- Như thế có nghĩa là anh ta không ngủ, Andrea khẽ nói.
- Chắc chắn vậy, Mallory đồng tình gật đầu. Anh ta đã nghe những gì tôi nói. Stevens biết chúng ta đã quá vất vả vì anh ta. Vì tự ái, anh ta không muốn phải làm phiền chúng ta hoài.
- Thật không khó đoán tại sao anh ta bỏ đi, Andrea cho ý kiến. Chúng ta chỉ đi vắng có hai mươi phút, trong thời gian đó, anh ta không thể lết xa khỏi đây bốn mươi mét. Chúng ta chỉ cần đi tìm quanh quẩn đây thôi.
Thật vậy, họ tìm thấy Stevens trong vòng ba phút. Dưới ánh đèn pin, Andrea thấy một vết máu rỉ dài trên nền trắng cho đến chỗ Stevens đang vùi đầu vào đống tuyết. Anh ta ngất đi vì lạnh và đau đớn.
Đưa Stevens trở về lại hang đá, Mallory cho anh ta hớp một ngụm rượu mạnh. Stevens sặc sụa và nhổ ra gần hết, Andrea giúp Mallory cột chặt lại thanh cây tháp chân gãy, cầm máu cho bệnh nhân và đặt anh ta nằm vào đống quần áo khô. Chàng không thể làm gì khác hơn trong khi chờ Miller và Panayis từ làng trở về. Phải nhìn nhận rằng ngoài Dusty Miller ra, không ai có thể làm gì được để cứu chàng thanh niên khốn khổ này.
Ở gần lối ra vào, Louki đã đốt lửa bằng củi khô cháy dòn dã nhưng ít khói. Hơi ấm lan tràn tức thì, nhưng làm tuyết tan nhanh và chẳng mấy chốc trong hang biến thành cái đầm lầy nhỏ. Đó là sự bất lợi nhưng đối với họ, đặc ân được sưởi ấm lần đầu tiên kể từ ba mươi tiếng, phải được trả giá tối thiểu bằng bất lợi đó.
Dựa lưng vào vách đá, Mallory cảm thấy thân thể được thư giãn và cảm giác buồn ngủ dâng lên nhưng ngay lúc ấy Brown bước vào. Anh ta có vẻ lạnh cóng và thất vọng. Mallory trao cho Brown cái bầu rượu retsimo, một loại rượu của Hy Lạp pha lẫn với nhựa cây. Chàng nói:
- Hãy nuốt ngay, đừng ngậm. Nó đắng lắm.
Chàng chỉ máy vô tuyến:
- Không bắt được sao?
- Ngược lại, Brown trả lời, cả ta lẫn họ đều nghe nhau rất rõ.
- Và họ chắc hài lòng vì nhận được tin của chúng ta?
- Họ không nói thế. Họ ra lệnh cho tôi im. Họ báo cho biết bọn Đức đã thiết lập những trạm nghe lén trong vòng hai tuần nay tại vùng này.
Mallory hồi tưởng lại cuộc sống du mục, nay trốn chỗ này mai trốn chỗ khác của Andrea và chàng trên núi tuyết trắng của đảo Crète mà nguyên nhân cũng bởi những trạm nghe lén này của địch quân.
- Thôi nào! Chàng nói, trong một hòn đảo như thế này, nhỏ như cái đĩa ăn súp, họ nhắm mắt cũng tìm ra chỗ chúng ta, đâu cần phải đặt những trạm đó. Anh có nghe nói gì về những trạm tự động này không, Louki?
- Ồ chưa bao giờ. Tôi cũng chưa biết nó như thế nào.
- Điều đó không quan trọng, dù sao bây giờ anh biết cũng đã trễ rồi. Brown, anh hãy cho biết những tin tức còn lại.
- Hạm đội đổ bộ của Đức gồm những tàu lớn dài và những trinh sát hạm cực nhanh, đã khởi hành sáng nay từ Pirèe, khoảng bốn giờ sáng. Bộ Tư lệnh của chúng ta ở Caire cho rằng chúng sẽ lẩn trốn đâu đó ở quần đảo Cyclades ban đêm.
- Bộ Tư lệnh thông minh dữ ha! Thử hỏi ngoài Cyclades ra, chúng còn chỗ nào để trốn? Dù sao, biết tin chúng sắp hành động, cũng thú vị phải không? Hết rồi hả, Brown?
Brown gật đầu.
- Vậy thì, cám ơn anh đã chịu khó ra ngoài trong khi thời tiết như thế này. Bây giờ tốt nhất là anh nên ngủ và dự trữ giấc ngủ thật nhiều, bởi vì theo ý kiến của Louki, chúng ta sẽ xuống làng Margaritha trước khi trời sáng và sẽ lẩn trốn ở đó suốt ngày. Nhà anh ta có cái giếng bỏ hoang rất thích hợp cho cả nhóm. Rồi sau đó tối mai chúng ta sẽ lẻn vào thành Navarone.
Mallory nhìn Brown nằm dài bên Stevens, đoạn liếc Louki.
- Đại úy có vẻ lo lắng, anh chàng nhỏ người nói, giọng hơi khó chịu. Đại úy không vừa ý với kế hoạch của tôi đề ra sao?
- Tôi rất tán thành kế hoạch của anh, Mallory nói. Điều làm tôi lo lắng là cái thùng mà anh đang ngồi lên trên. Nó chứa đủ thuốc nổ có thể làm nổ tung một thiết giáp hạm trong khi anh chỉ ngồi cách ngọn lửa có một mét. Trong hang này bắt đầu nóng và ẩm ướt rồi đấy.
- Chúng ta hãy cho thùng này ra ngoài. Louki nói vừa nhanh nhẹn nhổm dậy, trừ phi nó bị ướt…
- Nó có thể để lâu mười năm trong nước mặn mà không sao cả. Nhưng trong cái thùng gỗ gần Andrea đứng chứa đựng những bộ phận nổ có thể bị hư hại vì ẩm ướt. Chúng ta nên cho hết ra ngoài và đậy lên trên một tấm vải chống nước.
- Louki này có ý kiến tốt hơn! Căn chòi của già Leri! Chúng ta có thể tới đó lấy khi nào cần, và nếu vì lý do nào đó phải rời khỏi đây ngay, chúng ta cũng khỏi phải lo lắng.
Mallory chưa kịp có ý kiến gì, Louki đã ráng sức nhấc bổng cái thùng lên, lảo đảo dưới trọng tải và tiến ra cửa hang.
- Hãy cho phép tôi, Andrea vừa nói vừa nhấc thùng gỗ khỏi vai Louki.
- Không, không! Louki tỏ vẻ chạm tự ái. Tôi có thể vác nó dễ dàng mà. Có gì đâu!
- Phải, nhưng vì thùng thuốc nổ đòi hỏi một cách khiêng đặc biệt mà tôi đã được huấn luyện.
- Vậy sao? Tôi đâu có biết. Thôi để tôi đảm nhiệm thùng đựng bộ phận nổ này.
° ° °
Mallory nhìn đồng hồ: một giờ đúng. Miller và Panayis không thể chậm trễ hơn. Gió đã bớt và tuyết không rơi nữa. Đi bộ sẽ dễ dàng nhưng bắt buộc phải để lại dấu chân. Thật là phiền, những dấu chân này, nhưng không đến nỗi bất hạnh: vì cả nhóm sẽ ra đi trước lúc rạng đông và sẽ tới thung lũng nơi đó không còn tuyết nữa.
Mallory lạnh run vì quần áo ướt. Chàng ném thêm một nắm củi khô vào ngọn lửa sắp tàn. Nó lại bừng sáng thật mau và hang đá tràn ngập ánh sáng. Brown đã ngủ. Stevens đang nằm nghiêng không cử động, hơi thở nhanh và ngắn. Anh ta chỉ chờ chết.
Andrea vào Louki trở về năm phút sau, kế đó là Miller và Panayis. Chất đầy trên vai và trên lưng đủ thứ đồ đạc, Miller bước vào chân đi không vững và lăn kềnh ra gần đống lửa. Anh ta có vẻ tận cùng hơi sức.
- Thế nào Miller, mọi việc ổn cả chứ? Mallory hóm hỉnh hỏi. Tôi hy vọng rằng Panayis theo kịp bước chân anh.
Miller hình như không nghe, đôi mắt anh ta nhìn chằm chặp ngọn lửa, đang tập trung chú ý.
- Lạy Chúa! Cuối cùng anh ta thốt lên. Tôi đã phải mang trên lưng một cái lò và khá nhiều dầu đủ để nấu nước tắm cho một con voi, và bây giờ đến đây thì các anh đã có lửa rồi.
- Bình tĩnh đi nào! Mallory vừa nói vừa trao cho anh ta bầu rượu.
Vài hớp đủ làm cho Miller hồi phục, và anh ta lại trở nên vui vẻ. Andrea đã mở tung gói chăn nệm để lo chỗ nằm cho Stevens.
