Emil về đến nhà vào lúc quá trưa một chút, và khi cậu bước vào bếp, Alexandra đã ngồi ở đầu chiếc bàn dài, dùng bữa cùng những người làm của mình như mọi khi, trừ những hôm có khách. Cậu lặng lẽ luồn vào chỗ ngồi trống bên tay phải của chị. Ba cô thiếu nữ Thụy Điển xinh đẹp phụ trách việc nhà cho Alexandra đang cắt bánh, châm thêm cà phê, dọn những đĩa bánh mì, thịt và khoai tây lên tấm khăn trải bàn đỏ, rồi cứ va vào nhau liên tục giữa bàn ăn và cái lò sưởi. Thật ra, họ luôn tốn khối thời gian để va vào nhau và khúc khích cười trước những lỗi lậu của đối phương. Nhưng, như Alexandra từng thẳng thắn nói với các cô em dâu của mình, chính vì thích nghe tiếng họ khúc khích cười mà cô mới giữ ba cô nàng ấy lại trong bếp; còn công việc thì cô tự làm lấy được hết, nếu cần. Những cô gái này, với những lá thư dài gửi từ quê nhà, những bộ xiêm y chưng diện và mấy chuyện tình ái vặt vãnh, mang lại cho cô niềm vui lớn, đồng thời họ cũng là bạn bầu trò chuyện với cô những khi Emil vắng nhà đi học.
Alexandra rất quý cô út Signa – người có thân hình xinh xắn, đôi má ửng hồng lấm tấm tàn nhang và mái tóc vàng – dù cô vẫn luôn canh chừng cô bé này rất kỹ. Signa rất hay lúng túng vào giờ ăn, lúc có mặt mấy người đàn ông ở quanh, để rồi làm đổ cà phê hoặc làm lật úp bình kem. Người ta đồn rằng Nelse Jensen, một trong sáu người đàn ông ngồi vào bàn ăn, đang theo đuổi Signa, nhưng anh ta lại tỏ ra cẩn trọng đến mức chẳng ai trong nhà, và nhất là Signa, có thể đoán được mọi chuyện đã tiến triển đến đâu rồi. Nelse đăm đăm nhìn theo Signa mỗi khi cô bận rộn dọn bàn, và đến tối, anh ta ngồi trên chiếc ghế dài sau lò sưởi với chiếc đàn xếp DRAGHARMONIKA, vừa tấu lên những giai điệu ai oán vừa dõi theo từng bước chân cô làm việc. Khi Alexandra hỏi Signa rằng liệu con bé có nghĩ Nelse là kẻ chân tình hay không, tội nghiệp thay, đứa trẻ liền giấu đôi tay dưới tạp dề và thỏ thẻ: “Em không biết đâu, thưa bà. Nhưng anh ấy cứ cằn nhằn em đủ thứ chuyện, cứ như thể anh ấy rất muốn lấy em vậy!”
Ngồi bên tay trái của Alexandra là một ông cụ rất già, đi chân trần và mặc chiếc áo blouse dài màu xanh, để hở cổ. Mái đầu bờm xờm của ông hầu như chẳng trắng hơn so với mười sáu năm về trước là mấy, nhưng đôi mắt xanh nhỏ bé của ông đã trở nên nhạt nhòa và ngấn nước, còn gương mặt hồng hào thì héo úa như quả táo bám trụ suốt mùa đông trên cành. Khi Ivar khánh kiệt ruộng đất vì sự quản lý kém cỏi cách đây một tá năm, Alexandra đã đùm bọc lấy ông, và từ đó đến nay ông vẫn là một thành viên trong gia đình cô. Ông đã quá già để làm việc ngoài đồng, nhưng ông vẫn dắt ngựa vào cày kéo và chăm nom sức khỏe cho đàn gia súc. Thỉnh thoảng vào một buổi tối mùa đông, Alexandra lại gọi ông vào phòng khách đọc Kinh Thánh lớn tiếng cho cô nghe, bởi ông vẫn đọc rất giỏi. Ông vốn ghét những chốn đông người ở, thế nên Alexandra đã sửa sang cho ông một căn phòng ở chuồng ngựa, nơi ông cảm thấy rất thoải mái vì được ở gần bầy ngựa và, như lời ông nói, tránh xa được những cám dỗ. Chưa từng ai tìm ra rốt cuộc những cám dỗ của ông là gì. Vào những ngày trời lạnh, ông ngồi bên lò sưởi nhà bếp đan võng hoặc vá dây cương cho đến giờ đi ngủ. Sau đó, ông đọc chuỗi kinh dài dằng dặc phía sau lò sưởi, khoác chiếc áo da trâu lên người và đi ra căn phòng của mình ở chuồng ngựa.
