Chín mươi phút sau, Mallory đã chèn thân mình vào một đường rãnh dọc tự nhiên của bề mặt vách núi. Chàng đóng đinh móc dưới chân để cho thân thể đau đớn và kiệt sức được đứng nghỉ ngơi một chút. Hai phút nghỉ, chàng tự nhủ, chỉ hai phút thôi, trong khi đó Andrea đang leo lên. Sợi dây rung động mạnh. Hai bên chàng gió rít liên hồi như muốn nhổ chàng ra khỏi chỗ đứng. Mallory nghe tiếng giầy của Andrea cọ sát vào vách khi anh đang cố gắng vượt lên đặt chân trên chỗ đá hơi nhô ra ngay bên dưới chàng. Đó là điểm tựa nguy hiểm nhưng phải chinh phục bằng mọi giá dù có phải rách nát hai bàn tay hay mệt lả toàn thân. Hai vai của Mallory đau nhói, hơi thở đứt quãng và chàng há miệng hít một hơi dài. Chàng cố quên đi những đau đớn của thể xác, quên đi nhu cầu nghỉ ngơi khẩn cấp, và chàng nghe lần này tiếng giầy có lót thép của Adnrea chạm hơi mạnh vào đá mặc dù tiếng gió lấn át… Phải nói với Andrea cẩn thận hơn khi leo sáu mét còn lại. "Về phần cá nhân tôi, Mallory nghĩ thầm, chẳng cần ai phải dặn dò đừng gây tiếng động". Bởi vì hai chân của chàng hiện thời không có khả năng gây tiếng động nhỏ nào. Chúng chỉ còn được quấn quanh bằng đôi vớ rách nát. Lúc nãy khi chàng mới leo lên chừng sáu mét đầu tiên thì chợt nhận ra rằng đôi giày leo núi khiến chàng mất hết cảm giác tiếp xúc với vách đá trong khi chàng cần phải dùng tay, dùng chân để sờ soạng, tìm ra bất cứ một điểm tựa nào dù nhỏ nhất nhưng hết sức cần thiết. Khó khăn lắm chàng mới lột được giày ra và buộc vào thắt lưng bằng chính sợi dây giày. Nhưng đang khi leo, chàng đã đánh rơi chúng xuống vực thẳm vì mặt vách sần sùi và sắc đã cứa đứt cả hai dây.
Thật là cơn ác mộng, một khổ hình khi chinh phục một đỉnh cao trong gió, mưa và bóng tối. Có lúc chàng phải đứng bằng đầu ngón chân và ngón tay để đóng hàng trăm đinh móc, cột dây vào đó rồi tiếp tục tiến lên trong bóng tối. Chàng chưa bao giờ làm thử điều đó và biết rằng sẽ không làm thử nữa trong cuộc đời, vì là sự điên rồ. Công việc này đòi hỏi toàn bộ khéo léo, can đảm, sức lực. Chàng không ngờ rằng bản thân đã có những lực dự trữ vô giới hạn như vậy. Chàng cũng không ngờ đã leo tới điểm này, và từ đây lên đến đỉnh không còn khó khăn lắm. Động cơ nào đã thúc đẩy chàng? Không phải do lòng kiêu hãnh của vận động viên số một châu Âu có khả năng đạt chiến công đó, cũng không phải vì ý thức rằng giờ tận thế của hàng ngàn người ở Khéros sắp tới. Suốt thời gian chinh phục vách đứng, đầu óc chàng hoàn toàn trống rỗng, không chút nghĩ ngợi, không chút tình cảm và chỉ leo như một cái máy.
Dễ dàng, bằng hai tay, Andrea hít lên, qua khỏi điểm nhô ra, hai chân lủng lẳng. Người anh ta cuốn đầy những cuộn dây nặng, đeo đầy móc câu, như đang đóng vai hải tặc trong một vở kịch. Bằng động tác nhanh nhẹn, anh ta leo đến chỗ Mallory, lau mồ hôi trán và mỉm cười như thường lệ.
Mallory mỉm cười lại, vừa nghĩ rằng lẽ ra Stevens phải đứng đây thay vì Andrea. Nhưng Stevens đã mất máu nhiều, không thể để anh ta mạo hiểm. Dù sao Stevens là tay leo núi giỏi nên để anh ta đi sau để cuốn dây và rút móc không để lại chút dấu vết. Đã nhiều lần, trong suốt trò đùa với tử thần này, Mallory đã phải đứng trên lưng, trên vai, trên hai lòng bàn tay và có lúc cả trên đầu Andrea, điều mà Stevens không thể chịu nổi nhưng Andrea không hề lảo đảo, đuối sức hay thối lui vài phân. Thật là một con người bất khả chiến bại và rắn chắc như núi đá. Từ lúc hoàng hôn đến giờ, Andrea đã làm việc không ngừng, hoàn thành một công việc có thể làm hai người bình thường gục chết và ngay cả bây giờ, anh ta cũng không có vẻ mệt mỏi.
Đưa tay chỉ phía trên cao đường rãnh dọc, Mallory còn thở hổn hển, nghiêng đầu nói khẽ vào tai Andrea:
- Còn sáu mét không khó đâu. Ở phía tôi có một khe nứt có thể dẫn tới đỉnh.
Andrea im lặng gật đầu. Mallory nói tiếp:
- Tốt nhất anh phải tháo giầy, vào đóng móc sắt bằng tay để khỏi gây tiếng động.
- Đúng vậy, ngay cả trong đêm tối đen như thế này và ở chỗ hoang vu chỉ nghe tiếng gió mưa.
Andrea không hề hỏi chàng tại sao, anh ta luôn bổ sung thêm ý nghĩ của chàng. Cả hai đã từng sống bên nhau, hiểu nhau sâu đậm đến nỗi lời nói giữa họ với nhau thường là không cần thiết.
Mallory chờ đợi trong khi Andrea dùng tay đóng đinh vào vách, cột dây và thả xuống hàng trăm mét bên dưới nơi những người khác đứng trên mỏm đá lồi đầu tiên.
Ba mét kế tiếp khá dễ dàng. Hai lòng bàn tay và lưng áp sát vào một bên vách đường rãnh, hai chân đạp vách bên kia. Mallory nhoài người lên đến chỗ khoảng cách hai vách bắt đầu khá lớn. Chàng cẩn thận găm khá cao trên đỉnh đầu một móc sắt, với hai tay đu lên, đưa hai chân qua vách bên kia và thấy một khe hở đủ để các đầu ngón chân. Hai phút sau, bàn tay chàng bám vào bờ đất trên đỉnh vực, chàng cảm nhận đất bở ra dưới ngón tay.
Không một tiếng động, bằng những biện pháp phòng ngừa hết sức cẩn thận, chàng moi hết đất, cỏ và những hòn sỏi li ti bám trên bờ cho đến khi tay chàng đụng vào đá cứng và chắc. Chàng co đầu gối để tìm điểm tựa cuối cùng cho các ngón chân và cẩn thận ngóc đầu lên trên khỏi đỉnh vách đá, chậm chạp, từng li một. Khi đôi mắt chàng vượt lên trên bờ đất, chàng thôi cử động, soi mói đêm tối bằng thị giác lẫn thính giác. Trong suốt cuộc hành trình gian khổ này, lần đầu tiên và khác với mọi khi, chàng chợt có ý thức về sự nguy hiểm và bất lực của chàng, và chàng tự rủa thầm tại sao không mượn Miller khẩu súng có gắn ống hãm thanh.
Đường chân trời giới hạn bằng những ngọn núi cao, ở bóng tối không hoàn toàn tuyệt đối. Mallory có thể thấy được lờ mờ những hình thù, những góc, những chỗ cao, chỗ lõm và tất cả bỗng trở nên thân thiết lạ thường. Mallory nhận ra ngay cảnh vật mà ông già Vlachos đã vẽ trong bản đồ cho chàng: trước hết là dãy đất trống song song với bờ vực thẳm, kế đó là một mớ đá lớn hỗn độn, phía sau là những bờ dốc rải đầy đá nhỏ. Thật là may mắn! May mắn đầu tiên! Mallory vui mừng nghĩ. Họ đã tới thẳng đích, tới điểm cao nhất của dãy núi đá phía nam đảo Navavone, nơi duy nhất mà quân Đức không đặt lính gác bởi vì chúng biết chắc không ai có thể leo lên được bốn trăm mét bức tường đá sừng sững này.
Một cảm giác phơi phới xâm chiếm người chàng và chàng nhấc nửa người lên trên bờ, hai cánh tay soải ra, hai lòng bàn tay úp lên trên đỉnh núi đá. Nhưng toàn thân chàng cứng lại như bị điện giật, và tim chàng bắt đầu nhịp đập đau đớn.
Một trong những hòn đá đã cử động. Cách chàng bảy hoặc tám mét, một bóng đen đang tách dần ra khỏi khối đá hỗn độn và tiến chậm đến bờ vực. Không phải là hòn đá như chàng tưởng! Chàng có thể thấy rõ đôi giầy bốt cao cổ, bộ quân phục Đức đằng sau tấm áo mưa, chiếc mũ sắt có vẽ hình chữ vạn! Quỷ bắt ông già Vlachos đi! Quỷ bắt đại tá Jensen đi! Ôi các "cha cố" trong Cơ quan Tình báo đã cung cấp những tin tức hết sức sai lầm và đưa nhóm chàng đến ngay miệng cọp! Và Mallory cũng không quên tự rủa mình đã quá dại dột, vì chàng cũng đã có linh tính trước về chuyện chẳng lành này.
Trong vài giây chàng nín thở bất động. Tên lính Đức vẫn bước tới, khẩu súng carabine sẵn sàng nhả đạn, đầu hơi nghiêng, tai nghe ngóng, hình như hắn đã nghe thấy tiếng động nào đấy giữa tiếng gió và tiếng rầm rì của biển cả.
Mallory hiểu rằng nếu cứ nhô lên thế này sẽ bị bắn ngay, chàng từ từ tụt xuống lại, nhích từng phân một. Ban đêm cái nhìn bên cạnh vẫn rõ hơn cái nhìn thẳng và tên lính có thể liếc thấy bất cứ một cử động nào của chàng.
Dần dần Mallory đã tuột xuống và chỉ còn để mấy đầu ngón tay bám trên bờ vực trong khi tên lính vẫn bước tới đều đặn. Mallory đụng vào thân hình to lớn của Andrea và nghe giọng anh ta thì thầm bên tai.
- Chuyện gì vậy?
- Một tên lính gác đã nghe thấy gì đó và đang truy tìm chúng ta.
Bất chợt, chàng đẩy Andrea nép qua một bên, cả hai cùng ép sát người vào vách núi. Một ánh đèn pin chói lòa làm mờ mắt cả hai đang quen với bóng tối. Ánh đèn xuất hiện phía trên đường rãnh. Theo góc độ của tia sáng, Mallory đoán rằng tên lính Đức đang bước cách bờ vực khoảng sáu mươi phân, bởi vì trong cơn cuồng phong dữ dội như thế này, hắn chẳng dại dột liều lĩnh đứng sát mí vực vì sợ sẩy chân rơi xuống hoặc là đất lở hoặc bất ngờ bị đánh lén.
Ánh đèn không biết thương xót đó từ từ tiến lại gần, dù ở độ nghiêng, nhưng sớm muộn gì cũng quét trúng hai người đang chơ vơ trên rãnh núi đá. Bằng một linh cảm chắc chắn, Mallory biết rằng tên lính không chỉ nghi ngờ một cách đơn giản, mà hắn còn biết ai đó đang hiện diện và hắn không ngừng tìm kiếm cho bằng được. Tình thế của họ tuyệt đối không có thuốc chữa.
- Một hòn đá, Andrea thì thầm, ném một hòn đá ra phía sau hắn.
Bàn tay phải của Mallory run run nhưng thận trọng sờ soạng trên bờ đỉnh. Đất, chỉ có đất, rẽ cỏ và những viên sỏi nhỏ hơn hòn bi. Nhưng, Andrea dúi vào tay chàng một vật gì đó cứng và trơn, cái móc sắt. Mallory chợt giật mình đã quẫn trí không nhớ rằng trong thắt lưng chàng còn đeo hai cái móc leo núi.
Bằng động tác co giật, chàng ném cái đinh móc vào màn đêm. Hai giây trôi qua, không nghe gì cả, chàng tưởng đã ném trượt, và tia sáng chỉ còn cách vài của Andrea vài phân, nhưng rồi, như một ân huệ, tiếng leng keng của móc sắt chạm vào một hòn đá vang lên. Ánh đèn chợt rung động, quét sáng bên trái, và chàng nghe bước chân tên lính chạy về phía có tiếng động. Hắn chưa đi xa khỏi mười mét thì Andrea đã lên lên tới đỉnh và như con mèo lớn im lặng đi tìm chỗ rình mồi sau tảng đá gần đấy.
Tên lính Đức đứng cách bờ vực khoảng mười sáu mét. Andrea dùng cán dao dập hai tiếng vào đá. Hắn quay lại đi trở lui, điên cuồng vung vẩy ánh đèn pin và Mallory kịp thấy vẻ mặt tái xanh, đôi mắt mở to sợ hãi tương phản lạ lùng với bộ quân phục và cái mũ sắt của đội quân nổi tiếng sắt đá. Chàng tưởng tượng tác dụng của những tiếng lách cách nổi lên từ những phía khác nhau đã tạo nên sự run sợ cho người lính miễn cưỡng phải đứng gác một mình đơn độc trên mỏm núi đá trống trải, trong màn đêm đen tối, trong cơn bão tố. Mallory cảm thấy thương xót hắn, một người chồng, một người anh, người con yêu dấu, đang thi hành một nhiệm vụ nguy hiểm bởi vì hắn bị chỉ huy bởi những người đồng loại của hắn, và giờ đây, không đầy một phút nữa, hắn sẽ chết… Tính toán đúng thời gian và khoảng cách. Mallory ngẩng đầu kêu to:
- Cứu tôi! Cứu tôi với! Tôi sắp ngã!
Người lính chợt khựng lại, ánh đèn của hắn quét màn đêm trước khi dừng lại ngay đầu của Mallory. Hắn bất động một giây, đoạn tay trái bóp chặt gỗ che nòng súng, ngón tay trỏ đưa lên cò. Một tiếng hự khô khan lạnh lẽo vang đến tai Mallory và chàng hiểu mũi dao của Andrea đã đâm trúng sườn người lính.
Chàng nhìn xác chết, rồi nhìn khuôn mặt bình thản của Andrea đang chùi lưỡi dao trên bộ quân phục của người lính Đức. Anh ta chậm rãi đứng dậy, thở dài và đút dao vào trong bao.
- Thế đấy bạn Keith! Andrea chỉ gọi chàng bằng hai chữ "đại úy" khi có mặt người khác. Thế đấy, bây giờ tôi mới hiểu tại sao hải quân trung úy trẻ tuổi của chúng ta lo sợ.
- Phải, Mallory nói. Tôi cũng đã có linh cảm trước. Có quá nhiều sự trùng hợp: chiếc tàu tuần tra của Đức đến thị sát chúng ta, rồi tháp canh gây rắc rối, và bây giờ là người lính gác này.
Mallory không kềm được cơn giận, chửi đổng lên và kết luận:
- Tất cả do lỗi của đại úy Briggs ở Castelrosso. Đã tới ngày tàn cuộc đời binh nghiệp của hắn. Tôi cam nó sẽ bị lột lon nội trong tháng này. Đại tá Jensen sẽ "lo" cho hắn.
- Hắn đã thả tên gián điệp Nicolai?
- Còn ai khác có thể biết rằng chúng ta sẽ đổ bộ nơi đây, còn ai khác đã báo cho bọn Đức biết để truy cản chúng ta?
Mallory không đợi câu trả lời của Andrea. Chàng nắm cánh tay anh ta:
- Bọn Đức không cẩu thả chút nào hết. Mặc dầu cho rằng đổ bộ ở đây vào một đêm như thế này là hầu như không thể được, chúng có lẽ vẫn đặt ít nhất một tiểu đội lính gác dọc theo đỉnh núi này.
- Chắc chắn họ có phương tiện để liên lạc với nhau, hoặc là bằng hỏa pháo?
- Không, Mallory trả lời. Hỏa pháo sẽ làm lộ vị trí của chúng. Chắc chúng có đặt điện thoại, Anh không nhớ hàng chục cây số đường điện thoại chúng đã từng mắc ở đảo Crète sao?
Andrea gật đầu, cầm lấy đèn pin của kẻ chết và bắt đầu tìm kiếm. Chưa đầy một phút sau, anh ta trở lại.
- Điện thoại ở đằng kia, bên hốc đá.
- Nếu nó reo, có lẽ tôi phải trả lời, nếu không chúng sẽ kéo đến đây thật nhanh… Và chắc chắn sắp tới thế nào cũng có người đến thay phiên gác. Lạy Chúa, chúng ta phải làm gấp lên!
- Thế còn tên này? Andrea hỏi, chỉ tay về xác chết.
- Phải ném nó xuống biển. Chúng ta không được để lại dấu vết gì. Người ta có thể cho rằng hắn sa sẩy chân té từ trên đỉnh vực. Anh thử xem trên người hắn có giấy tờ gì có thể sử dụng được không?
- Không gì có ích bằng đôi giày bốt của hắn. Anh không thể đi xa được nếu không có giầy.
Năm phút sau, Mallory giật ba lần sợi dây căng dài xuống vực đến tận nhóm người của chàng ở bên dưới. Họ cũng trả lời bằng ba cái giật dây. Sau đó họ trục lên trên đỉnh thùng đựng chất nổ chung với quần áo và những đồ lặt vặt. Andrea nghiêng mình trên bờ vực, nhấc cái thùng nặng mấy chục ký lên nhẹ nhàng như kéo một con cá hương. Đợt tiếp theo là máy phát điện, vũ khí và một tấm lều vải. Lần thứ ba, sợi dây lại xuống trong bóng tối và màn mưa, và một lúc sau anh chàng Hy Lạp không biết mệt lại nắm dây kéo lên, nhưng bất thình lình, anh ta kêu lên một tiếng ngạc nhiên.
- Gì thế? Mallory hỏi.
Andrea đang kéo dây lên: nó không mang gì hết ở đầu và đang đu đưa trong gió.
- Đứt à? Mallory hỏi với vẻ ngờ vực. Sợ dây có lõi bằng kim loại mà đứt sao?
- Tôi không tin thế.
Nhanh nhẹn. Andrea kéo lên mười hai thước dây còn lại. Chúng vẫn nguyên vẹn. Nhưng Andrea phát hiện ngay ra lý do:
- Các bạn thân yêu của chúng ta đã cột hơi lỏng, anh chàng thốt lên bằng giọng hơi chán chường.
Mallory định nói, nhưng lại thôi, chỉ giơ một cánh tay lên với vẻ thất vọng. Ngay lúc ấy, một tia chớp lóe lên, chẻ ra làm hai trên bầu trời đỉnh núi. Mắt họ chưa kịp mở, mũi còn đang ngửi thấy mùi lưu huỳnh khen khét thì tiếng sấm nổ vang lên ngay trên đầu như tiếng đại bác, như thách đố những chàng trai thời chinh chiến.
- Lạy Chúa! Mallory nói khẽ. Sét đánh gần quá. Chúng ta phải hành động gấp thôi! Sấm chớp kiểu này thì đỉnh núi sẽ được soi sáng như cái hội chợ. Đợt vừa rồi lẽ ra anh phải nhận cái gì?
- Thực phẩm, Andrea nhẹ nhàng trả lời. Tất cả lương thực, xoong chảo, chất đốt và cả la bàn.
Suốt khoảng mười giây, Mallory im lặng, tưởng tượng đến cuộc sống họ ra sao trên hòn đảo thù địch này mà không có lương thực, chất đốt… Bàn tay của Andrea đặt lên vai chàng và giọng anh ta dịu dàng cũng với nụ cười:
- Như thế ta đỡ xách nặng hơn, bạn Keith! Hạ sĩ Miller đang mệt mỏi, ắt hẳn hài lòng và… biết ơn thôi… Đàng nào cũng mất rồi… chỉ là chuyện nhỏ.
- Phải, dĩ nhiên, chỉ là chuyện nhỏ…
Mười lăm phút sau, dưới cơn mưa như thác nước, luôn chói lòa bởi những tia chớp hình chữ chi. Casey Brown ló đầu lên đỉnh núi. Mười lăm phút bất tận khác, đến phiên Miller, tay anh ta sờ soạng trên bờ vực.
- Tại sao anh nhắm nghiền đôi mắt thế? Mallory hỏi.
- Tôi đã nhắm mắt từ lúc khởi hành ở dưới cho tới khi lên đến đây. Tôi sợ quá! Ở nhà tôi, mỗi lần qua đường tôi còn sợ, huống gì ở đây.
★ ★ ★
Sự sợ hãi! Sự khủng hoảng! Sự kinh hoàng! Hãy làm cái điều mà anh sợ và chắc chắn anh sẽ bóp chết cái sợ đó. Hải quân trung úy Andy Stevens luôn tự nhắc một trăm lần cái câu này mà một nhà tâm thần học đã có lần nói với chàng, và chàng đã thuộc lòng nó mãi. Dù chàng có lập đi lập lại: "Tôi là người can đảm, tôi chế ngự lo sợ, sự kinh hoàng này thật vô lý và ngu xuẩn…". Nhưng những móng vuốt lạnh buốt của sự sợ hãi đang bấu chặt dự dội hơn lúc nào hết vào tâm trí của chàng, tra tấn dã man cái dạ dày cực đau của chàng. Hoàn toàn tận cùng sức lực, thổn thức vì kiệt sức, chàng nhổ thêm một cái móc và vất xuống mặt biển đang đợi chàng ở chín mươi mét bên dưới. Áp chặt người vào vách đá, chàng tiếp tục leo lên trong tuyệt vọng.
Sự sợ hãi là bạn đồng hành suốt cuộc đời chàng. Chàng đã quen với nó, nhưng chàng chưa hề thấy nó dữ dội và bóp chẹt chàng như tối nay. Tuy nhiên mặc dù tâm trí rối bời, chàng vẫn mơ hồ nhận thức rằng sự sợ hãi không phải do cuộc leo lên đỉnh cao này gây nên. Bởi vì, nếu vách núi đá này có thẳng đứng, sấm chớp, mưa lạnh buốt, bóng tối làm thành một cơn ác mộng thật sự, nhưng sự leo lên lại hoàn toàn không khó khăn về phương diện kỹ thuật. Đã có sẵn dây căng từ đỉnh xuống, chàng chỉ có việc nắm lấy nó, đi theo nó, và lần lượt rút móc sắt ra. Thế thôi! Chàng đang nôn mửa, đang bị trầy trụa khắp người, đang mệt kinh khủng, đầu đau nhức và mất nhiều máu từ vết thương trên thái dương, nhưng tối nay tinh thần của chàng còn rực sáng và chàng đủ sức vượt qua những cơn đau đớn thể xác.
Andy Stevens chỉ sợ người ta biết chàng sợ. Đó là căn bệnh tâm lý khổ sở nhất của chàng. Chàng luôn muốn tỏ ra xứng đáng và được kính nể. Nhưng cả hai điều ấy đã biến mất, chàng biết, vì các bạn chàng đã đọc được nỗi sợ hãi của chàng. Trong khi đánh chìm tàu của Đức và lúc thả neo ở vịnh dưới tháp canh, chàng đã cảm thấy Mallory và Andrea hình như đã chú ý đến cái sợ của chàng. Họ là những người đặc biệt mới gặp lần đầu nhưng chàng biết rằng không gì có thể che mắt họ. Đại úy Mallory đã viện ra một cái cớ để dẫn Andrea đi theo mở đường bởi vì đại úy biết chàng sợ. Tuy họ không nói ra, nhưng chàng vẫn đoán biết. Và chàng tự căm giận mình, một hải quân trung úy, mà lại vô ý cột không chắc thùng lương thực và chất đốt vào dây, đến nỗi chúng rớt hết xuống biển… Sinh mạng của hơn một ngàn người Khéros lại đặt vào tay một người vụng về như chàng sao?
Đau đớn thể xác, đau đớn về tinh thần. Stevens tiếp tục leo lên trong cơn bão.
★ ★ ★
Tiếng chuông lanh lảnh của điện thoại chợt reo lên làm Mallory tê tái cả người. Chàng đi về phía máy, nhưng được nửa đường, đột ngột dừng lại, trong khi chuông điện thoại vẫn reo liên hồi.
- Đại úy thay đổi ý định sao? Andrea hỏi.
Mallory gật đầu.
- Chúng tiếp tục gọi cho đến khi nào có người trả lời, Andrea nói. Và khi chúng không nhận được câu trả lời, chúng sẽ đến. Chúng sẽ đến nhanh và không chậm trễ.
- Tôi biết điều ấy. Chúng ta phải chấp nhận nguy cơ đó, hầu như là chắc chắn. Vấn đề là phải biết họ tới trong bao lâu nữa. Nếu trả lời điện thoại, ta khó có thể đánh lừa họ. Bọn Đức rất tinh ý. Thế nào cũng có khẩu hiệu, hoặc cách nói sao cho thích hợp. Có lẽ, người lính gác phải xưng tên họ. Bây giờ người lính Đức biến mất không để lại dấu vết, tất cả vật liệu đồ đạc và cả đồng đội của chúng ta đã lên tới đỉnh, chỉ trừ Stevens. Nói cách khác, chúng ta đã thành công việc đổ bộ này và không ai biết chúng ta ở đây.
- Phải, Đại úy có lý, và Stevens sẽ phải lên tới trong hai hoặc ba phút. Nhưng bọn Đức cũng đang vội vã tới đây.
Điện thoại ngưng reo đột ngột như lúc bắt đầu.
- Chúng sắp tới, Andrea nói.
- Phải, mong sao Stevens lên kịp… Andrea! Anh hãy xem chừng anh ta leo lên thế nào. Còn tôi sẽ đi cho các bạn khác biết.
Mallory rời nhanh bờ vực thẳm, đúng hơn là đi khập khiễng bởi vì đôi giầy bốt của người lính gác quá nhỏ và làm chàng đau chân. Chàng cố ý tránh không nghĩ đến tình trạng của đôi chân chàng sau nhiều giờ di chuyển sắp tới… Bất ngờ chàng dừng lại, cảm thấy một vật bằng thép di di vào hông chàng.
- Hãy giơ tay lên! Dusty Miller tươi cười nói bằng giọng mũi.
- Này! Đừng có đùa dai thế! Anh có nghe tiếng chuông điện thoại không?
- Có.
- Bọn Đức đang vội vã tới đây để xem tại sao người lính gác không trả lời. Anh hãy trở về vị trí và mở to mắt mà quan sát chúng nhé.
Mallory quay lại và gặp Andrea đang nằm sát mặt đất, nhìn xuống vực thẳm.
- Tôi nghe bước chân của Stevens. Anh ta leo gần tới đường rãnh.
- Tốt, hãy nói với anh ta nhanh lên đi, Mallory nói và tiếp tục đi tới chỗ Brown đang chốt. Chàng đi được tám mét thì Brown chạy vội về hướng chàng.
- Chúng đến, anh ta nói. Chúng đến rất nhanh. Những ánh đèn pin lóe lên từ nhiều hướng. Có lẽ chúng đang chạy và có ít nhất là bốn hoặc năm đứa.
- Cách bao xa?
- Một trăm mét không xa hơn.
- Anh hãy đi kêu Miller tới đây ngay.
Mallory quay trở lại chỗ Andrea ở. Ít nhất là năm đứa, có thể nhiều hơn nữa. Chúng sẽ có mặt ở đây trong năm phút nữa là tối đa. Steven lên chưa? Anh có thấy anh ta không?
- Tôi thấy anh ta đang rời đường rãnh.
Một ánh chớp kèm theo tiếng sấm nổ khiến chàng không nghe hết câu nói của Andrea, nhưng tia chớp khiến chàng thấy Stevens đang đu dây leo lên với vẻ chậm chạp lạ lùng, ở khoảng cách giữa mỏm đá lồi và chân đường rãnh.
- Lạy Chúa! Mallory thốt lên. Anh ta làm sao vậy? Leo kiểu này phải mất cả ngày mới tới đích! Stevens! Stevens!
Nhưng Stevens có vẻ không nghe tiếng chàng.
- Anh ấy sắp nguy mất. Andrea lo lắng nói. Ngay cả đầu, cũng không ngẩng lên.. Khi một vận động viên không ngẩn đầu lên là đồng nghĩa với thất bại. Để tôi xuống giúp anh ta.
- Không, Mallory nói. Tôi không muốn phải mất cả hai. Hãy ở lại đây… Anh ta làm sao thế?
Brown hổn hển chạy tới gần Mallory.
- Nhanh lên, Đại úy! Bọn chúng tới rất gần.
- Anh hãy quay trở về vị trí với Miller và sẵn sàng yểm trợ chúng tôi, Mallory ra lệnh.
Chàng quay xuống gọi Stevens bằng sự tuyệt vọng bi thảm đến nỗi Stevens chợt ngẩng đầu lên và để tay trên tai ra vẻ chú ý nghe.
- Bọn Đức tới, Mallory la nhỏ. Hãy leo lên tới chân rãnh và núp ở đó, đừng gây một tiếng động nào. Hiểu chưa?
Stevens giơ một tay lên, ngụ ý hiểu và lại tiếp tục leo lên nhưng bằng những động tác mỗi lúc chậm và vụng về hơn.
- Anh có tin rằng Stevens sẽ hiểu thật sự không? Andrea không yên tâm hỏi.
- Tôi tin… tôi không biết!
Chàng gặp ánh sáng của một đèn pin lóe lên và đang rọi vào những tảng đá cách bên trái chàng khoảng hai mươi lăm mét. Nắm cánh tay Andrea, chàng thì thầm:
- Chúng ta phải rút dây lên ngay. Dù sao bên dưới đường rãnh cũng còn một cái đinh móc cho Stevens đứng. Chúng ta hãy đi khỏi đây ngay.
Bằng một động tác hết sức tỉ mỉ tránh không làm rơi một hòn sỏi nhỏ nào. Mallory và Andrea nhẹ nhàng rời khỏi vực. Đã hai lần, ánh đèn quét về phía hai người, nhưng họ đều kịp áp sát mặt đất né tránh. Cuối cùng họ cũng men tới chỗ núp của Miller và Brown.
Bên trái họ, nhiều ánh đèn lóe sáng, những tiếng nói vang lên chỉ cách mười lăm mét. Miller nói khẽ:
- Chúng đang tìm tên lính canh giữa những đống đá này. Chúng ta hãy lui xa hơn nữa.
- Anh có lý, Mallory trả lời. Hãy mang theo đồ đạc. Và nếu chúng phát hiện ra Stevens ở bên dưới vực, chúng ta đành phải nổ súng để cứu anh ấy…
★ ★ ★
Stevens đã nghe tiếng gọi của Mallory nhưng chàng không hiểu Mallory nói gì. Chẳng phải tại vì chàng quá khiếp đảm nên không hiểu, bởi vì chàng không còn sợ nữa. Sự sợ hãi ẩn náu trong tinh thần, nhưng tinh thần chàng không còn hoạt động nữa mà càng lúc càng bị tê liệt. Lúc nãy, đầu chàng đã va mạnh vào một tảng đá nhọn làm thủng một lỗ ngay thái dương. Máu túa ra từ đó và sức lực từ bỏ chàng dần, chàng không hiểu Mallory nói gì. Chàng chỉ biết rằng "đang leo và như thế phải tiếp tục leo tới đỉnh". Chàng đã khắc ghi câu nói đó từ lúc còn thơ ấu do cha và các anh nghiêm khắc truyền lại.
Bây giờ thì chàng đang đứng trong đường rãnh, đứng trên cái đinh móc mà Mallory đã nêm chặt giữa khe đá. Chàng bám tay hai bên vách và ngẩng đầu nhìn lên khe hở phía trên. Chỉ còn hơn ba mét. Chàng nghe những tiếng nói, và mơ hồ thắc mắc vì sao đồng đội không có một hành đồng nào để giúp chàng, và họ lại còn rút dây nữa. Sao thế? Hay là họ muốn thử thách chàng? Điều đó chẳng quan trọng. Chàng phải lên tới đỉnh.
Stevens đã leo tới đỉnh, và như Mallory trước đó, chàng moi hết đất và đá lở, để bám tay vào đá vững chắc, đồng thời tìm một điểm tựa cho các ngón chân và rướn người lên.
Stevens thấy những ánh đèn ngang dọc, nghe những tiếng nói lạnh lùng. Trong chốc lát, màn sương trong óc chàng tan biến đi nhường chỗ cho đợt sóng sợ hãi tràn ngập. Chàng chợt hiểu những giọng nói đó là của kẻ thù và chắc họ đã giết chết các bạn của chàng. Stevens biết rằng thế là hết, bây giờ chàng chỉ còn một mình.
Rồi màn sương lại bao trùm những ý nghĩ của chàng. Chỉ còn lại mệt mỏi và thất vọng. Dần dần những ngón tay Stevens rời khỏi chỗ bám, miễn cưỡng như những ngón tay của một người chết đuối dần đang buông tay khỏi tấm ván. Chàng không cảm thấy sợ nữa, chỉ thấy đầu óc lạnh lùng trống vắng vô cùng, trong khi hai tay chàng trượt xuống, và thân người như một hòn đá khô khan rơi xuống chân đường rãnh, cách đỉnh núi sáu mét.
Tự chàng cũng không gây một tiếng động nào: không một tiếng kêu thoát ra từ miệng, bởi vì chàng bất tỉnh cũng một lúc với đau đớn, nhưng những người bạn của chàng núp sau những tảng đá đang lắng tai, nghe rõ tiếng xương gãy kêu rắc như một cành cây khô mùa đông.