trũng, từng đống đá. Tuy mặc đồng phục trắng, nhưng cũng dễ phân biệt được họ, dù ở khoảng cách ba cây số. Qua ống nhòm, Andrea thấy những mũi nhọn đen sì của ski trượt tuyết nổi trên nền tuyết trắng. Cả người lẫn ski lượn qua lượn lại trên sườn dốc rải rác những cụm đá. Thỉnh thoảng một người đi ở giữa đưa cao cây gậy leo núi lên chỉ chỏ như để ra lệnh và để phối hợp hành động của những người trong toán. Có lẽ chính hắn thổi còi, Andrea nghĩ.
- Andrea! Mallory từ cửa hang gọi khẽ. Có gì trục trặc không?
Andrea quay lại, đưa một ngón tay lên môi. Đi cà nhắc, mỗi bước cảm thấy đau nhói, Mallory tiến lại, những ngón chân bị trầy trụa, dán dính lại với nhau bằng lớp máu đông, vẫn còn nằm kẹt trong đôi giày của người lính gác Đức và Mallory chưa dám tháo ra.
Chàng nằm phục trên tuyết bên cạnh Andrea và hỏi:
- Có người?
- Phải, loại tồi nhất, Andrea nói nhỏ. Anh hãy nhìn kìa, Keith.
Andrea trao ống nhòm cho Mallory và chỉ tay về phía sườn đồi dưới chân núi Kostos vừa nói thêm:
- Ông bạn đại tá Jensen của anh không bao giờ nói đến bọn “sơn binh” này. Chúng là những toán lính Đức leo núi giỏi, trượt tuyết giỏi, thiện chiến, chuyên săn người trên đỉnh núi tuyết. Thật là rắc rối!
Mallory quan sát toán lính qua ống nhòm, gật đầu nói:
- Bọn chúng đang săn tìm chúng ta. Việc làm của chúng hết sức tỉ mỉ, không bỏ sót một hốc đá nào. Người Đức đã biết chúng ta đổ bộ lên Navarone và họ đang truy lùng gắt gao. Việc khám phá ra chúng ta chỉ còn là vấn đề thời gian.
- Một giờ, một giờ rưỡi nữa thôi, Andrea nói. Chúng sẽ tới đây trước khi mặt trời lặn. Chúng ta không thể bỏ lại Stevens, và chúng ta cũng không thể mang anh ta rời khỏi đây, bởi vì anh ta sẽ chết mất.
- Chúng ta sẽ rời khỏi đây ngay, Mallory nói bằng giọng cương quyết. Nếu ở lại sẽ chết cả nhóm trong cái hang quỷ này.
- Phải nghĩ đến quyền lợi của đa số, có phải thế không Keith? Đại tá Jensen đã từng nhắc nhở anh mà.
- Tôi đồng quan điểm với Jensen. Vấn đề là một ngàn hai trăm người chứ không phải một người. Chúng ta phải nghĩ đến đa số, Mallory kết luận với giọng âu sầu.
- Phải, tôi hiểu. Nhưng anh đừng quá lo lắng vô ích. Nào, chúng là cùng báo tin xấu này cho các bạn, Andrea mỉm cười nói.
Khi cả hai bước vào trong hang đá, Miller đang cúi xuống trên vết thương ở chân bệnh nhân dưới ánh đèn bấm, hỏi bằng giọng lo lắng:
- Khi nào các anh mới có biện pháp để cứu chàng trai này? Cái túi ngủ này tưởng không thấm nước lại hoàn toàn ướt, khiến bệnh nhân của tôi bị tê cóng. Anh ta cần một căn phòng ấm áp, nước uống nóng nếu không sẽ chết mất. Trong một bệnh viện đầy đủ tiện nghi, chưa chắc anh ta đã qua khỏi, huống chi nằm trong cái tủ lạnh đáng ghét này.
Miller không nói quá đáng. Tuyết tan rỉ vào dọc hai bên vách phủ đầy rêu khiến nước đọng lại bên trong hang thiếu ánh sáng và thoáng khí làm lạnh kinh khủng.
- Anh ta có lẽ sẽ được nằm bệnh viện sớm hơn anh nghĩ. Mallory vừa nói vừa nhìn người bệnh đang ngủ. Chân anh ta thế nào?
- Tình trạng càng lúc càng xấu hơn. Tôi vừa mới rắc thêm sulfamide và thay băng cho anh ta. Khả năng tôi chỉ làm được thế, và chỉ mất thì giờ… À mà Đại úy vừa nói gì đến bệnh viện? Chắc Đại úy nói giỡn chơi?
- Không phải giỡn chơi đâu, mà là một trong những điều tệ hại nhất. Quân Đức đang lục xét vùng này và đang tiến về phía chúng ta. Thế nào chúng ta cũng bị lộ.
Miller thóa mạ:
- Trong bao lâu nữa, thưa Đại úy?
- Một giờ, hoặc hơn một chút.
- Và chúng ta sẽ làm gì cho Stevens? Để anh ta ở lại đây chăng? Dù sao đây cũng là chỗ tạm thời khá nhất cho bệnh nhân.
Chúng ta sẽ mang theo Stevens, Mallory quyết định.
- Chúng ta sẽ mang Stevens theo, Miller lập lại. Chúng ta sẽ kéo lê anh ta cho đến chết, điều ấy không lâu đâu, rồi bỏ xác anh ta trên tuyết một cách đơn giản vậy sao?
- Phải đấy Miller. Stevens đã biết quá nhiều. Người Đức có lẽ đoán biết tại sao chúng ta tới đây, nhưng họ không biết chúng ta sẽ đột nhập bằng cách nào vào pháo đài và khi nào hải quân đến. Nhưng Stevens biết rất rõ điều này. Người Đức sẽ làm cho anh ta nói. Chất scopolamine làm bất cứ ai cũng phải nói.
- Scopolamine? Họ sử dụng cả với người sắp chết sao?
- Tại sao không? Trường hợp tôi, tôi cũng làm như họ. Thử tưởng tượng anh là chỉ huy của quân Đức ở hòn đảo này và nếu anh biết rằng hai khẩu đại bác của anh và hầu hết số quân đóng ở pháo đài có nguy cơ nổ tung bất cứ lúc nào, anh cũng làm như thế. Lẽ dĩ nhiên, cả anh và tôi đều không thích điều đó.
Mallory quay sang Casey Brown vừa mới thức và đang run lạnh vì quần áo ướt.
- Brown, anh cảm thấy thế nào?
- Không tệ lắm, thưa Đại úy. Có gì rắc rối chăng?
- Phải, rắc rối lớn. Một toán tuần tiễu Đức đang tới đây. Chúng ta phải đi trước nửa giờ. Bây giờ là bốn giờ chiều. Anh có hy vọng liên lạc được với Caire bằng vô tuyến không?
- Chỉ có Thượng đế mới biết, Brown trả lời. Từ trận bão hôm qua và suốt cuộc leo núi, máy móc bị va chạm nhiều, để tôi thử xem.
- Tốt! Chú ý đừng để ăng ten lên cao quá bờ dốc.
Lúc bước ra khỏi hang đá, Mallory bất thình lình dừng lại khi nhìn thấy Andrea đang ngồi trên một tảng đá ngay lối ra vào. Anh ta vừa gắn xong ống kính viễn vọng vào khẩu súng trường Mauser 7 ly 62 và bọc toàn bộ vào cái bao trắng.
Andrea mỉm cười với Mallory, đứng dậy lấy túi đạn và ba mươi giây sau, anh ta đã mặc bộ đồ leo núi, trắng toát từ mũ trùm đầu đến gót giày. Tay cầm khẩu Mauser, anh ta nói:
- Tôi đi dạo một chút, Keith, và với sự cho phép của anh.
Mallory gật đầu, hiểu ý định của Andrea. Chàng cảm thấy biết ơn anh chàng Hy Lạp này. Khi nãy chàng đã nhấn mạnh với Miller phải kéo Stevens theo nhóm cho đến khi anh ta chết. Chàng giả bộ lạnh lùng nhưng thực sự che đậy nỗi đắng cay và đau đớn, bởi vì nhiệm vụ trưởng đoàn buộc chàng phải quyết định như thế, nhưng bây giờ không cần thiết nữa.
- Tôi xin lỗi vì có hành động không được minh bạch này, Andrea nói, nửa dày vò, nửa tươi cười. Tôi nghĩ rằng anh hiểu tôi. Đây là giải pháp tốt nhất, có phải thế không?
- Phải, đó là cách duy nhất, Mallory trả lời. Anh định đánh lạc hướng chúng?
- Không còn cách nào khác. Chúng trượt tuyết bằng Ski nên sẽ đuổi kịp tôi trong vài phút nếu tôi xuống thũng lũng. Tôi sẽ không thể trở về trước trời tối. Các anh vẫn ở đây chứ?
- Vài người trong chúng ta sẽ ở lại đây. Riêng tôi cũng tìm cách xuống làng tối nay để tìm thực phẩm và chất đốt.
- Lẽ dĩ nhiên. Chúng ta phải làm hết sức mình cho Stevens. Anh ta còn quá trẻ, hầu như một đứa con nít…Tôi sẽ trở về khoảng bảy giờ tối.
Bầu trời đã ngả sang màu xám, những đám mây âm u báo trước cơn mưa tuyết. Gió nổi lên, Mallory rùng mình, nắm bàn tay to lớn của anh chàng Hy Lạp:
- Andrea, hãy cẩn thận. Cầu Chúa giúp anh.
- Đừng quá lo lắng cho tôi, Andrea nhẹ nhàng nói vừa rút tay ra khỏi tay chàng. Nếu anh cầu Chúa, hãy cầu hồn cho bọn Đức đáng thương sắp đụng độ với tôi.
Vài giây sau khi Andrea đi khỏi, Mallory đứng im, lưỡng lự ở lối ra vào cửa động, đoạn chàng quay vào, tới ngồi sụp bên Stevens. Được đỡ ngồi dậy bởi hai cánh tay của Miller, đôi mắt lờ đờ, mất thần, chàng trai trẻ có khuôn mặt xanh xao đến nỗi Mallory cảm thấy tim mình đau nhói. Để che giấu nỗi xúc động của mình, chàng cố mỉm cười.
- Thế nào? Anh cảm thấy đỡ hơn không? Andy Stevens.
- Lạnh lắm, Stevens trả lời và cố mỉm cười lại.
- Còn cái chân?
- Nó cũng bị đông lại. Nhưng dù sao, tôi cảm thấy bớt đau.
- Đông lại! Miller bắt chước giọng người y sĩ bị chạm tự ái. Đông lại! Thật là bạc bẽo! Trong cái “phòng của bệnh viện hạng nhất” này!
Một nụ cười ngắn nở trên đôi môi Stevens. Chàng cúi xuống nhìn rất lâu trên đôi chân mình, đoạn ngẩng đầu lên nhìn Mallory.
- Đại úy! Stevens nói bằng giọng dịu dàng và tỉnh táo, xin các bạn đừng giấu tôi nữa. Tôi không muốn là gánh nặng cho mọi người và…
- Không! Chúng tôi không bao giờ bỏ rơi anh, Mallory cắt ngang. Không bao giờ để anh chết vì lạnh hay bị bọn Đức bắt. Đừng nghĩ ngợi nữa cậu bé. Chúng tôi biết cách vừa lo cho anh vừa lo cho hai khẩu đại bác phù thủy kia.
- Nhưng, thưa Đại úy…
Miller xen vào:
- Này, Trung úy Stevens, anh đừng lo lắng gì cả. Với tư cách là thầy thuốc, tôi phải theo bệnh nhân cho tới khi anh ta bình phục và tôi thực hiện điều ấy ngay cả khi chúng ta chẳng may nằm trong nhà tù của bọn Đức.
- Thôi đủ rồi! Mallory nói. Vấn đề đã được giải quyết xong.
Chàng cúi xuống, tháo dây giầy vừa nói với Miller:
- Này Miller, khi nào anh khoe khoang xong cái “tài” làm y sĩ của anh, hãy liếc nhìn giùm bàn chân tôi. Tôi e rằng đôi giầy bốt của người lính gác không làm vừa ý mấy ngón chân tôi chút nào cả!
Một khắc sau, Miller đã băng bó xong vết thương ở đầu ngón chân phải của Mallory. Anh ta đứng dậy và hãnh diện ngắm “tác phẩm” của mình.
- Thật là tuyệt, Miller thật là tuyệt! Mallory hài lòng lẩm bẩm. Còn hơn cả bệnh viện nổi tiếng John Hopkins ở Baltimore… [1]
Chàng chợt ngưng nói, nhíu mày nhìn bàn chân bó một lớp vải băng dày cộm:
- Này! Tôi tự hỏi… Không biết làm thế nào để đút bàn chân này vô giầy lại.
Thật vậy sau khi đi đôi vớ len còn ướt và xỏ thử chân vào giầy, chàng lắc đầu. Đoạn chàng lật đế giầy của người lính Đức lên xem:
- Giầy số bảy! Nhỏ quá!
- Số chín kia! Stevens chợt nói, tay chỉ về phía đôi giầy mình, mà một chiếc đã bị Andrea dùng dao chẻ hai lúc rút chân bị thương của chàng ra. Đại úy có thể khâu lại chỗ cắt đó để sử dụng. Đôi giầy đó không còn giúp ích gì cho tôi được nữa. Đừng do dự nữa, Đại úy.
Nói đến đây, Steven cười và cố nén cơn đau, hít một hơi dài và tiếp tục giọng chua chát:
- Có lẽ đây là đóng góp lần đầu và cũng là lần cuối của tôi cho một cuộc viễn chinh này. Đại úy nghĩ rằng người ta sẽ thưởng cho tôi loại huy chương nào?
Mallory cầm lấy đôi giầy, lặng lẽ nhìn Stevens, đoạn chàng quay lại khi nghe bước chân lảo đảo của Brown. Anh ta khệ nệ đặt máy điện đàm có ăng ten trên đất, rút trong túi ra một hộp thuốc lá, nhưng bàn tay tê cóng lại vụng về làm rớt xuống bùn. Anh tức quá, đấm hai tay lạnh buốt vào ngực, không buồn lượm hộp thuốc nữa và nặng nề ngồi phịch xuống một hòn đá, vẻ uể oải, lạnh run và thảm não.
Mallory mồi điếu thuốc, trao cho Brown và hỏi:
- Anh có bắt được liên lạc với caire không?
- Chính họ đã tìm mọi cách để bắt liên lạc với chúng ta. Tôi nghe họ yếu lắm và ngược lại họ cũng chẳng nghe rõ chúng ta, có lẽ tại ngọn núi cao đáng nguyền rủa này.
- Có lẽ. Và anh đã bắt được tin gì?
- Chẳng có tin gì cả. Họ chỉ than phiền về sự im lặng quá lâu của chúng ta. Họ nói kể từ bây giờ, cứ bốn tiếng đồng hồ họ gọi lại một lần, bất kể chúng ta ở đâu có nghe được hay không. Họ lập lại mười lần câu đó.
Mallory phấn khởi nói:
- Dù sao đó cũng là niềm an ủi của chúng ta. Thật là thú vị khi biết họ luôn hướng về chúng ta, dù chỉ là một nâng đỡ về tinh thần. Bọn chó săn Đức sẽ phải điên tiết khi biết được điều này… À, mà trước lúc trở lại đây, anh có quan sát chúng không?
- Tôi nghe tiếng chúng, tên sĩ quan đã hô to những khẩu lệnh.
Brown nói xong, tự động đi lấy súng, mở khá an toàn vừa thêm:
- Có lẽ bây giờ họ còn cách chúng ta không trên ngàn thước.
❀ ❀ ❀
[1] 1
★ ★ ★
Toán tuần tra của Đức, đang đi sát lại gần nhau và chỉ cách hang đá chừng bảy trăm năm mươi mét. Viên trung úy Đức, chỉ huy toán tuần tiễu nhận thấy bên cánh phải hàng quân di chuyển hơi chậm vì vượt qua nhưng dốc núi phía nam lởm chởm đá. Nóng nảy, viên trung úy đưa còi lên miệng thổi ba tiếng để hối thúc binh lính di chuyển theo đúng đội hình. Hai tiếng còi đầu lanh lảnh trên núi tuyết, nhưng tiếng thứ ba vừa thổi lên đã tắc nghẹn, dư âm yếu dần, kèm theo một tiếng kêu đau đớn. Mặt co dúm, toàn thân cứng đờ, hắn ngã sấp xuống tuyết. Viên trung sĩ to béo trượt kế bên, há hốc miệng và ngã lăn đùng trên xác viên sĩ quan chỉ huy, tai còn nghe tiếng “cắc cụp” của khẩu Mauser trước khi tắt thở.
Trên sườn phía tây của đỉnh Kostos, từ trên cao, khẩu súng đặt giữa hai tảng đá theo hình chữ V. Andrea tiếp tục bóp cò, liên tiếp bắn thêm ba phát vào đám lính nhốn nháo bên dưới. Chàng bình thản vô cùng.
Chàng chậm rãi điều chỉnh cho nòng hạ thấp và nhìn qua màn khói súng đang treo lơ lửng trong khí lạnh chiều tà. Bọn địch đã biến mất ngay, nhưng chúng vẫn ở đó, núp sau những tảng đá hoặc vùi mình trong đống tuyết, nguy hiểm hơn bao giờ hết. Andrea thừa biết rằng quân Đức sẽ chỉnh đốn lại đội hình ngay sau cái chết của viên trung úy, và chúng lăn xả vào cuộc truy lùng kẻ bí mật bắn trên sườn núi, bởi vì ở Âu châu này chưa có đội quân nào lì lợm có tiếng bằng Tiểu đoàn “Quân trượt tuyết” chuyên đánh trên những đỉnh cao băng giá này.
Một tràng súng liên thanh tự động làm nẩy tung nhưng cụm tuyết bám trên vách đá phía đầu Andrea khiến chàng phải nằm bẹp dí xuống. Thật đúng như chàng dự đoán: bọn Đức áp dụng chiến thuật bộ binh cổ điển, khẩu trung liên khạc đạn yểm trợ cho toán lính khác tiến lên, đoạn chúng dừng lại bố trí rồi lại tiếp tục tiến dưới hỏa lực bắn che của đồng đội. Andrea nhanh chóng nạp đạn vào khẩu Mauser và vẫn trong tư thế nằm sấp, chàng bò sang bên phải phía sau dãy dá thấp trải dài khoảng mười lăm mét. Khi tới đầu dãy, chàng kéo mũ trùm đầu sụp sát mí lông mày và phóng cái nhìn thận trọng ra bên ngoài.
Một loại đạn khác ghim vào ngay vách đá chỗ chàng mới rời khỏi, và lúc đó khoảng sáu người, mỗi bên ba người, rời vị trí chạy dọc theo sườn núi, hướng về phía chàng, chạy được một quãng học lại nằm sấp xuống. Những con chồn thuộc tiểu đoàn leo núi tuyết này không mạo hiểm tấn công trực diện. Họ dàn thành hình quả trám, như cái lưỡi liềm bọc đối thủ vào giữa. Andrea đã quen sử dụng đội hình này nên chàng phá nó cũng dễ dàng. Chàng đã cẩn thận chọn địa điểm bố trí thích hợp, đằng sau chàng có một hành lang cho phép chàng thoát nhanh ra. Nhưng có điều chàng không ngờ là về hướng tây, đỉnh của quả trám lại di chuyển chuyển đến đúng hang đá nơi đồng đội chàng đang ẩn núp.
Andrea quay lưng lại và nhìn bầu trời đang tối sầm. Quân Đức lại bắt đầu nổ súng và áp dụng lần thứ hai lối bắn bao che nhau để tiến lên. Andrea không chần chừ nữa. Chàng lui ra sau các tảng đá vừa giương khẩu Mauser bắn không cần nhắm về phía dưới chân dốc vừa chạy ngược lên dãy đá ở trên cách ít nhất ba mươi mét. Chạy được mười sáu mét, cũng chưa có viên đạn nào đuổi theo, chàng chợt vấp ngã trên một đống đá vụn và trơn. Như một con mèo, chàng lại tung người lên chạy và phóng cả ngực lẫn bụng xuống nơi ẩn núp mới.
Trong mười giây, Andrea lấy lại hơi thở nạp đạn, và bắt đầu bắn vài viên phủ đầu đối phương. Khẩu Mauser lại hết đạn ngưng bặt, vô ích trong tay chàng, và từ bên dưới, quân Đức lại nổ súng, những viên đạn rít trên đầu chàng, làm tung tóe tuyết vào mắt mũi chàng.
Nhưng hoàng hôn đã phủ xuống ngọn núi. Và Andrea chỉ còn là vết mờ lay động. Vả lại bắn chính xác từ dưới lên luôn khó khăn hơn. Do đó, quân Đức áp dụng lối bắn tập trung vào một điểm. Không lưỡng lự, Andrea tiếp tục vọt lên trên nhưng chạy theo độ nghiêng hẳn qua bên, khi tới một chỗ trũng chàng lao người xuống.
Nằm ngửa người ra, trên chỗ trũng, chàng lấy trong túi ra một cái kiếng nhỏ, qua đó chàng thấy trước hết hai tên lính Đức, rồi ba, rồi nửa tiểu đội vừa chạy lên đỉnh núi vừa bắn vu vơ. Mỉm cười nhẹ nhõm, Andrea bỏ gương xuống. Chàng lại uể oải nạp đạn vào khẩu Mauser.
★ ★ ★
- Đại úy, Miller cất tiếng than vãn.
- Gì vậy?
- Đại úy, khi còn ở ghế nhà trường phổ thông, Đại úy có bao giờ đọc truyện nói về những người bị lạc trong cơn bão tuyết, họ cứ đi vòng vòng ngày này qua ngày khác?
- Có! Tôi có nhớ một cuốn tiểu thuyết mô tả cảnh này, Mallory vừa trả lời vừa phủi tuyết bám trên mặt và trên cổ.
- Những người đó cứ đi vòng vòng cho đến chết phải không? Miller cố hỏi.
- Ồ! Đủ rồi! Mallory nổi quạu. Anh cứ lo chuyện không đâu. Chúng ta làm sao đi vòng vòng được bởi vì chúng ta không ngưng đi xuống, anh không thấy sao? Bộ anh tưởng chúng ta đang đi trên cầu thang hình trôn ốc à?
Dù đi đôi giày rộng của Stevens, chàng vẫn cảm thấy hai bàn chân đau đến phát ghét.
Hai người tiếp tục bước giữa cơn mưa tuyết. Andrea đã đánh lạc hướng toán tuần tra của Đức. Mallory không tính tới cơn mưa tuyết dầy đặc và liên tục này lúc chàng có dự định xuống làng Margaritha để tìm chất đốt và thực phẩm. Dù thế nào đi nữa, quyết định của chàng cũng không thay đổi, bởi vì tình trạng của Stevens đang suy yếu trầm trọng. Rất cần có hơi nóng và thức uống cho bệnh nhân.
Những đám mây lớn che khuất mặt trăng lẫn các vì sao. Cách ba mét họ không thấy gì cả, thêm vào sự mất mát la bàn khiến tình thế thêm tệ hại. Tuy nhiên, Mallory không tin là không tìm ra được làng: chỉ cần đi xuống tận giòng nước chảy qua thung lũng, kế đó đi theo giòng về hướng bắc đến làng Margarita, nhưng nếu tuyết cứ tiếp tục rơi như thế này, họ ít cơ may tìm đường trở về hang đá…
Mallory cố nén kêu lên trong khi hai bàn tay của Miller nắm chặt cánh tay chàng và kéo chàng nằm xuống.
Chàng tự trách quá lơ đễnh, và chàng nhận thấy qua tấm màn tuyết trắng, một vật đen, to và thấp, rất gần họ.
- Một cái chòi, chàng nói vào tai của Miller, lòng vui mừng nghĩ rằng đang ở gần làng Margaritha.
Nhưng Miller vẫn xiết chặt tay chàng và thì thầm:
- Hình như tôi nghe có tiếng nói, Đại úy.
- Anh chắc không?
- Tôi không thể chắc chắn điều gì hết. Quỷ bắt tôi đi! Từ một giờ nay, đầu óc tôi toàn tưởng những chuyện đâu đâu. Dù sao, tôi tin rằng đã nghe một tiếng động.
- Ta thử đi xem, Mallory nói. Có lẽ không phải bọn Đức. Bọn chúng đang lùng sục trên đỉnh Kostos. Còn những người chăn cừu chỉ sử dụng chòi vào mùa hè.
Miller mở khóa an toàn khẩu súng Colt và tiến về chòi.
Một phút sau, họ đã ở trong chòi, cánh cửa khép lại sau họ. Mallory rọi đèn bấm vào khắp xó xỉnh nhưng chỉ thấy ngoài cái vách phên bằng gỗ, chỉ có một cái bếp bể nát trên đó để cái đèn đã rỉ sét. Căn phòng hoàn toàn trống vắng, cửa sổ cũng không có.
Mallory quan sát cái đèn.
- Đèn này không xài từ mấy tuần nay, nhưng vẫn còn dầu.
Chàng chợt giật mình, nhẹ nhàng đặt đèn xuống chỗ cũ, tiến lại gần Miller nói khẽ:
- Có người! Hãy đưa tôi khẩu súng của anh và cứ tiếp tục lớn tiếng nói chuyện.
- Sự việc ở Castelrosso lập lại lần thứ hai. Miller nói lớn một mình. Tôi cá với anh lần này không phải là người Cận Đông mà là người Trung Hoa.
Chỉ còn Miller một mình trong chòi, Mallory tay cầm khẩu súng có gắn ống hãm thanh, đã lẻn ra bên ngoài. Chàng đi vòng quanh bờ vách, chợt một bóng đen từ trong bóng tối nhảy xổ ra, tay cầm gậy giơ lên, Mallory nhanh nhẹn né khỏi khúc cây giáng xuống, tay chàng đấm mạnh vào bụng đối phương. Người lạ mặt kêu lên một tiếng, ngã quỵ, miệng rên rỉ.
Mallory nhìn cây gậy thô sơ và cái túi vải hoàn toàn không có vẻ gì nhà binh đeo trên lưng người đàn ông. Ba mươi giây trôi qua, cái bóng đen vẫn nằm yên trên đất. Tưởng hắn giả vờ, chàng bồi thêm cú đá vào đầu gối phải của đối phương. Đó là một đòn tra tấn cổ điển, có tác dụng làm đau cấp thời. Tuy nhiên, bóng đen vẫn bất động.
Chàng cúi xuống bế xốc người lạ mặt lên vai bước vào chòi.
- Ai vậy, Đại úy?
- Tôi cũng không biết. Chỉ toàn xương và da! Hãy đóng cửa lại, Miller. Và chúng ta thử xem tù nhân của chúng ta là ai.
--------------------------------
| 1 | Oscar: Tên giải thưởng điện ảnh lớn tượng trưng bằng một pho tượng nhỏ được trao tặng hàng năm ở Hollywood thuộc Los Angeles (Mỹ) cho những tài năng lớn trong năm. |