Bản thân Alexandra thì thay đổi rất ít. Vóc dáng cô đẫy đà hơn, và sắc diện cũng hồng hào hơn trước. Trông cô rạng rỡ và tràn đầy sinh lực hơn thời thiếu nữ. Nhưng cô vẫn giữ nguyên vẹn sự điềm tĩnh và khoan thai trong phong thái, ánh mắt trong trẻo ngày nào, và cô vẫn chải tóc thành hai bím quấn quanh đầu. Mái tóc ấy xoăn đến mức những lọn tóc bướng bỉnh cứ bung ra khỏi bím, khiến đầu cô trông như một trong những đóa hoa hướng dương kép to lớn mọc viền quanh khu vườn trồng rau. Gương mặt cô lúc nào cũng sạm nắng vào mùa hè, bởi chiếc mũ che nắng của cô thường nằm trên tay hơn là ở trên đầu. Thế nhưng, ở phần cổ áo trễ xuống, hay ở những đoạn tay áo xắn cao lên để lộ cổ tay, làn da lại mịn màng và trắng trẻo đến mức chẳng người phụ nữ Thụy Điển nào khác có được; một làn da mang sự tinh khôi nguyên thủy tựa bông tuyết.
Alexandra không nói nhiều ở bàn ăn, nhưng cô luôn khuyến khích những người đàn ông trò chuyện, và cô luôn lắng nghe họ một cách chăm chú, kể cả khi họ có vẻ đang nói những điều ngớ ngẩn.
Hôm nay, Barney Flinn – gã đàn ông người Ireland tóc đỏ vạm vỡ đã gắn bó với Alexandra được năm năm và thực chất chính là quản đốc của cô dẫu chẳng mang danh hiệu ấy – đang cằn nhằn về cái lò sấy ngũ cốc mới mà cô vừa cho dựng lên vào mùa xuân đó. Hứa hẹn thay, đó lại là cái lò sấy đầu tiên ở vùng The Divide, và hàng xóm lẫn những người làm của Alexandra đều tỏ ra hoài nghi về nó. Barney thừa nhận: “Nói cho cùng, nếu cái thứ đó mà không hoạt động được, thì chúng ta vẫn có dư dả thức ăn chăn nuôi mà chẳng cần đến nó.”
Nelse Jensen, kẻ theo đuổi ủ rũ của Signa, cũng xen vào một câu: “Lou, hắn bảo hắn sẽ chẳng thèm nhận cái lò sấy nào trên mảnh đất của mình dù cô có cho không hắn. Hắn bảo thức ăn ủ chua từ cái thứ đó sẽ làm gia súc bị trướng bụng. Hắn nghe nói có người đã mất toi bốn con ngựa chỉ vì cho chúng ăn cái món ấy.”
Alexandra nhìn dọc theo bàn ăn từ người này sang người khác. “Chà, cách duy nhất để chúng ta sáng tỏ là cứ thử nghiệm. Tôi và Lou có những quan niệm khác nhau về việc cho gia súc ăn uống, và đó là một điều hay. Thật tồi tệ nếu tất cả các thành viên trong một gia đình đều suy nghĩ giống hệt nhau. Chẳng đời nào họ tiến xa được cả. Lou có thể rút kinh nghiệm từ những sai lầm của tôi và tôi có thể học hỏi từ sai lầm của anh ấy. Chẳng phải thế là công bằng sao, Barney?”
Gã người Ireland cười phá lên. Hắn chẳng có chút thiện cảm nào với Lou, kẻ luôn tỏ ra trịch thượng với hắn và hay phàn nàn rằng Alexandra trả lương cho nhân công quá cao. “Tôi chẳng có ý gì ngoài việc muốn thử nghiệm đàng hoàng cái món ấy đâu, thưa bà. Dù sao cũng là điều phải lẽ, sau khi đã bỏ ra biết bao nhiêu chi phí cho nó. Có lẽ Emil sẽ ra ngoài đó xem xét nó cùng tôi chứ.” Hắn đẩy ghế ra sau, lấy chiếc mũ treo trên vách và bước thẳng ra ngoài cùng Emil – người mang những tư tưởng đại học và bị nghi là kẻ chủ mưu dựng lên cái lò sấy này. Những người làm khác cũng nối gót theo sau họ, ngoại trừ lão Ivar. Lão đã chìm trong nỗi u uất suốt bữa ăn và chẳng màng mảy may gì đến câu chuyện của mấy người đàn ông, ngay cả khi họ nhắc đến chuyện trướng bụng vì thân ngô – một chủ đề mà chắc chắn lão phải có ý kiến.