- Còn thực phẩm? Mallory hỏi.
- Cái đó khỏi lo, chúng tôi mang về dồi dào. Anh chàng Panayis này thật tuyệt vời. Chúng ta có bánh mì, rượu nho, phó mát bằng sữa dê, xúc xích ướp tỏi, gạo.
- Gạo nữa? Mallory ngạc nhiên hỏi lại. Nhưng làm sao kiếm được trong hòn đảo này hiện nay?
- Panayis có khả năng làm việc ấy, Miller nói. Anh ta lấy mọi thứ từ nhà bếp của viên đại úy Đức, tên gọi là Skoda.
- Viên đại úy Đức? Các anh đùa hoài.
- Đó là sự thật trăm phần trăm! Các anh biết không? Miller khốn khổ này đứng chờ ở cửa sau, hai đầu gối run lập cập, luôn trong tư thế sẵn sàng bỏ chạy bất cứ lúc nào, trong khi đó Panayis chôm đồ trong nhà bếp. Chà! Anh chàng đó mà qua bên Mỹ làm găng tơ thì mau phất lắm! Trong vòng mười phút, không những anh ta đã vét sạch tủ đồ ăn của đại úy Skoda mà còn “mượn” cái bao để đựng “chiến lợi phẩm” nữa.
- Nhưng còn lính gác?
- Tôi nghĩ chắc họ được lệnh đi ra ngoài. Anh chàng Panayis này câm như hến, vả lại nếu anh ta nói tôi cũng không hiểu. Theo tôi thì tất cả bọn Đức trên hòn đảo này đang được lệnh truy tìm chúng ta.
- Đi và về mà không gặp một ai, thật là quá giỏi, Miller.
- Không, chúng tôi có gặp hai người bạn của Panayis, đúng hơn là anh ta chạy theo họ. Hình như họ đã mách cho anh ta một nguồn tin. Anh ta có vẻ lo lắng và cố gắng diễn tả cho tôi nghe, nhưng tôi và anh ta không cùng một tần số, nên chẳng hiểu gì cả.
Ở phía bên kia, Panayis đang nói nhỏ và nhanh với Louki
- Có gì thế, Louki? Mallory hỏi.
- Chúng tôi phải đi ngay, Louki vừa nói vừa bứt râu vẻ giận dữ. Panayis muốn đi ngay. Anh ta vừa cho biết bọn Đức có ý định khám xét làng từng nhà một đêm nay, vào khoảng bốn giờ sáng. Có lẽ họ tin rằng các anh ẩn núp ở đó. Nhưng nếu họ khám phá ra tôi và Panayis không có nhà, họ sẽ nghi ngờ chúng tôi.
- Lẽ dĩ nhiên, Mallory nói, các anh không nên liều lĩnh. Các anh vẫn có thể trở về kịp trong một giờ nữa. Nhưng trước hết, hãy cho chúng tôi biết sơ đồ của pháo đài Navarone.
Chàng rút từ trong túi ra tấm bản đồ do ông Eugène Vlachos vẽ và quay sang hỏi Panayis.
- Hình như anh biết rõ pháo đài như Louki biết rõ vườn rau của anh ta. Tuy tôi cũng biết khá nhiều về pháo đài, nhưng tôi cần anh mô tả những chi tiết liên quan đến nó như kho đạn, hai khẩu đại bác, nơi đặt máy phát điện, trại lính, sự canh gác và đổi phiên gác, lối thoát, hệ thống báo động, kể cả những xó xỉnh nào tối nhất… Bất cứ chi tiết nào anh biết, hãy cho chúng tôi biết vì một chi tiết nhỏ có thể cứu hàng ngàn sinh mạng.
- Nhưng Đại úy dự định đột nhập vào pháo đài bằng cách nào? Louki hỏi.
- Tôi cũng chưa biết. Tôi chỉ có thể quyết định được sau khi đã xem xét pháo đài.
Andrea nhìn Mallory, đoạn quay mặt đi. Họ đã hoàn toàn sẵn sàng kế hoạch để đột nhập vào pháo đài. Nhưng đó là nền tảng toàn bộ vấn đề, và Mallory nghĩ rằng bí mật này chỉ có năm người trong nhóm biết thôi.
Trong gần bốn mươi lăm phút, Mallory và ba người Hy Lạp nghiêng đầu trên tấm bản đồ, dưới ánh sáng của ngọn lửa. Mallory đối chiếu lại những điều đã biết trước và ghi nhận các tin tức mới mà Panayis cung cấp, và anh ta đã cung cấp rất nhiều. Thật khó mà tưởng tượng nổi một người có thể ghi nhận được nhiều điều đến thế trong khi anh ta chỉ được hai lần quan sát pháo đài trong bóng tối. Cái năng khiếu quan sát của anh ta thật đáng phục và Mallory tự nói rằng có lẽ do lòng căm ghét bọn Đức đã khiến anh ta khắc ghi mọi chi tiết này vào trong ký ức rõ ràng như chụp ảnh, Mallory lại càng cảm thấy tin tưởng thêm vào sự thành công.
Tiếng nói chuyện trong hang đá đánh thức Casey Brown. Cảm thấy hơi nóng nực bởi sự hiện diện của bảy người trong hang thiếu thoáng khí, anh ta bước ra ngoài. Nhưng chưa được ba mươi giây Brown đã quay lại, hoảng hốt:
- Tất cả hãy im lặng. Có cái gì động đậy trên sườn đồi, tôi đã nghe hai lần.
Panayis thốt ra một tiếng chửi và biến mất ra khỏi hang, tay cầm dao sáng ngời, không ai kịp nói lời nào. Andrea đứng dậy đi theo sau, nhưng Mallory chận lại nói:
- Hãy ở yên chỗ, Andrea! Anh bạn Panayis của chúng ta hơi vội. Có thể không là gì hết… hoặc là…
Stevens bắt đầu nói mê sảng.
- Các anh không có cách nào cho bệnh nhân im lặng được sao? Mallory nói.
Nhưng Andrea đã tới ngồi kế bên Stevens, nhẹ nhàng đặt tay trên trán bệnh nhân và nói với anh ta những lời dịu dàng. Như bị thôi miên, Stevens dần dần thôi nói mê. Chợt anh ta mở mắt thức dậy, hoàn toàn tỉnh táo.
Vài giây sau, Panayis trở lại và ngồi sụp xuống gần đống lửa.
- Không có ai cả, anh ta nói. Tôi chỉ thấy vài con dê ở dưới chân đồi. Chỉ có thế!
Mallory phiên dịch câu nói của anh ta cho Miller và Brown nghe. Nhưng Brown phản đối:
- Tôi không tin đó là những con dê. Một tiếng động hoàn toàn khác hẳn.
- Để tôi đi xem sao, Andrea nói, nhưng tôi nghĩ rằng Panayis không lầm đâu.
Trong vòng ba phút, Andrea quay trở lại.
- Panayis có lý. Tôi chẳng thấy gì cả, lẫn người và dê.
- Brown! Có lẽ anh đã nghe tiếng động do đàn dê gây nên, Mallory cho ý kiến. Tuy nhiên, tuyết đã ngừng rơi và gió đã dịu, có thể thung lũng sẽ lố nhố các toán tuần tiễu Đức. Đã đến lúc các anh phải đi, Louki và Panayis. Hãy cẩn thận và nếu có ai tìm cách ngăn cản, cứ nổ súng. Vì dù sao, người ta cũng tưởng các anh là chúng tôi.
- Đại úy khỏi cần khuyên, chúng tôi cũng làm thế, Louki nói. Panayis đây chỉ chờ có cơ hội để giết quân thù.
- Thôi được, Mallory kết luận. Tôi rất ân hận vì tôi đã lôi kéo các anh vào những hoạt động của chúng tôi, nhưng bây giờ dù sao các anh cũng đã ở đây, tôi thành thật cám ơn các anh ngàn lần về những gì các anh đã làm vì chúng tôi. Hẹn gặp nhau lại lúc sáu giờ rưỡi sáng.
- Phải, sáu giờ rưỡi sáng, trong rừng cây ô-liu ở ven bờ sông. Chúng tôi sẽ chờ các anh ở đó.
Hai phút sau, hai người dân thành Navarone đã lên đường trở về làng Margaritha. Trong hang đá, chỉ còn tiếng tí tách của ngọn lửa đang hấp hối. Brown đã ra bên ngoài để trực gác và Stevens lại chìm đắm trong giấc ngủ. Miller tiến lại gần Mallory, chìa cho chàng xem một mẩu băng dính đầy máu
- Đại úy thử ngửi xem, anh ta nói.
Mallory hơi nghiêng mình nhìn vào tấm vải băng và lùi lại nhăn nhó:
- Ồ khiếp quá! Thế là thế nào?
- Vết thương đã thối rữa, Miller vừa nói vừa vất băng vào lửa và nó bùng lên như một đám cháy. Anh ta chắc chắn không thoát khỏi chết. Tôi chỉ mất thì giờ.