TỐI CHỦ NHẬT 19g – 2g

Những Khẩu Pháo Ở Navarone

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

- Đại úy dùng cà phê nhé?

Malory cựa mình, làu bàu và cố ra khỏi giấc ngủ say vì kiệt sức. Chàng khó nhọc ngồi nhổm dậy, thôi dựa lưng vào thành ghế bằng kim loại, tự hỏi khi nào Không lực Hoàng gia (Royal Air Force) [1] mới quyết định làm nệm cho những ghế đáng ghét này. Bây giờ chàng đã hoàn toàn bừng tỉnh nhưng mệt mỏi, đôi mắt như thường lệ liếc mặt kính đồng hồ đeo tay. Đúng bảy giờ tối. Chàng ngủ gần hai tiếng. Tại sao họ cản mình ngủ tiếp nhỉ?

- Đại úy dùng cà phê nhé? Viên xạ thủ đại liên trẻ tuổi lập lại, kiên nhẫn đứng bên chàng, tay bưng cái nắp thùng đạn dùng làm khay, trên đó để mấy tách.

- Ồ xin lỗi cậu, xin lỗi, Mallory nói.

Chàng cầm một cái tách đang bốc khói, đưa lên mũi hít hà với vẻ khoan khoái.

Viên xạ thủ trẻ mỉm cười hãnh diện:

- Thế đấy! Chúng tôi có bình lọc cà phê trong bếp mà.

- Một bình lọc cà phê! Lạy các đấng thần linh cao cả! Ôi chiến tranh tuy khắc nghiệt nhưng Không lực Hoàng gia vẫn cố khắc phục!

Chàng bắt đầu nhấm nháp cà phê với vẻ hài lòng. Chợt chàng bật dậy không màng đến những giọt nước nóng hổi bắn trên đùi, nhìn qua cửa sổ và quay lại viên xạ thủ vừa đưa ngón tay ngạc nhiên chỉ vùng đồi núi trải dài bên dưới máy bay.

- Điều gì đã xảy ra? Chàng la lên. Lẽ ra hai giờ sau khi màn đêm buông xuống chúng ta mới đến… thế nhưng bây giờ mặt trời vừa lặn! Viên phi công có…

- Thưa Đại úy, chúng ta đang ở Chypre [2] , viên xạ thủ nói. Đại úy có thấy xa kia là ngọn núi Olymp [3] ở đường chân trời. Để tới đảo Castelrosso [4] chúng ta hầu như luôn luôn bay trên Chypre. Chẳng qua là để tránh bị quan sát.

- Lạy Chúa tốt lành! Cậu ta nói là để tránh bị quan sát! Ai đó nói bằng giọng Mỹ lè nhè và nặng. Người ta đã đưa chúng ta xuống một chiếc tàu nhỏ ở Alexandrie chạy hơn hai mươi dặm để che mắt không cho ai thấy chúng ta lên chiếc thủy phi cơ [5] già nua sơn màu trắng bệch này, bảo đảm một người mù đứng cách một trăm cây số còn thấy nó, nhất là khi trời sắp tối.

- Màu trắng để chống nhiệt mà, người xạ thủ nói.

- Tôi chẳng quan tâm gì đến hơi nhiệt, này cu cậu. Tôi còn khoái nóng nữa. Cái mà tôi không ưa là những quả trái phá và những viên đạn bẩn thỉu này có thể làm nổ tung chúng ta bất cứ lúc nào.

Anh chàng người Mỹ nói xong, ngã ngửa người xuống chiếc ghế thiếu tiện nghi, nhắm mắt và thiêm thiếp một lúc.

Người xạ thủ vừa mỉm cười với Mallory vừa nói:

- Anh ta không ưa những đồ quỷ này, có phải thế không Đại úy?

Mallory bật cười nhìn theo người xạ thủ đến khi anh ta khuất bóng trong buồng lái phía trước. Chàng thong thả nhâm nhi cà phê và ném một cái nhìn về phía anh chàng đang lim dim ngủ ở dãy ghế bên. Anh ta có vẻ bình thản tuyệt diệu. Đó là hạ sĩ Dusty Miller, người Mỹ, mới gia nhập binh đoàn Sa mạc. Có anh ta đi theo thật là tốt! Mallory quay nhìn những người khác gật gù hài lòng. Những người đó cũng vậy, có họ đi theo thật là quý! Mười tám tháng trải qua ở đảo Crète đã dạy cho chàng biết đo lường chính xác khả năng sống còn của từng người trong loại chiến tranh mà chàng đang phải theo đuổi này. Đại tá Jensen đã thành lập một ê-kíp tuyệt vời. Thật tình chàng cũng chưa biết rõ cá tính từng người một, nhưng chàng đã nghiên cứu hồ sơ cá nhân đầy đủ mà đại tá đã cung cấp và xác nhận họ đều là những người xứng đáng.

Tuy nhiên trường hợp của Stevens không phải là không có chút vấn đề sao? Mallory tự hỏi. Chàng nhìn dáng trẻ trung, mái tóc hoe vàng của Hải quân trung úy Andy Stevens thuộc lực lượng trừ bị của Hải quân Hoàng gia. Anh ta đã được tuyển chọn vì ba lý do. Anh sẽ lái tàu đưa cả nhóm đến Navarone. Anh là một vận động viên leo núi thuộc hàng đầu, đã từng chinh phục những đỉnh cao nổi tiếng. Ngoài ra, còn nói thông thạo tiếng Hy Lạp cổ và nay. Hai mùa hè qua, anh đã từng làm hướng dẫn viên cho các du khách đến tham quan Athènes, thủ đô của Hy Lạp. Nhưng có điều anh ta quá trẻ, trẻ một cách phi lý và tuổi trẻ có thể nguy hiểm đấy. Nhất là trong loại chiến tranh gián điệp vô cùng tàn bạo này. Nguồn hứng khởi, sự hăng hái, lòng nhiệt thành của tuổi trẻ không những chưa đủ, mà còn chắc chắn tạo nên một sự bất lợi. Trong chiến tranh thầm lặng này phải có kiên nhẫn, bền bỉ, vững vàng, tinh khôn và khéo léo, đó là tất cả những đức tính mà người trẻ tuổi ít có được… Nhưng dù sao anh ta có thể có khả năng học hỏi nhanh.

Mallory lại nhìn Dusty Miller. Anh chàng này có vẻ chiến đấu lâu năm và không còn nuôi ảo tưởng. Bốn mươi tuổi đời, hạ sĩ Miller sinh trưởng ở Californie (Mỹ), mang dòng máu Ai-len ba phần và giòng máu Trung Âu một phần. Trong hai mươi lăm năm qua anh đã chiến đấu và phiêu lưu mạo hiểm nhiều gấp mười hai lần cuộc đời một người. Trước làm thợ mỏ trong một mỏ bạc ở Nevada, rồi làm thợ khoan đường hầm Canada, thợ khoan dầu ở nhiều nơi trên thế giới. Khi Hitler tấn công Ba Lan, anh ta đang ở Ả Rập Sê-út. Sau đó qua Anh Quốc, gia nhập vào Không lực Hoàng gia. Chuyến bay chiến thuật đầu tiên cũng là chuyến cuối cùng. Mười phút sau khi cất cánh khỏi sân bay Menidi gần thủ đô Ai Cập vào một đêm tháng giêng 1941, động cơ bị hỏng và máy bay đành nhục nhã đáp xuống một cánh đồng ruộng cách thủ đô vài cây số về phía bắc. Miller đã trải qua phần còn lại của mùa đông ở một nhà bếp của phi trường Menidi, trong cơn phẫn nộ sôi sục. Đầu tháng tư, anh ta tự động rút lui khỏi ngành hàng không mà không cho ai biết gì cả, và lang thang lên tận biên giới An-ba-ni, thì đụng đầu quân Đức. Sau này anh ta kể khi sư đoàn thiết giáp của Đức tiến sát anh chỉ còn cách hai dãy nhà thì anh đã kịp di tản lên chiếc tàu vận tải Slamat. Nhưng chiếc Slamat bị đắm và được khu trục hạm Wryneck vớt, nhưng lại đến phiên tàu khu trục bị chìm, cuối cùng anh cũng tới được Alexandrie (thành phố cảng của Ai Cập) trên một chiếc thuyền nhẹ và dài nhưng cũ kỹ với quyết tâm duy nhất là không bao giờ mạo hiểm đi trên không cũng như đi trên biển. Vài tháng sau, anh ta lại tham gia một phân đội chuyên đánh khuấy phá hậu phương của quân Đức ở Lybie.

Mallory thầm nghĩ, anh ta là mẫu người tương phản tuyệt đối với Hải quân trung úy Stevens trẻ trung, tươm tất, phấn khởi, luôn ăn mặc chỉnh tề đúng quân cách. Còn Miller thì khô cằn, gầy ốm, chịu đựng rất giỏi, và mối hận thù hầu như là bệnh hoạn với sự trang điểm. Ngoài ra, trái ngược với Stevens, anh ta chưa bao giờ leo núi trong cuộc đời và những tiếng Hy Lạp mà anh biết thì không bao giờ có trong tự điển, hay nói đúng hơn anh ta mù tịt ngôn ngữ này. Nhưng hai sự việc này không chút quan trọng, bởi vì Miller được chọn vì lý do duy nhất: anh ta là chuyên gia số một về chất nổ, phải nói là một vị thần thật sự về phương diện này. Bình tĩnh, chính xác, đáng sợ khi hành động, anh ta được Cơ quan Tình báo Trung đông ở Ai Cập đánh giá là kẻ phá hoại cự phách nhất miền nam Châu Âu.

Ngồi đằng sau Miller là Casey Brown. Dáng người béo lùn, da màu nâu sậm và rắn chắc. Trung sĩ điện báo viên Brown sinh trưởng ở ven bờ sông Clyde. Trong thời bình, anh ta là kỹ sư kiêm kiểm soát viên trong một xưởng đóng tàu nổi tiếng. Brown sẽ là thợ máy của chiếc tàu đưa nhóm đến Navarone và anh có nhiệm vụ luôn giữ liên lạc bằng vô tuyến với căn cứ. Thêm vào đó, anh ta còn có điểm lợi là đã từng làm chiến sĩ du kích xuất sắc thuộc Cục Công vụ Đặc biệt, được tưởng thưởng Huân chương chiến công và nhiều huân chương khác sau hàng loạt thành tích của anh ở vùng biển Egée và ngoài khơi vùng biển Lybie.

Người thứ năm và là cuối cùng của nhóm ngồi ngay sau lưng Mallory. Chàng chẳng cần quay lại để nhìn anh ta. Chàng biết rõ anh ta còn hơn biết rõ mẹ ruột mình. Andrea đã là trung úy dưới quyền chàng trong mười tám tháng ở đảo Crète. Anh chàng Andrea to lớn này với nụ cười liên tục nhưng quá khứ thì bi thảm, đã từng lẩn trốn trong các hang động, ngủ trong các chòi bỏ hoang của những người chăn cừu, bị quân tuần tiễu và phi cơ Đức săn đuổi thường xuyên. Andrea đã trở thành một thứ "alier-ego" của chàng, có nghĩa là: "nhìn Andrea, đối với Mallory chẳng khác gì tự soi mình trong gương". Sở dĩ Andrea có mặt trong nhóm không phải tại vì anh ta là người Hy Lạp, am tường sâu sắc ngôn ngữ, phong tục và ý nghĩa của người dân ở đảo, cũng không phải vì anh ta và Mallory là đôi bạn thân hoàn toàn hiểu và hợp ý nhau. Anh ta có mặt trong nhóm độc nhất chỉ vì sự hiện diện của anh ta bao hàm ý nghĩa che chở và an toàn tuyệt đối. Với đức tính nhẫn nại vô bờ bến, ít nói, không gì lay chuyển nổi, tuy thân hình to lớn vạm vỡ nhưng lại nhanh nhẹn, mọi động tác như mèo của anh đều dẫn đến một hành động bạo lực ghê gớm. Phải nói anh ta là một cỗ máy chiến đấu hoàn hảo, một giấy bảo hiểm chống thất bại.

Đại tá Jensen có thể không thành lập nổi một nhóm nào khác khá hơn cho dù ông ta có lục lọi hết hí trường chiến tranh Địa Trung Hải, Mallory thỏa mãn nghĩ thế. Miller và Brown được gọi đến Alexandrie gần một tháng trước, Stevens được bốc đi trong lúc công tác trên chiếc tuần dương hạm và cũng khá lâu rồi. Và nếu trong vùng Núi Tuyết, bức điện do đài thu gần nhất chuyển đi không mất một tuần để vượt qua bảy mươi lăm cây số đường núi phủ đầy tuyết trắng và quấy phá liên tục bởi quân Đức, chưa kể thêm năm ngày để đi tìm Mallory và Andrea, thì chắc cả hai đã có mặt ở Alexandrea sớm hơn gần hai tuần. Mallory càng thêm kính phục đại tá Jensen. Ông thật là người biết tiên liệu sự việc và minh mẫn. Ông đã chuẩn bị chu đáo cho chiến dịch này ngay cả trước khi thực hiện hai vụ nhảy dù vô ích trên Mavanore.

Bây giờ là tám giờ và bên trong máy bay hầu như hoàn toàn tối đen. Mallory đứng dậy, tiến về phía buồng lái. Viên phi công trưởng, khuôn mặt bị vây quanh bởi một đám mây khói thuốc đang uống cà phê. Người hoa tiêu phụ khẽ vẫy tay chào chàng và tiếp tục quan sát cảnh nhàm chán bên ngoài máy bay.

- Chào các vị, Mallory mỉm cười nói. Cho phép tôi vào nhé?

- Anh là khách quý có thể vào buồng chúng tôi bất cứ lúc nào, viên phi công nói.

- Tôi chỉ sợ làm phiền các vị.

Viên phi công tay cầm tách cà phê hướng về cái hộp đen to và thấp trong bóng tối lờ mờ:

- "Phi công tự động" của tôi lái đấy. Một bộ máy tinh xảo và ít nhầm lẫn hơn kẻ lười biếng như tôi… Chắc Đại úy muốn hỏi điều gì?

- Vâng, tôi xin được biết những huấn thị mà ông được nhận đêm nay.

- Khi trời tối, chúng tôi sẽ thả các anh xuống đảo Castelrosso. Thú thật tôi chẳng hiểu gì hết. Cả một chiếc thủy phi cơ to lớn này chỉ để chở năm người và một ít vật dụng mang theo mà thôi. Nhất là đáp xuống Castelrosso. Nhất là trong đêm tối. Vừa qua, có một chiếc cũng đáp xuống đó, nhưng bị tai nạn. Tôi không biết tại sao có thể là gặp một chướng ngại ngầm dưới biển. Chỉ có hai người sống sót.

- Người ta đã cho tôi biết điều đó. Tôi rất tiếc, nhưng cũng chỉ biết tuân theo lệnh. Xin ông vui lòng nói với các nhân viên thuộc quyền giữ bí mật tuyệt đối về chuyến đi này.

- Tất cả chúng tôi đều bị đe dọa đưa ra tòa án binh nếu không kín miệng. Chà! Y như là một vụ kinh doanh đặc biệt.

- Phải đấy… Chúng tôi sẽ để lại trên máy bay một vài rương nhỏ. Sẽ có người đến lấy khi ông bay trở về căn cứ. Chúng tôi sẽ thay quần áo khác để đổ bộ.

- Chúc Đại úy may mắn. Dù là bí mật quốc phòng hay không bí mật, tôi nghĩ rằng Đại úy cũng cần được chúc gặp may.

Mallory tươi cười:

- Nhờ các vị mà bước đầu khởi hành của chúng tôi tốt đẹp. Mong sao việc hạ cánh được thực hiện gọn gàng, êm thắm.

- Hãy yên tâm, người anh em. Đại úy quên rằng tôi cũng có mặt trong phi cơ này sao?

❀ ❀ ❀

[1] 1

[2] 2

[3] 3

[4] 4

[5] 5

★ ★ ★

Những động cơ của chiếc thủy phi cơ Sunderland nổ vang rền bên tai họ trong khi một chiếc xuồng nhỏ nhẹ nhàng ló ra khỏi bóng tối và đến cập sát vỏ máy bay sáng loáng. Không một chút thì giờ nào được mất, không một lời nói nào được phát ra, chưa đầy một phút nhóm năm người và vật liệu mang theo đã ở trong xuồng. Trong vòng một phút sau, chiếc xuồng dừng lại, cọ sát vào mũi đập đá của hòn đảo Castelrosso. Hai sợi dây thừng tung xoắn tít trong màn đêm, được nắm bắt và cột nhanh nhẹn bởi những bàn tay thành thạo. Một cái thanh bằng sắt hoen rỉ ăn sâu vào vách đá nhô lên bầu trời đen chi chít sao. Khi Mallory leo tới đầu thang, một bóng đen tiến ra hỏi:

- Đại úy Mallory?

- Phải, tôi đây.

- Tôi là Đại úy Briggs thuộc lục quân. Yêu cầu Đại úy cho nhóm chờ ở đây. Đại tá muốn nhìn qua các vị.

Mallory không có cảm tình ngay với con người có cái giọng mũi và cái vẻ hách dịch đó. Chàng cảm thấy cơn giận bốc lên nhưng chàng không nói gì hết. Briggs có lẽ là loại người chỉ thích có rượu gin [1] và cái giường nằm. Sự hiện diện của nhóm chàng về khuya làm ông ta phải xa một trong hai thứ hoặc xa cả hai thứ. Ôi! Chiến tranh thật đáng ghét!

Họ trở lại trong vòng mười phút, theo sau là một bóng đen thứ ba Mallory nhìn ba người đàn ông đứng trên bờ đập đang chăm chú quan sát từng người trong nhóm. Chàng quay lại hỏi:

- Miller đâu?

- Tôi đây, xếp, Miller lầm bầm đứng lên khỏi cái bục đá dùng để cột neo. Tôi đang nghỉ xả hơi một chút sau cuộc hành trình quá vất vả.

Briggs xen vào bằng giọng hơi gay gắt:

- Khi nào các ông hoàn toàn sẵn sàng, Matthews đây sẽ dẫn các ông đến chỗ ngủ. Matthews anh phải làm theo lời Đại úy Mallory. Đó là lệnh của Đại tá.

Giọng nói của Briggs ra vẻ không cho phép ai có quyền nghi ngờ và làm trái lệnh của đại tá. Ông nói thêm:

- Và Đại úy đừng quên nhé, Đại tá đã dặn, chỉ hai giờ thôi.

- Tôi biết, tôi biết, Mallory chán nản nói. Thế nào, các chàng trai, các anh sẵn sàng chưa?

- Còn hành lý của chúng ta, thưa Đại úy? Stevens băn khoăn hỏi.

- Cứ để đây, Matthews, anh hãy chỉ đường cho chúng tôi.

Matthews tiến bước dọc theo bờ đập, kế đó bắt đầu leo những bậc thang bất tận bằng đá mòn, mọi người đi thành hành dọc theo anh ta không một tiếng động vì đế giầy đều làm bằng cao su. Lên đỉnh dốc, anh ta quẹo sang phải, theo con đường hẹp và quanh co, đi vào một hành lang, bước lên một cái thang bằng gỗ kêu ken két và mở cửa một căn phòng.

- Đại úy và các vị hãy nghỉ ở đây. Tôi sẽ chờ ở ngoài hành lang.

- Tốt hơn anh nên đợi bên dưới cầu thang, Mallory nói. Đừng khó chịu nhé, Matthews, nhưng công việc của chúng tôi đòi hỏi thế.

Mallory theo các bạn bước vào phòng và đóng cửa lại. Đó là một căn phòng nhỏ u ám bít kín bằng những tấm màn to nặng nề. Một cái bàn và nửa lô ghế choán gần hết chỗ. Trong góc xa nhất là một cái giường lò xo độc nhất kêu cót két khi hạ sĩ Miller khoái trá nằm lên, gối đầu trên hai tay.

- Lạ nhỉ! Anh ta trầm trồ, một căn phòng khách sạn. Thật y như ở nhà. Tuy nhiên hơi ít đồ đạc.

Chợt như nghĩ ra điều gì, anh hỏi:

- Thế còn các anh sẽ nằm ở đâu?

- Chúng tôi sẽ không ngủ, Mallory trả lời khô khan. Anh cũng vậy. Chúng ta sẽ lên đường trong vòng hai tiếng. Nào, đứng dậy đi, chàng trai!

Miller rên rỉ, ngồi dậy và tò mò nhìn Andrea.

Anh chàng khổng lồ người Hy Lạp đang dò xét một cách có phương pháp căn phòng, mở các nắp tủ, lật các bức tranh, nhìn ra sau những tấm màn và dưới gầm giường.

- Anh đang làm gì thế! Miller hỏi.

- Andrea đang kiểm tra phòng có bị đặt máy nghe lén không, Mallory nói. Đó là một trong những lý do khiến tôi và Andrea còn sống sót.

Chàng thọc tay vào túi trong của chiếc áo vét lính thủy màu sậm, không lon, không phù hiệu, lấy ra một tấm sơ đồ và tấm bản đồ mà Vlachos đã vẽ cho chàng, mở ra và trải chúng trên bàn. Chàng nói:

- Tất cả các anh hãy đến đây. Tôi biết các anh muốn nổi điên vì tờ mờ hai tuần nay và đặt ra hàng trăm câu hỏi. Vậy thì, đây là tất cả những câu trả lời. Tôi hy vọng các anh hài lòng… Hãy để tôi giới thiệu các anh hòn đảo Navarone.

❀ ❀ ❀

[1] 6

★ ★ ★

Đồng hồ của Mallory chỉ đúng mười một giờ đêm khi cuối cùng chàng gấp bản đồ và tấm sơ đồ lại. Chàng đưa cái nhìn hóm hỉnh lần lượt dạo trên bốn khuôn mặt đăm chiêu nghĩ ngợi ngồi quanh bàn.

- Thế đấy, "quý ông" đã hiểu rồi chứ? Một vở kịch tuyệt hay phải không? Nếu là một phim, có lẽ tôi đã hỏi các anh: Ai có ý kiến gì không? Nhưng ở đây miễn cái thủ tục đó bởi vì tôi không thể cung cấp cho các anh một lời giải đáp nào hết. Tất cả các anh đều biết như tôi.

- Bốn trăm mét vách núi thẳng đứng, đó là điểm hở duy nhất để lọt vào, Miller vừa nói vừa khéo léo quấn một điếu thuốc dài và mỏng. Thật là điên khùng thưa xếp. Riêng tôi, tôi không có khả năng leo lên một cái thang mà không té. Thật là tự tử. Tôi dám đánh cá một ăn ngàn rằng chúng ta sẽ không tới gần hai khẩu quái ác đó bảy cây số.

- Một ăn một ngàn? Hãy cho tôi biết, Miller anh đặt bao nhiều tiền trên số phận những người ở Khéros? Mallory hỏi.

- Những người Khéros? Tôi quên họ mất. Tôi chỉ nghĩ đến tôi và khối núi đáng nguyền rủa.

Miller nói xong, ngước nhìn thân hình to lớn của Andrea.

- Hay là Andrea sẽ cõng tôi nhé. Dù sao anh ta cũng thừa sức mà.

Andrea không trả lời. Đôi mắt chàng lim dim, tư tưởng có thể bay xa hàng ngàn cây số.

Stevens xen vào:

- Chúng tôi sẽ cột dây vào hai tay, hai chân anh và kéo lên, nhưng phải kiếm được một sợi dây thừng khá chắc.

Tuy nói bông đùa, những vẻ mặt của Stevens đang thể hiện nét lo lắng. Ngoài Mallory ra, chỉ còn Stevens là có khả năng đo lường những khó khăn về kỹ thuật của vách núi đá xa lạ hầu như không thể leo lên được trong bóng tối. Chàng nhìn Mallory như ngầm hỏi: "Leo lên một mình sao, thưa Đại úy, hay là…"

- Xin lỗi quý vị, Andrea chợt thốt lên bằng giọng nghiêm nghị.

Anh ta cúi xuống viết nguệch ngoạc nhanh chóng trên một mảnh giấy.

- Tôi có kế hoạch này để leo núi. Đây là sơ đồ Đại úy thử xem có được không?

Anh ta trao tờ giấy cho Mallory. Chàng chăm chú nhìn, suy nghĩ. Không có hình vẽ nào cả mà chỉ có vỏn vẹn hàng chữ: "Cứ tiếp tục nói chuyện bình thường".

- Tôi hiểu, Mallory cất tiếng nói. Hay lắm. Tôi thấy có khả năng đấy.

Chàng chìa tờ giấy sao cho mọi người có thể đọc được hàng chữ viết bằng nét to của Andrea. Đang khi đó thì Andrea rón rén bước tới cánh cửa.

- Hạ sĩ Miller, anh thấy kế hoạch tài tình không? Mallory giả bộ điềm nhiên chuyện trò.

- Vâng, Miller trả lời cũng bằng giọng nói tự nhiên, điếu thuốc gắn trên môi, mắt nhắm một nửa để tránh khói thuốc. Tôi tin rằng phương thức này có thể giải quyết được vấn đề và cho phép tôi lên tận đỉnh một cách ngon lành.

Chàng ta nói xong bật cười không chút lo lắng, nhưng, như có phép lạ, trong lòng bàn tay trái của chàng một vật đen ngòm, hình trụ chợt xuất hiện một cách kỳ ảo không biết từ lúc nào: một khẩu súng lục và chàng đang giương nòng lên vừa tầm cánh cửa.

Mọi việc xảy ra hoàn toàn đúng hai giây: Andrea một tay mở cửa, tay kia chộp nhanh một người vùng vẫy dữ dội. Chàng kéo hắn vào, đóng cửa lại không một tiếng động và nhanh như mèo. Trong một giây, kẻ nghe lén không kín đáo có nước da ngăm ngăm này trở nên bất động, mắt chớp chớp vì chưa quen với anh sáng, đoạn bàn tay hắn đút vào túi áo trắng.

- Coi chừng, Miller thốt lên vừa chĩa mũi súng vào người lạ.

- Đừng nóng! Mallory nhẹ nhàng gạt tay Miller.

Những người ngồi ở bàn chỉ kịp nhận thấy một ánh thép xanh lóe lên chụp xuống Andrea như tia chớp điên dại. Nhưng, không thể tin nổi, cả bàn tay và mảnh thép chợt khựng lại trong khoảng không, mũi dao nhọn và sắc chỉ cách ngực Andrea hai phân. Một tiếng kêu đau đớn vang lên cùng một lúc với tiếng răng rắc của xương cổ tay gẫy dưới sức bóp của bàn tay anh chàng Hy Lạp khổng lồ. Sau đó người ta thấy Andrea nhẹ nhàng dùng ngón cái và ngón trỏ kẹp lưỡi dao, cẩn thận kéo ra với vẻ âu yếm nhưng chê bai của một người cha ngăn cản đứa con yêu quý chơi trò dại dột. Rồi mũi dao trở lại dí ngay cổ họng của người lạ mặt miền Cận đông trong khi Andrea mỉm cười nhìn đôi mắt đen đầy sợ hãi.

- Chà, Miller nói khẽ, tôi nghĩ rằng Andrea có vẻ thành thạo những trò này.

- Có lẽ, Mallory nói. Hãy cho chúng tôi nhìn rõ tù binh của anh, Andrea.

Andrea kéo tù nhân đến gần bàn, giữa ánh sáng. Người đàn ông, dáng gầy gò, vẻ tọc mạch, đang ôm cổ tay gẫy.

Mallory nói:

- Andrea, theo anh thì tên này nghe trộm ngoài cửa từ bao lâu?

- Tôi không thể nói chắc chắn, thưa Đại úy, nhưng tôi tin đã nghe một tiếng động nhỏ cách đây khoảng mười phút.

- Mười phút? Mallory lập lại.

Đoạn, chàng quay qua tù nhân:

- Anh tên gì? Anh làm gì ở đây?

Không một tiếng trả lời. Sự im lặng khó chịu bị cắt đứt bởi tiếng kêu đau đớn của tù nhân khi Andrea tát hắn.

- Đại úy hỏi mày, trả lời đi.

Người đàn ông bắt đầu nói nhanh, hai tay chỉ chỏ. Không ai hiểu hắn nói gì. Andrea chận đứng những lời nói ào ào như thác nước của hắn bằng bàn tay trái bóp vào cổ tù nhân:

- Tôi chẳng hiểu hắn dùng ngôn ngữ gì để nói chuyện với chúng ta, Andrea nói.

- Này anh kia, anh biết tiếng Anh không? Mallory hỏi.

Đôi mắt đen của người đàn ông tràn ngập oán hận nhưng hắn không trả lời. Andrea lại bạt tai hắn.

- Anh biết tiếng Anh không? Mallory lập lại.

- Tiếng Anh? Tiếng Anh? Người đàn ông nhại lại, nhún vai, bàn tay xòe ra ngụ ý không hiểu gì hết.

- Hắn nói không biết tiếng Anh, Miller kết luận.

- Có thể là không và cũng có thể là có, Mallory bình thản nói. Có điều là hắn đã nghe lén ngoài cửa và chúng ta không thể để xảy ra nguy cơ. Biết bao nhiêu sinh mạng đang trên bàn mổ trong ván cờ này.

Sau đó giọng chàng đột nhiên đanh lại:

- Andrea! Anh đang cầm dao. Hãy thanh toán nó thật nhanh và thật sạch sẽ. Đâm ngay giữa hai bả vai đây.

- Lạy Chúa! Đại úy! Đại úy không thể… Stevens hoảng hốt thốt lên vừa nhổm người dậy…

Nhưng anh ta chợt đứng lại và sững sờ nhìn tên tù nhân đang chạy trối chết ngang qua phòng và đến ngồi bẹp dí ở một góc, mặt co giật vì khiếp đảm. Stevens ngoảnh lại, nhìn nụ cười đắc thắng của Andrea vẻ hiểu ý trên nét mặt của Brown và Miller, và chàng tự thấy xấu hổ vì quá đần độn.

Miller mở miệng đầu tiên:

- Thế đấy, thế đấy. Cuối cùng thì hắn ta cũng hiểu tiếng Anh.

- Có lẽ, Mallory nói. Một người không thể đứng mười phút, tai dán vào lỗ khóa nếu không hiểu một tiếng nào… Brown, anh hãy gọi Matthews.

Người lính canh tới ngay vài giây sau.

- Matthews, anh hãy mời Đại úy Briggs tới đây ngay cho tôi.

Người lính lưỡng lự.

- Đại úy Briggs đã đi nằm. Ông ta đã ra lệnh rõ ràng là cấm không ai được quấy rầy giấc ngủ của ông.

Mallory chua xót kêu lên:

- Ôi trái tim tôi cũng muốn rướm máu khi nghĩ đến giấc ngủ quý báu của ngài đại úy Briggs bị phá rầy. Tổng cộng giờ ngủ của tôi một tuần lễ qua không bằng một ngày ngủ của ngài.

Chàng ném một cái nhìn trên đồng hồ đeo tay, giọng quyết liệt.

- Chúng tôi không được phép mất thì giờ. Hãy mời ngài tới đây ngay lập tức. Hiểu chưa?

Từ nào đến giờ Miller vẫn cho là sứ mạng của nhóm, tuy có tầm quan trọng sinh tử, nhưng không thể thành công được và đồng nghĩa với tự sát, bây giờ anh ta mới hiểu tại sao anh chàng đại úy người Tân Tây Lan này được chọn làm trưởng nhóm.

Tất cả đều im lặng trong năm phút sau đó và ngẩng đầu lên khi cánh cửa bật mở. Đại úy Briggs, đầu trần, khăn choàng cổ màu trắng quấn ngang mũi và miệng cho khỏi lạnh. Màu trắng càng làm nổi bật khuôn mặt đỏ như gấc của ông mà Mallory thầm đánh giá là bởi huyết áp cao hoặc do lạm dụng rượu. Sự giận dữ làm đôi mắt xanh của ông như rực lửa và ông ta la lên:

- Đại úy Mallory! Ông hơi thái quá đấy! Tôi không phải là người trực ban của ông. Cả một ngày của tôi quá mệt mỏi tôi cần phải…

- Hãy dành mà mô tả trong bản lý lịch của Đại úy để được thăng cấp, Mallory cắt ngang bằng giọng khô khan. Ông hãy nhìn cái tên đứng trong góc kia.

- Lạy Chúa! Briggs kêu lên, Nicolai!

- Đại úy biết hắn?

- Dĩ nhiên là tôi biết anh ta. Ở đây mọi người đều biết Nicolai, người thợ giặt ủi của chúng tôi mà.

- Chúng tôi bắt quả tang hắn đang nghe lén ngoài cửa.

- Nicolai nghe lén! Vô lý! Tôi không tin. Hắn ta không biết một tiếng Anh nào cả.

- Có lẽ, nhưng hắn hiểu tiếng Anh vừa đủ tốt. Tôi chẳng muốn phí thì giờ bàn cãi vấn đề này suốt đêm. Bây giờ tôi chỉ yêu cầu ông bắt giữ ngay tên này và nhốt nó trong xà lim. Không được tiếp xúc với ai ít nhất là hết tuần tới. Đây là một việc hệ trọng, vô cùng hệ trọng. Dẫu hắn là một gián điệp hay chỉ đơn giản là một người tò mò, hắn cũng đã biết hơi quá nhiều. Sau đó, Đại úy muốn làm gì hắn thì làm. Nhưng tôi khuyên Đại úy nên trục xuất hắn khỏi đảo Castelrosso này.

- Ông khuyên tôi à! Quỷ thần! ông là ai mà dám cho tôi lời khuyên hay chỉ thị, hở Đại úy Mallory?

- Vậy thì tôi khẩn khoản xin Đại úy làm việc đó như một ân huệ, Mallory nói bằng giọng mệt mỏi. Tôi không thể giải thích được, nhưng sự việc hết sức quan trọng, quan trọng khủng khiếp. Hàng trăm sinh mạng…

- Hàng trăm sinh mạng! Briggs mỉa mai lập lại. Ôi những thiên tiểu thuyết không đầu không đuôi. Tôi đề nghị với ông hãy dành mà kê khai vào bản lý lịch "hiệp sĩ" của ông.

- Tôi nghĩ rằng có thể đi gặp Đại tá chỉ huy của ông, nhưng tôi chán mất thời giờ để tường trình. Ông hãy thi hành đúng như lời tôi nói, nếu không, tối sẽ đi ra PC [1] (Sở chỉ huy) của Hải Quân và liên lạc bằng điện đàm với Bộ Tư lệnh ở Caire. Nếu tôi làm, tôi bảo đảm ông Đại úy sẽ xuống chiếc tàu đầu tiên để về nước Anh trên boong dành cho binh nhì.

Nét mặt của Đại úy Briggs đột ngột nổi xung như thế nào thì bây giờ lại đột ngột bớt hăng và dịu hẳn xuống. Biết mình thua, ông năn nỉ:

- Thôi được, thôi được. Đại úy, khỏi cần đe dọa tôi làm chi… Nếu Đại úy cho đó là việc hệ trọng… Tôi sẽ bắt giữ hắn… Matthews, kêu lính gác vào đây!

❀ ❀ ❀

[1] 7

★ ★ ★

Chiếc tàu phóng ngư lôi chúi mũi xuống nước rồi lại cất đầu lên với nhịp đều đặn và đơn điệu, đang băng băng lướt sóng. Đây là lần thứ một trăm trong đêm. Mallorry lại nhìn đồng hồ.

- Chúng ta bị trễ sao, thưa Đại úy? Stevens hỏi.

Mallory gật đầu.

- Lẽ ra chúng ta đã phải lên chiếc tàu này ngay sau khi bước ra khỏi thủy phi cơ Sunderland… Tại vì một trục trặc.

- Lại trục trặc máy móc, tôi cá với Đại úy như thế, Brown làu bàu nói.

- Phải, rất đúng, Mallory trả lời. Tại sao anh biết?

- Ôi những loại động cơ quái ác của các tàu phóng ngư lôi nào cũng thế. Chúng cứ õng ẹo như một ngôi sao màn bạc.

Bầu không khí im lặng ngự trị một lúc trong ca-bin bé nhỏ và tăm tối, một sự im lặng thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi tiếng ly lách cách. Hải quân lúc nào cũng trung thành với truyền thống hiếu khách: luôn có rượu đãi khách.

Miller thắc mắc:

- Nếu chúng ta bị trễ, tại sao thuyền trưởng không cho tăng tốc độ? Người ta nói với tôi rằng loại tàu này có thể chạy từ bốn mươi đến năm mươi hải lý một giờ mà.

Stevens nói ngay, không giữ ý.

- Sao anh ngây thơ quá vậy. Chắc chưa bao giờ anh đi loại tàu cà rịch này lúc trời xấu.

Im lặng một lúc, Miller lại nói:

- Tôi biết việc này không quan hệ gì đến tôi, nhưng tôi muốn hỏi riêng Đại úy có thực hành lời đe dọa với Đại úy Briggs không?

Mallory cười.

- Đúng đấy hạ sĩ. Việc này không quan hệ gì đến anh. Nếu anh muốn biết, câu trả lời của tôi là không. Tôi không thực hành lời đe dọa bởi vì tôi không thể làm được. Tôi không được trao đầy đủ thẩm quyền, vả lại tôi cũng chẳng biết ở đảo Castelrosso này liệu có đài điện đàm không.

- Tôi cũng tin Đại úy sẽ làm vậy. Lần đầu tiên, tôi bắt đầu nghĩ rằng chúng ta có cơ hội thành công. Nhưng tôi tiếc rằng Đại úy không "dứt điểm" cái tên nghe lén khốn kiếp ấy và cả cái tên đại úy Briggs. Tôi không ưa loại người như hắn. Hắn thù ghét Đại úy lắm đấy. Lời lẽ của Đại úy đã làm tự ái và lòng kiêu hãnh của hắn bị tổn thương.

Mallory không trả lời. Chàng ngủ thiếp, cái ly uống cạn rơi khỏi ngón tay. Tiếng gầm rú ghê hồn của các động cơ lớn đang tăng công suất khi tiến vào vùng nước thanh tịnh của eo biển Rhodes [1] cũng không kéo chàng ra nổi vực thẳm của giấc ngủ.

--------------------------------

1Berlin: thủ đô của Đức Quốc xã.
2Royal Air Force: Hãng Hàng không quân lực Hoàng gia Anh.
3Chypre: Đảo Síp ở Địa Trung Hải.
4Olympe: tên một ngọn núi ở Hy Lạp.
5Castelrosso: tên một hòn đảo nhỏ của Hy Lạp.
6Hydravion (thủy phi cơ): loại máy bay có thể đậu trên mặt nước và bay lên.
7Gin: tên loại rượu chế tạp tại Anh và Hà Lan.
8PC: Poste de Commendement: Sở chỉ huy.

❀ ❀ ❀

[1] 8

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.