Alexandra cất tiếng hỏi khi đứng dậy khỏi bàn ăn: “Ivar, ông có muốn nói chuyện với tôi không? Hãy vào phòng khách.”
Ông cụ bước theo sau Alexandra, nhưng khi cô ra hiệu bảo ông ngồi xuống ghế, lão liền lắc đầu. Cô cầm giỏ đựng đồ khâu vá lên và kiên nhẫn đợi lão mở lời. Lão đứng nhìn xuống tấm thảm, cái đầu xù lông cúi gằm, hai tay đan vào nhau trước ngực. Đôi chân vòng kiềng của Ivar có vẻ càng lúc càng ngắn đi theo năm tháng, và chúng hoàn toàn lệch tông so với cơ thể bè ra, dày dặn cùng đôi vai nặng nề của lão.
Sau khi chờ lâu hơn thường lệ, Alexandra mới cất lời: “Nào Ivar, có chuyện gì thế?”
Ivar chưa từng học nói tiếng Anh và tiếng Na Uy của lão mang nét cổ kính, trang nghiêm, tựa như cách diễn đạt của những người thuộc trường phái xưa cũ. Lão luôn xưng hô với Alexandra bằng những từ ngữ thể hiện sự kính trọng sâu sắc nhất, với hy vọng làm gương tốt cho mấy cô hầu bếp, những người mà lão cho là có tác phong quá mức suồng sã.
Lão khẽ khàng bắt đầu, không ngẩng mặt lên: “Thưa cô chủ, dạo gần đây mọi người nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lùng. Chắc cô biết là có những lời đàm tiếu rồi đấy.”
“Đàm tiếu chuyện gì cơ, Ivar?”
“Chuyện tống cổ tôi đi; đưa vào nhà thương điên.”
Alexandra đặt giỏ đồ may vá xuống. Cô quả quyết nói: “Chẳng có ai đến phàn nàn với tôi những chuyện đó cả. Sao ông cứ phải bận lòng lắng nghe làm gì? Ông thừa biết tôi sẽ không bao giờ đồng ý với chuyện như thế.”
Ivar ngẩng cái đầu bờm xờm lên và nhìn cô qua đôi mắt ti hí. “Họ bảo rằng cô không thể ngăn cản được nếu thiên hạ phàn nàn về tôi, nếu các anh em của cô khiếu nại với nhà chức trách. Họ bảo rằng các anh em của cô sợ rằng – lạy Chúa tôi! – tôi có thể gây tổn hại gì cho cô trong những cơn phát bệnh. Thưa cô chủ, sao lại có người nghĩ được như thế chứ? – rằng tôi có thể cắn lại bàn tay đã nuôi dưỡng mình cơ chứ!” Những giọt nước mắt rỉ ra, chảy dài trên bộ râu của ông lão.
Alexandra cau mày. “Ivar, tôi lấy làm lạ cho ông đấy, sao lại đi bận lòng làm phiền tôi bằng những thứ nhảm nhí đó. Tôi vẫn đang tự quản lý ngôi nhà của chính mình, và người ngoài chẳng dính líu gì đến ông hay tôi cả. Chừng nào tôi còn thấy hài lòng với ông, thì chẳng có gì phải bàn cãi nữa.”
Ivar rút chiếc khăn tay màu đỏ từ ngực áo blouse ra để lau nước mắt và chòm râu. “Nhưng tôi không muốn cô phải giữ tôi lại nếu, như người ta nói, điều đó đi ngược lại quyền lợi của cô, và nếu vì có mặt tôi mà cô khó bề thuê mướn nhân công.”
Alexandra có cử chỉ thiếu kiên nhẫn, nhưng ông lão đưa tay ra hiệu và tiếp tục nói một cách khẩn khoản:
“Lắng nghe tôi đi, thưa cô chủ, cô nên cân nhắc những điều này. Cô biết rằng những cơn phát bệnh của tôi là do Chúa định đoạt, và tôi sẽ không bao giờ làm hại đến bất kