O Pioneers!

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I

❊ ❊ ❊

Mùa đông lại bao trùm lên vùng Divide; đây là khoảng thời gian mà Tự nhiên nghỉ ngơi, chìm vào giấc ngủ nằm giữa sự trù phú của mùa thu và niềm đam mê của mùa xuân. Đám chim chóc đã bay đi hết. Sự sống sinh sôi nảy nở ẩn dưới lớp cỏ dài nay đã bị tiêu diệt sạch. Mọi chú chó đồng cỏ đều rúc trong hang. Thỏ ta run lẩy bẩy chạy từ đám vườn đông cứng này sang đám vườn khác, chật vật lắm mới kiếm được vài cọng bắp cải bị sương giá tàn phá. Đêm đến, loài sói đồng cỏ lang thang trên vùng đất hoang lạnh lẽo, tru lên từng hồi vì đói khát. Những cánh đồng muôn màu nay đồng một sắc; đồng cỏ, gốc rạ, đường sá, bầu trời đều mang một màu xám chì giống nhau. Hàng rào và cây cối gần như tệp hẳn vào mặt đất trơ trọi, khoác lên mình thứ sắc màu xám đá ấy. Mặt đất cứng đến mức bước đi trên đường hay ngoài ruộng cày cũng làm đau cả bàn chân. Nơi đây trông chẳng khác nào một xứ sở bằng sắt, và lòng người bị đè nặng bởi sự khắc nghiệt cùng nỗi u buồn của nó. Người ta rất dễ tin rằng trong cảnh vật chết chóc ấy, mầm mống của sự sống và sự sinh sôi đã lụi tàn vĩnh viễn.

Alexandra đã quay lại với nhịp sống quen thuộc thường ngày. Emil vẫn gửi thư về hàng tuần. Còn Lou và Oscar thì cô chưa gặp lại từ ngày Carl ra đi. Để tránh những cuộc chạm trán khó xử trước những đôi mắt tò mò, cô đã không còn đến nhà thờ Na Uy nữa mà đánh xe lên nhà thờ Cải cách ở Hanover, hoặc đi cùng Marie Shabata đến nhà thờ Công giáo, mà người dân địa phương thường gọi là "nhà thờ Pháp". Cô chưa từng kể cho Marie nghe về Carl, hay những bất hòa giữa cô với các anh mình. Xưa nay cô vốn không thích ba hoa chuyện riêng tư, và khi câu chuyện chạm đến giới hạn đó, trực giác mách bảo cô rằng về những vấn đề này, cô và Marie sẽ chẳng thể thấu hiểu lẫn nhau.

Bà cụ Lee từng lo ngại rằng những hiểu lầm trong gia đình có thể tước đi chuyến ghé thăm thường niên của bà dành cho Alexandra. Thế nhưng vào ngày mùng một tháng Mười2, Alexandra đã gọi điện cho Annie để nhắn rằng ngày mai cô sẽ cho Ivar sang đón mẹ, và ngày hôm sau cụ bà đã tới nơi cùng tay nải lỉnh kỉnh. Suốt mười hai năm qua, lần nào bước vào phòng khách của Alexandra, bà Lee cũng thốt lên câu quen thuộc: "Giờ thì chúng ta y hệt như ngày xưa rồi nhé!" Bà rất tận hưởng sự tự do mà Alexandra mang lại, cùng việc được nghe tiếng mẹ đẻ văng vẳng quanh mình suốt cả ngày. Ở đây, bà có thể đội mũ ngủ và ngủ với tất cả các cửa sổ đóng kín, lắng nghe Ivar đọc Kinh Thánh, và tha hồ chạy nhảy quanh mấy tòa chuồng ngựa trong đôi bốt cũ của Emil. Dù lưng đã gù gần gập xuống, bà vẫn nhanh nhẹn chẳng kém gì một con sóc đất. Gác lại tuổi tác, khuôn mặt bà nâu bóng như thể được quét một lớp vec-ni, và chi chít những nếp nhăn hệt như đôi bàn tay của một bà thợ giặt. Bà còn lại ba chiếc răng già vui nhộn ở hàm trước, và mỗi khi cười toe toét, trông bà rất từng trải, cứ như thể hễ bạn biết cách thích nghi thì cuộc đời này chẳng đến nỗi tồi tệ chút nào. Trong lúc bà và Alexandra cùng nhau vá víu, chắp nối và khâu chăn, bà huyên thuyên kể không biết chán về những câu chuyện đọc được trên một tờ báo gia đình Thụy Điển, tường thuật lại cốt truyện vô cùng chi tiết; hoặc kể về quãng thời gian sống trong một trang trại sữa ở Gottland khi bà còn là một thiếu nữ. Có lúc bà lẫn lộn cả giữa những câu chuyện in trên giấy và những câu chuyện đời thực, bởi mọi thứ dường như đã lùi vào dĩ vãng quá xa xôi. Bà rất thích nhấm nháp chút rượu mạnh pha nước nóng và đường trước khi đi ngủ, và Alexandra luôn chuẩn bị sẵn sàng thức uống ấy cho bà. "Nó sẽ mang lại những giấc ngủ ngon," bà thường nói với ánh mắt lấp lánh tinh nghịch.

Khi bà Lee ở chỗ Alexandra được một tuần, Marie Shabata gọi điện vào một buổi sáng để báo rằng Frank đã lên thị trấn có việc trong cả ngày, và cô muốn hai người ghé qua uống cà phê vào buổi chiều. Bà Lee vội vàng giặt giũ và là lượt chiếc tạp dề thêu chữ thập mới mà bà vừa hoàn thành tối hôm trước; một chiếc tạp dề vải gingham ô vuông được thêu hoa văn rộng mười inch chạy ngang viền dưới; tái hiện một khung cảnh săn bắn, có cây linh sam, hươu đực, chó săn và thợ săn. Vào bữa trưa, bà Lee tự khép mình vào kỷ luật thép, cương quyết từ chối phần bánh bao táo thứ hai. "Tôi xin phép giữ bụng lại," bà khúc khích nói.

Đúng hai giờ chiều, chiếc xe ngựa của Alexandra đỗ xịch trước cổng nhà Shabata, và Marie nhìn thấy chiếc khăn choàng đỏ của bà Lee thấp thoáng nhún nhảy dọc lối đi. Cô chạy ào ra cửa, ôm chầm lấy cụ bà kéo vào nhà, rồi giúp cởi áo khoác ngoài trong lúc Alexandra tròng chăn giữ ấm cho con ngựa ở bên ngoài. Bà Lee đã diện chiếc váy sa tanh đen đẹp nhất của bà — bà cực kỳ ghét đồ len, kể cả vào mùa đông — kèm theo chiếc cổ áo móc len, được cố định bằng một chiếc trâm cài bằng vàng nhạt lớn, bên trong lồng những bức ảnh chụp quang khắc đã phai màu của cha mẹ bà. Sợ tạp dề bị nhàu nhĩ nên bà chưa dám đeo, và giờ đây bà rũ nó ra, ngượng nghịu buộc quanh vòng eo với vẻ mặt đầy tự đắc. Marie lùi lại một bước, hai tay giơ cao cảm thán: "Ôi, đẹp làm sao! Cháu chưa từng thấy chiếc này bao giờ cả, phải không bà Lee?"

Cụ bà khúc khích cười, rụt cổ lại. "Không đâu, tối qua tôi mới làm xong đấy. Nhìn sợi chỉ này xem; cực kỳ chắc chắn, không phai màu, không lem chút nào. Em gái tôi gửi từ Thụy Điển sang đấy. Tôi đoán chắc là cô sẽ thích món này."

Marie lại lon ton chạy ra cửa. "Vào đây đi, Alexandra. Cháu đang ngắm chiếc tạp dề của bà Lee đây này. Lúc về chị nhớ ghé qua cho bà Hiller xem với nhé. Bà ấy cuồng đồ thêu chữ thập lắm đấy."

Trong lúc Alexandra cởi mũ và mạng che mặt, bà Lee đi thẳng ra nhà bếp, chọn ngay chiếc ghế bập bênh bằng gỗ ngồi cạnh lò sưởi, đầy hứng thú ngắm nghía chiếc bàn đã được dọn sẵn cho ba người với khăn trải bàn trắng và một chậu phong lữ hồng đặt ở chính giữa. "Chà, cô có nhiều chậu cây đẹp quá cơ; lắm hoa thế không biết. Làm sao mà cô giữ cho chúng không bị cóng thế?"

Bà chỉ tay về phía những kệ đặt sát cửa sổ, nơi đang ngập tràn sắc hoa vân anh và hoa phong lữ nở rộ.

— Cháu giữ lửa trong lò suốt cả đêm, thưa bà Lee, và khi trời quá lạnh, cháu gom hết chúng lên chiếc bàn ở giữa phòng. Những đêm khác thì cháu chỉ lót báo ở phía sau. Frank cứ cười chê vì cháu cứ hay lo bò trắng răng, nhưng khi chúng không nở hoa, anh ấy lại cằn nhằn: "Mấy cái thứ chết tiệt này bị làm sao thế nhỉ?" — Dạo này chị có nhận được tin tức gì từ Carl không, hở Alexandra?

— Anh ấy đã đến Dawson trước khi sông đóng băng, và chắc là từ giờ cho đến mùa xuân cháu sẽ chẳng nhận được tin gì nữa đâu. Trước khi rời California, anh ấy có gửi tặng cháu một hộp hoa cam, nhưng chúng không được tươi lâu cho lắm. Cháu có mang theo một bó thư của Emil cho bà đây này. Alexandra bước ra từ phòng khách và nghịch ngợm véo má Marie. — Trông em chẳng có vẻ gì là bị thời tiết làm cho cóng cả nhỉ. Chẳng bao giờ bị cảm lạnh đúng không? Thật là một cô bé ngoan. Hồi nhỏ em ấy cũng có đôi má đỏ ứng thế này đấy, thưa bà Lee ạ. Trông em ấy hệt như một thứ búp bê ngoại quốc kỳ lạ nào đó. Cháu sẽ chẳng bao giờ quên lần đầu tiên gặp em ở cửa hàng của Mieklejohn, Marie ạ, đúng vào thời điểm cha đang lâm bệnh nặng. Lúc chuẩn bị đi, Carl và cháu vẫn còn nhắc lại chuyện đó đấy.

— Em nhớ chứ, và hồi đó Emil còn mang theo cả chú mèo con nữa. Khi nào chị định gửi hộp quà Giáng sinh cho Emil vậy?

— Lẽ ra nó phải được gửi đi từ trước rồi cơ. Giờ thì chắc cháu phải gửi đường bưu điện thôi, may ra mới kịp đến nơi đúng hạn.

Marie rút từ giỏ đựng đồ khâu ra một chiếc cà vạt lụa màu tím sẫm. — Em đan cái này cho anh ấy. Màu này đẹp đấy chứ, chị thấy sao? Chị nhớ bỏ chung vào đồ của chị rồi nhắn lại rằng đây là quà của em gửi, để anh ấy diện lúc đi hát khúc tình ca dưới cửa sổ nhé.

Alexandra phì cười. — Chị chẳng tin là nó hay đi hát tình ca dưới cửa sổ đâu. Trong một bức thư, nó bảo rằng phụ nữ Mexico nổi tiếng là xinh đẹp, nhưng nghe câu đấy chẳng thấy có chút tình cảm nồng nhiệt nào cả.

Marie hất cằm vẻ bướng bỉnh. — Emil không lừa được em đâu. Đã cất công mua đàn ghi-ta thì thể nào cũng đi hát dưới cửa sổ cho mà xem. Đứng trước đám con gái Tây Ban Nha cứ thả hoa xuống từ cửa sổ thế kia thì ai mà cầm lòng được chứ, phải không bà Lee?

Cụ bà bật cười khậc khậc. Đôi mắt bà sáng rực lên khi Marie cúi người mở cửa lò sưởi. Một làn hương thơm lừng, nóng hổi phả thẳng vào căn bếp ngăn nắp. "Chà, có cái gì mà thơm thế không biết!" Bà quay sang Alexandra nháy mắt, ba chiếc răng vàng khoe trọn vẻ kiêu hãnh: "Tôi đoán cái này sẽ làm cho cái quai hàm nhức buốt của tôi phải im bặt luôn cho mà xem!" bà viên mãn lên tiếng.

Marie lấy ra một khay bánh mì cuộn nhỏ xinh xắn, nhân mứt mơ hầm, rồi rắc lên trên một lớp đường bột mịn màng. "Cháu hy vọng bà sẽ thích món này; Alexandra cũng rất thích. Người Bohemia chúng cháu lúc nào cũng thích ăn kèm chúng với cà phê. Nhưng nếu bà không hợp khẩu vị, cháu vẫn còn một ổ bánh mì cà phê nhân các loại hạt và hạt anh túc. Alexandra, chị lấy giùm em cái bình đựng kem nhé? Em để nó ở bệ cửa sổ cho mát."

— Người Bohemia, — Alexandra vừa nói vừa kéo ghế ngồi vào bàn, — quả thực là biết cách làm nhiều loại bánh mì hơn bất cứ dân tộc nào trên đời này. Bà cụ Hiller từng bảo với cháu tại bữa tiệc của nhà thờ rằng bà ấy có thể làm được bảy loại bánh mì hảo hạng, nhưng riêng Marie thì làm được cả tá.

Bà Lee nhấc một chiếc bánh mì cuộn nhân mơ lên giữa ngón cái và ngón trỏ ngăm đen, săm soi đánh giá với vẻ mặt đầy suy ngẫm. "Y hệt như lông vũ vậy," bà tấm tắc tuyên bố đầy thỏa mãn. "Chà, ngon thế không biết!" bà thốt lên trong lúc khuấy ly cà phê của mình. "Thêm chút mứt nữa thì tuyệt cú mèo, tôi đoán thế."

Alexandra và Marie cười trước sự liệu trước mọi đường đi nước bước của bà, rồi quay sang chuyện trò về những mối bận tâm của riêng họ. "Hôm nọ nói chuyện qua điện thoại, chị cứ sợ là em bị cảm lạnh đấy, Marie. Có chuyện gì thế, em vừa khóc đấy à?"

— Chắc là có đấy chứ, — Marie mỉm cười chột dạ. — Đêm hôm đó Frank về muộn. Mùa đông khi ai nấy đều đi vắng hết cả, có những lúc em thấy cô quạnh lắm chứ bộ?

— Chị cũng đoán là có chuyện gì đó tương tự. Nếu nhà chị không có khách thì chị đã chạy sang tận nơi xem tình hình thế nào rồi. Đến cả em mà còn nản lòng thế này thì tụi chị biết sống sao đây? — Alexandra hỏi.

— Đâu có, em hiếm khi bị thế lắm. Kìa, bà Lee chưa có cà phê kìa!

Lát sau, khi bà Lee thông báo rằng pin của mình đã cạn kiệt, Marie và Alexandra liền dắt nhau lên lác tìm vài mẫu thêu móc mà cụ bà muốn mượn. "Chị mặc thêm áo khoác vào đi, Alexandra. Trên đó lạnh lắm, mà em cũng chẳng nhớ đám mẫu thêu ấy vứt ở xó xỉnh nào nữa. Chắc phải lục tung mấy cái va-li cũ lên mất thôi." Marie vơ lấy chiếc khăn choàng rồi đẩy cửa bước vào cầu thang, thoăn thoắt leo lên trước vị khách của mình. "Trong lúc em lục các ngăn tủ bàn giấy, chị cứ ngó vào mấy cái hộp đựng mũ ở trên kệ tủ quần áo, ngay chỗ treo đồ của Frank ấy. Trong đấy có khối thứ linh tinh lặt vặt."

Cô bắt đầu xới tung đồ đạc trong các ngăn kéo, còn Alexandra thì bước vào phòng thay đồ. Chẳng mấy chốc cô đã quay trở lại, trên tay cầm một chiếc gậy vàng mảnh mai và có độ đàn hồi.

— Cái quái gì thế này, Marie? Em đừng có bảo với chị là Frank từng chống cái thứ này đấy nhé?

Marie trố mắt nhìn vẻ đầy kinh ngạc rồi sà xuống ngồi bệt luôn xuống sàn. "Chị tìm thấy nó ở đâu thế? Em còn chẳng biết là anh ấy vẫn giữ nó đấy. Đã mấy năm nay em chẳng hề nhìn thấy nó."

— Vậy hóa ra đây thực sự là một chiếc gậy ba-toong à?

— Vâng. Một món đồ anh ấy mang theo từ bên trời Âu. Hồi mới quen nhau anh ấy hay chống nó lắm. Ngốc nghếch thật đấy phải không? Tội nghiệp Frank!

Alexandra xoay xoay cây gậy trong tay rồi khúc khích cười. "Trông anh ấy chắc buồn cười lắm đây!"

Marie trầm ngâm. "Không đâu, thực ra là không hề kỳ cục chút nào. Trông nó chẳng có gì là lạc điệu cả. Hồi trẻ anh ấy vốn là một người cực kỳ phóng khoáng và vui vẻ như thế đấy. Chị thấy đấy, con người ta thường hay vớ lấy những thứ khắc nghiệt nhất với bản thân mình, Alexandra ạ." Marie siết chặt chiếc khăn choàng quanh người và vẫn đăm đăm nhìn vào cây gậy. "Frank sẽ là một người đàn ông tuyệt vời nếu đặt đúng chỗ," cô nói với vẻ nghĩ ngợi. "Ít ra thì anh ấy cũng phải lấy một kiểu người vợ khác cơ. Chị biết không, Alexandra, bây giờ thì em hoàn toàn có thể chọn chính xác tuýp phụ nữ nào là phù hợp với Frank. Khổ nỗi là đôi khi em cứ phải cưới một người đàn ông rồi mới nhận ra anh ta thực sự cần một người vợ như thế nào; và ngặt một nỗi là kiểu người đó thường lại chính là mẫu người mà bạn không hề có. Thế thì lúc ấy bạn tính sao đây?" cô thẳng thắn hỏi.

Alexandra thú nhận là cô chịu, chẳng biết phải làm thế nào. "Tuy nhiên, — cô nói thêm, — chị thấy rằng em đang chung sống với Frank hòa hợp chẳng kém gì bất kỳ người phụ nữ nào mà chị từng thấy hay từng nghe kể đâu."

Marie lắc đầu, chúm môi thổi nhẹ hơi ấm của mình ra khoảng không gian lạnh giá. "Không đâu; em đã bị nuông chiều từ nhỏ rồi. Em thích làm theo ý mình, lại thêm cái tội ăn nói sắc bén. Mỗi lần Frank khoác lác là em lại phun ra mấy câu cay độc, và anh ấy chẳng bao giờ quên được đâu. Anh ấy cứ nghiền ngẫm đi nghiền ngẫm lại trong đầu; em cảm nhận rõ điều đó. Rồi em lại còn bồng bột nữa chứ. Vợ của Frank lẽ ra phải là một người rụt rè, và tuyệt đối không được bận tâm đến bất cứ sinh linh nào trên đời này ngoài một mình Frank mà thôi! Hồi mới cưới, em không hẳn là thế, nhưng chắc là lúc đó em còn quá trẻ nên không giữ được mình." Marie thở dài thườn thượt.

Chưa bao giờ Alexandra nghe Marie thổ lộ thành thật đến vậy về người chồng của mình, và cô cảm thấy tốt nhất là không nên khơi gợi thêm nữa. Theo suy luận của cô, chẳng có điều gì tốt đẹp lại nảy nở từ những cuộc trò chuyện kiểu này, và trong lúc Marie mải mê suy nghĩ mông lung, Alexandra vẫn miệt mài lục lọi các hộp đựng mũ. "Mấy cái mẫu này có phải không em, Maria?"

Maria giật mình chồm dậy từ dưới sàn. "Đúng rồi đấy, thế mà chúng ta cứ đi tìm mẫu thêu nhỉ? Em quên sạch bách mọi thứ trừ cái cô vợ quá khứ của Frank rồi. Để em cất cái này đi đã."

Cô nhét vội cây gậy ra phía sau bộ quần áo diện Chủ Nhật của Frank, và dẫu cô đang cười, Alexandra vẫn nhận ra những giọt nước mắt đang đọng lại trong khóe mi cô.

Lúc hai người quay trở lại nhà bếp thì tuyết đã bắt đầu lất phất rơi, và những vị khách của Marie nghĩ rằng họ phải lên đường về nhà thôi. Cô đi ra tận xe ngựa cùng họ, nhét gọn mền quanh người bà Lee trong lúc Alexandra tháo tấm chăn phủ trên lưng ngựa. Khi chiếc xe lăn bánh rời đi, Marie quay người chậm rãi bước trở vào nhà. Cô cầm gói thư mà Alexandra mang đến nhưng lại chẳng hề mở ra đọc. Cô lật qua lật lại ngắm nghía những con tem ngoại quốc, rồi ngồi thẫn thờ ngắm nhìn trận tuyết đang bay lả tả trong lúc bóng chiều chạng vạng buông xuống căn bếp và lò sưởi tỏa ra một thứ ánh đỏ rực rỡ.

Marie thừa hiểu rằng những bức thư của Emil được viết ra cốt là để cho cô đọc chứ không phải cho Alexandra. Chúng không phải là kiểu thư mà một chàng trai trẻ thường viết cho chị gái mình. Chúng vừa mang đậm dấu ấn cá nhân lại vừa trau chuốt hơn rất nhiều; tràn ngập những mô tả về cuộc sống xa hoa tại thủ đô cổ kính của Mexico vào cái thời điểm mà bàn tay thép của Porfirio Diaz vẫn còn vô cùng uy quyền. Anh kể về những trận đấu bò tót và chọi gà, những ngôi nhà thờ và các buổi lễ hội, những khu chợ hoa và đài phun nước, âm nhạc và những điệu nhảy, cùng con người đủ mọi quốc gia mà anh gặp gỡ trong các nhà hàng Ý trên phố San Francisco. Tóm lại, đó là kiểu thư mà một chàng trai trẻ viết cho một người phụ nữ khi anh ta muốn bản thân và cuộc đời mình trở nên thú vị trong mắt cô ấy, khi anh ta muốn khơi gợi trí tưởng tượng của cô ấy hướng về phía mình.

Marie, những lúc thui thủi một mình hoặc khi ngồi khâu vá vào buổi tối, thường thả hồn tưởng tượng về cái xứ sở nơi Emil đang đặt chân đến; nơi đâu cũng ngập tràn hoa tươi và ban nhạc đường phố, những cỗ xe ngựa lộc cộc qua lại, và nơi có một chú bé đánh giày mù ngồi trước nhà thờ có thể tấu lên bất cứ khúc nhạc nào bạn yêu cầu chỉ bằng cách gõ nắp hộp xi đánh giày xuống những bậc thềm đá. Khi một người ở tuổi hai mươi ba mà cảm thấy mọi thứ đã trôi qua và chấm hết, thật dễ chịu làm sao khi được thả cho tâm trí lang thang bay bổng theo chân một chàng trai phiêu lưu trẻ tuổi đang có cả tương lai rộng mở phía trước. "Và nếu không có mình," cô thầm nghĩ, "có lẽ Frank vẫn sẽ tự do tự tại như thế, vẫn đang tận hưởng khoảng thời gian vui vẻ khi khiến người khác phải ngưỡng mộ anh ấy. Tội nghiệp Frank, việc kết hôn hóa ra cũng chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho anh ấy cả. Lại thêm cái tính của mình nữa chứ, e rằng chính mình là kẻ đã khiến mọi người có cái nhìn ác cảm với anh ấy, hệt như anh ấy hay phàn nàn. Chẳng hiểu sao lúc nào em cũng đẩy anh ấy vào thế khó. Biết đâu nếu không có mặt em quanh đây, anh ấy đã lại có thể nhã nhặn với mọi người rồi. Cứ như thể em luôn là nguyên nhân khiến anh ấy trở nên tồi tệ nhất có thể vậy."

Vào quãng sau của mùa đông, Alexandra thường nhớ lại buổi chiều hôm đó như là lần ghé thăm trọn vẹn và ưng ý cuối cùng mà cô có được với Marie. Kể từ ngày hôm đó, người phụ nữ trẻ tuổi dường như ngày càng thu mình lại trong vỏ ốc. Mỗi khi ở cạnh Alexandra, cô không còn giữ được sự tự nhiên và bộc trực như trước kia. Cô có vẻ như đang trầm ngâm suy tính điều gì đó, và luôn cố che giấu, kìm nén một tâm sự nào đó trong lòng. Thời tiết cũng góp phần không nhỏ khiến hai người ít có cơ hội gặp nhau hơn thường lệ. Đã hai mươi năm rồi mới lại có những trận bão tuyết lớn đến thế, và lối mòn cắt ngang qua những cánh đồng bị tuyết vùi lấp dày đặc từ dịp Giáng sinh cho đến tận tháng Ba. Khi muốn sang thăm nhau, hai người hàng xóm buộc phải đi vòng theo đường xe kéo, xa gấp đôi bình thường. Dù hầu như tối nào họ cũng gọi điện cho nhau, nhưng riêng trong tháng Giêng đã có quãng thời gian kéo dài tới ba tuần hệ thống dây cáp bị đứt hoàn toàn và người đưa thư không thể ghé qua lấy một chuyến.

Marie thường xuyên chạy sang thăm người hàng xóm gần nhất của mình là bà cụ Hiller — người đang bị thấp khớp hành hạ và chỉ có cậu con trai khập khiễng làm nghề thợ giày bầu bạn chăm sóc — và cô vẫn đều đặn đến nhà thờ Pháp bất kể thời tiết khắc nghiệt thế nào. Cô là một thiếu nữ vô cùng sùng đạo. Cô cầu nguyện cho chính mình, cho Frank, và cho cả Emil giữa muôn vàn cạm bẫy của thành phố cổ kính xa hoa nhưng đầy rẫy sự mục ruỗng ấy. Mùa đông năm đó, cô tìm thấy ở nhà thờ nhiều niềm an ủi hơn bao giờ hết. Nơi đó dường như trở nên gần gũi với cô hơn, khỏa lấp đi khoảng trống đang nhức buốt trong lồng ngực. Cô tự nhủ phải kiên nhẫn hơn với chồng mình. Thường thì vào buổi tối, anh ta và người làm thuê hay chơi bài California Jack. Marie ngồi khâu vá hoặc móc len, cố gắng tỏ ra có chút hứng thú thân thiện với ván bài, nhưng tâm trí cô lúc nào cũng bay bổng ra những cánh đồng bao la ngoài kia, nơi tuyết đang vùi lấp lên các hàng rào; và nghĩ về vườn cây ăn trái, nơi tuyết đang rơi dày đặc và nén chặt lại thành từng lớp vỏ cứng. Mỗi khi bước ra căn bếp tối om để chăm chút cho mấy chậu cây vào ban đêm, cô hay thẫn thờ đứng bên cửa sổ phóng tầm mắt nhìn ra những cánh đồng trắng xóa, hoặc ngắm nhìn những luồng tuyết cuồn cuộn cuốn phăng qua vườn cây. Cô dường như cảm nhận được sức nặng của tất cả lớp tuyết đang đè nặng ở ngoài kia. Những cành cây đã trở nên cứng đờ đến mức chỉ cần toan bẻ một cành nhỏ thôi cũng đủ làm tay rớm máu. Thế nhưng, ẩn sâu dưới những lớp vỏ băng giá ấy, ngay tại phần rễ của những thân cây, bí mật của sự sống vẫn được bảo toàn vẹn nguyên, ấm áp hệt như dòng máu chảy trong tim; và mùa xuân rồi sẽ quay trở về! Ồ, nó nhất định sẽ quay trở về!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.