O Pioneers!

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Viii

❊ ❊ ❊

Vào buổi tối ngày Alexandra đến thăm nhà Shabatas, một cơn mưa lớn bắt đầu đổ xuống. Frank ngồi đọc báo chủ nhật đến tận khuya. Một người trong dòng họ Gould đang ly hôn, và Frank coi đó như một sự sỉ nhục cá nhân. Khi đăng câu chuyện về rắc rối hôn nhân của người thanh niên đó, vị biên tập viên thông thái đã tô vẽ khá đậm nét cho cuộc đời anh ta, nêu rõ mức thu nhập cùng cách thức mà anh ta bị cho là đã tiêu xài số tiền đó. Frank đọc tiếng Anh rất chậm, và càng đọc về vụ ly hôn này, anh ta càng tỏ ra tức giận hơn. Cuối cùng, anh ta hậm hực vứt trang báo xuống. Anh ta quay sang người làm thuê đang đọc nửa tờ báo còn lại.

“Có trời mới biết! Nếu tôi mà tóm được thằng cha đó ở bãi cỏ một lần xem, tôi cho nó biết tay. Nghe đây này, nó tiêu tiền thế đấy.” Và Frank bắt đầu liệt kê những thói tiêu hoang bị đồn đại của người thanh niên nọ.

Marie thở dài. Cô thấy thật bất công khi gia đình nhà Gould, những người mà cô luôn dành những thiện cảm tốt đẹp nhất, lại đem đến cho cô nhiều phiền toái đến thế. Cô rất ghét mỗi khi báo chủ nhật mang đến nhà. Frank lúc nào cũng đọc về hành tung của những kẻ giàu có rồi cảm thấy bất bình. Anh ta có một kho chuyện vô tận về tội ác và sự ngu ngốc của họ, về cách họ hối lộ tòa án và bắn chết quản gia mà chẳng hề hấn gì mỗi khi họ muốn. Frank và Lou Bergson có những tư tưởng rất giống nhau, và họ chính là hai trong số những kẻ chuyên kích động chính trị trong vùng.

Sáng hôm sau trời quang mây tạnh và rực rỡ nắng vàng, nhưng Frank bảo đất vẫn còn quá ẩm để cày bừa, thế là anh ta đánh xe đến quán rượu của Moses Marcel ở Sainte-Agnes để tiêu tơi một ngày ở đó. Sau khi anh ta đi rồi, Marie ra hiên sau bắt đầu công việc làm bơ. Một cơn gió lốc đã thổi lên và lùa những đám mây trắng phồng như bông bay ngang bầu trời. Vườn cây ăn trái đang lấp lánh và gợn sóng trong nắng. Marie đứng nhìn về phía đó với ánh mắt đượm buồn, tay đặt trên nắp thùng bơ, thì cô nghe thấy một âm thanh sắc bén vang lên trong không khí, đó là tiếng mài đá mài róc rách vào lưỡi hái. Lời mời gọi ấy đã quyết định thay cho cô. Cô chạy ù vào nhà, mặc một chiếc váy ngắn và xỏ một đôi bới của chồng, với lấy một chiếc xô thiết rồi bước ra vườn cây. Emil đã bắt đầu công việc và đang hăng say phát cỏ. Khi thấy cô đến, anh ta dừng lại và lau trán. Đôi xà cạp bằng vải bạt màu vàng và chiếc quần ka-ki của anh ta đã bị bắn tung tóe những bùn đất lên đến đầu gối.

“Đừng để chị làm phiền em nhé, Emil. Chị ra hái anh đào đây. Mọi thứ chẳng phải rất đẹp sau cơn mưa đó sao? Ồ, mà chị mừng vì bãi cỏ này đã được cắt gọn gàng đấy! Khi nghe tiếng mưa rơi trong đêm, chị đã nghĩ hay là hôm nay em sẽ sang cắt giùm chị. Gió làm chị thức giấc. Chẳng phải gió thổi dữ dội lắm sao? Em ngửi thấy mùi hoa hồng dại xem! Chúng lúc nào cũng thơm nức mùi gia vị sau cơn mưa. Chưa bao giờ chúng ta lại mọc nhiều hoa thế này ở đây. Chắc là vì mùa mưa rồi. Em có phải cắt luôn cả chúng không?”

“Nếu em cắt cỏ, thì em sẽ cắt cả chúng,” Emil đáp với giọng trêu chọc. “Chị bị làm sao thế? Sao mà hớn hở thế hả?”

“Chị hớn hở ư? Chắc đó cũng là do mùa mưa rồi. Thật phấn khích khi thấy mọi thứ lớn lên nhanh đến thế,—và khi bãi cỏ được cắt gác! Xin em hãy để dành những khóm hoa hồng lại sau cùng, nếu em bắt buộc phải cắt chúng. Ồ, ý chị không phải là tất cả, ý chị là chỗ trũng ở cái cây gần nhà chị ấy, nơi có rất nhiều hoa. Người em bắn tung tóe bùn kìa! Nhìn những mạng nhện giăng khắp bãi cỏ kìa. Thôi chào em nhé. Chị sẽ gọi em nếu thấy rắn.”

Cô bước đi tót lẹ và Emil đứng nhìn theo bóng cô. Chỉ một lát sau, anh nghe thấy tiếng những quả anh đào rơi lộp bộp vào xô, và anh bắt đầu vung lưỡi hái với những nhát cắt dài, đều đặn mà ít cậu con trai Mỹ nào học được. Marie hái anh đào và khe khẽ hát một mình, tuốt hết cành lấp lánh này đến cành lấp lánh khác, rùng mình khi một chùm giọt mưa rơi bắn vào cổ và tóc cô. Và Emil cứ thế lùi dần lưỡi hái về phía những cây anh đào.

Mùa hè năm đó mưa nhiều và đúng lúc đến mức Shabata và người làm của anh suýt không kịp làm xuể để chăm sóc ruộng ngô; khu vườn ăn trái vì thế mà trở thành một vùng hoang dã bị bỏ bê. Đủ loại cỏ dại, thảo mộc và hoa dại mọc lên khắp nơi; những vạt phi yến dại, những ngọn cây gai trắng xanh nhạt, những khóm bông dại, những đám đuôi chồn và lúa mì dại chen chúc nhau. Phía nam những cây mơ, nằm góc giáp với cánh đồng lúa mì, là đám cỏ linh lăng của Frank, nơi vô số loài bướm trắng và vàng đang chập chờn bay lượn trên những bông hoa tím ngắt. Khi Emil tiến đến góc dưới giáp hàng rào, Marie đang ngồi dưới gốc cây dâu tằm trắng của cô, bên cạnh là chiếc xô đầy ắp quả anh đào, thẫn thờ nhìn những ngọn sóng lúa mì nhẹ nhàng, không biết mệt mỏi đang nhấp nhô.

“Emil,” cô cất lời đột ngột—anh đang lặng lẽ phát cỏ quanh gốc cây để không làm phiền cô,—“hồi xưa, trước khi theo đạo Thiên chúa, người Thụy Điển theo tôn giáo nào hả em?”

Emil khựng lại và ngẩng thẳng lưng lên. “Em không biết. Chắc là giống người Đức, phải không nhỉ?”

Marie nói tiếp như thể cô không hề nghe thấy anh nói gì. “Em biết không, người Bohemia vốn là những kẻ thờ thần cây trước khi các nhà truyền giáo đến. Bố bảo rằng đôi khi người dân trên núi vẫn làm những chuyện kỳ lạ lắm,—họ tin rằng cây cối mang lại vận may hoặc vận rủi.”

Emil ra vẻ bề trên. “Thế á? Ờ, vậy cây nào là cây may mắn? Em muốn biết đấy.”

“Chị không biết hết được, nhưng chị biết cây đoạn là cây may mắn. Những người lớn tuổi trên núi thường trồng cây đoạn để thanh tẩy khu rừng, và để xua tan những bùa chú mà họ bảo rằng vẫn còn vương lại từ thời ngoại giáo. Chị là một tín đồ Công giáo tốt, nhưng chị nghĩ mình vẫn có thể sống ổn bằng cách chăm sóc cây cối, nếu như chị chẳng còn việc gì khác để làm.”

“Đó là một suy nghĩ tồi,” Emil nói, cúi người xuống để lau tay vào đám cỏ ướt.

“Tại sao lại tồi? Nếu chị cảm thấy thế, thì tức là chị cảm thấy thế thôi. Chị thích cây cối bởi vì chúng có vẻ nhẫn nhịn với cách chúng phải sống hơn là những sinh vật khác. Chị cảm thấy như thể cái cây này biết rõ mọi suy nghĩ của chị mỗi khi chị ngồi đây. Khi quay lại với nó, chị chẳng bao giờ phải nhắc nhở nó điều gì cả; chị cứ thế bắt đầu ngay từ chỗ chị đã bỏ dở.”

Emil chẳng biết nói gì trước câu nói này. Anh vươn tay lên những cành cây và bắt đầu hái thứ quả ngọt nhạt,—những chùm quả dài màu ngà, đầu quả phớt hồng nhạt như san hô trắng, cứ rụng xuống đất suốt cả mùa hè mà chẳng ai thèm ngó ngàng tới. Anh thả một nắm quả vào lòng cô.

“Em có thích anh Linstrum không?” Marie đột ngột hỏi.

“Có chứ. Chị không thích à?”

“Ồ, thích chứ lỵ; chỉ có điều anh ấy có vẻ hơi trầm tính và ra dáng thầy giáo quá. Nhưng dĩ nhiên là anh ấy còn lớn tuổi hơn cả Frank nữa cơ. Chị chắc chắn là mình chẳng muốn sống qua tuổi ba mươi đâu, em có muốn thế không? Em có nghĩ Alexandra rất thích anh ấy không?”

“Em nghĩ là có. Họ là bạn cũ mà.”

“Ôi, Emil, em thừa biết ý chị là gì mà!” Marie bực dọc hất cằm. “Chị ấy có thực sự quan tâm đến anh ấy không? Hồi xưa khi hay kể cho chị nghe về anh ấy, lúc nào chị cũng tự hỏi không biết có phải chị ấy đã hơi đem lòng yêu anh ấy rồi không.”

“Ai cơ, Alexandra á?” Emil cười lớn và đút tay vào túi quần. “Alexandra chưa từng biết yêu là gì đâu, cái đồ điên này!” Anh lại cười lớn. “Chị ấy thì biết đường nào mà lần. Nghĩ thế mà cũng nghĩ được!”

Marie nhún vai. “Ồ, em chẳng hiểu Alexandra bằng em tưởng đâu! Nếu em có mắt quan sát, em sẽ thấy chị ấy rất quý anh ấy. Xứng đáng đời em lắm nếu có ngày chị ấy bỏ đi theo Carl đấy. Chị thích anh ấy vì anh ấy biết trân trọng chị ấy hơn em.”

Emil cau mày. “Chị đang nói nhảm gì thế, Marie? Alexandra vẫn bình thường mà. Từ xưa đến nay tôi và chị ấy vẫn là bạn tốt. Chị còn muốn gì nữa? Tôi thích nói chuyện với Carl về New York và những việc một thằng đàn ông có thể làm ở đó.”

“Ôi, Emil! Chắc chắn là em không định bỏ đi đến đó đấy chứ?”

“Sao lại không? Tôi phải đi đâu đó chứ, chẳng lẽ cứ đứng ì ra đây à?” Cầm lấy chiếc lưỡi hái, người thanh niên tì người lên đó. “Chị muốn tôi xách dép ra vùng đồi cát rồi sống như lão Ivar chắc?”

Khuôn mặt Marie chùng xuống dưới ánh mắt đăm chiêu của anh. Cô nhìn xuống đôi xà cạp ướt sũng của anh. “Chị chắc chắn là Alexandra mong em sẽ ở lại đây,” cô thì thầm.

“Thế thì Alexandra sẽ phải thất vọng thôi,” người thanh niên cục cằn đáp. “Tôi ở lẩn thẩn quanh đây làm gì cơ chứ? Không có tôi thì Alexandra vẫn tự quản lý nông trại ngon lành. Tôi không thích đứng một chỗ nhìn ngó thiên hạ. Tôi muốn tự mình làm một cái gì đó.”

“Thì thế,” Marie thở dài. “Có rất, rất nhiều việc em có thể làm mà. Hầu như bất cứ việc gì em chọn.”

“Và cũng có rất, rất nhiều việc tôi chẳng thể làm được.” Emil nhại lại giọng điệu của cô đầy mỉa mai. “Có những lúc tôi chẳng muốn làm bất cứ thứ gì trên đời, nhưng cũng có lúc tôi chỉ muốn túm bốn góc của vùng thung lũng này lại,”—anh vung mạnh cánh tay rồi giật thốc về phía mình,—“cứ như thế này này, giống như một tấm khăn trải bàn vậy. Tôi chán ngấy cảnh nhìn đàn ông với ngựa cứ đi lên đi xuống, đi lên đi xuống mãi rồi.”

Marie ngước nhìn dáng vẻ bất chấp của anh và nét mặt cô bỗng chùng xuống buồn rầu. “Chị ước gì em đừng quá bứt rứt, và đừng quá bực dọc vì mọi chuyện như thế,” cô buồn bã nói.

“Cảm ơn chị,” anh cộc lốc đáp trả.

Cô thở dài não nề. “Mỗi lời chị nói ra đều làm em nổi giận hết, phải không? Mà ngày xưa em có bao giờ cáu gắt với chị thế đâu.”

Emil bước lên một bước và đứng cau mày nhìn xuống cái đầu đang cúi gậm của cô. Anh đứng ở tư thế sẵn sàng tự vệ, hai chân dang rộng, hai bàn tay siết chặt buông thõng hai bên sườn, khiến những thớ gân hằn lên rõ mồn một trên đôi tay trần. “Tôi không còn có thể chơi đùa với chị như một đứa trẻ nữa đâu,” anh chậm rãi nói. “Đó là điều chị đang tiếc nuối đấy, Marie. Chị sẽ phải tìm một đứa trẻ khác để chơi cùng thôi.” Anh dừng lại, hít một hơi thật sâu. Sau đó, anh tiếp tục với giọng nói trầm thấp, đầy sự mãnh liệt đến mức suýt mang âm hưởng đe dọa: “Có những lúc trông chị có vẻ hiểu rất rõ, nhưng rồi có những lúc chị lại cứ vờ như không hiểu. Chị chẳng làm mọi chuyện khá hơn bằng cách vờ vịt thế đâu. Những lúc ấy là lúc tôi chỉ muốn túm bốn góc vùng thung lũng lại với nhau. Nếu chị CỐ TÌNH không chịu hiểu, chị biết đấy, tôi hoàn toàn có thể bắt chị phải hiểu!”

Marie chắp tay lại và vùng đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Trông cô đã tái mét đi và đôi mắt ánh lên vẻ vừa phấn khích vừa hoảng hốt. “Nhưng, Emil, nếu chị hiểu, thì tất cả những khoảng thời gian vui vẻ của chúng ta sẽ chấm dứt, chúng ta sẽ chẳng bao giờ được cùng nhau làm những điều thú vị nữa. Chúng ta sẽ phải cư xử y như anh Linstrum vậy. Và dù sao đi nữa, chẳng có cái vẹo gì để mà hiểu cả!” Cô giậm mạnh đôi giày nhỏ xuống đất đầy phẫn nộ. “Chuyện đó sẽ qua mau thôi. Nó sẽ biến mất, rồi mọi thứ sẽ lại đâu vào đấy như trước đây thôi. Chị ước gì em theo đạo Công giáo. Nhà thờ giúp ích cho mọi người lắm đấy, thật lòng đấy. Chị cầu nguyện cho em, nhưng điều đó không giống như việc chính em tự cầu nguyện.”

Cô nói một thôi một hồi bằng giọng van xin, ánh mắt khẩn khoản nhìn vào mặt anh. Emil vẫn đứng sừng sững đầy thách thức, đăm đăm nhìn xuống cô.

“Tôi không thể cầu nguyện để có được những thứ mình muốn,” anh chầm chậm nói, “và tôi cũng chẳng đời nào cầu nguyện để không phải có chúng, dẫu cho có phải xuống địa ngục đi chăng nữa.”

Marie quay phắt đi, hai tay xoắn xuýt vào nhau. “Ôi, Emil, em thậm chí còn chẳng buồn cố gắng! Thế thì mọi khoảng thời gian vui vẻ của chúng ta tiêu thật rồi.”

“Ừ; tiêu đời rồi. Tôi chẳng bao giờ mong có thêm phút giây vui vẻ nào nữa đâu.”

Emil siết chặt tay cầm chiếc lưỡi hái và bắt đầu phát cỏ. Marie cầm lấy giỏ anh đào rồi chậm chạp lê bước về hướng ngôi nhà, nức nở khóc thầm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.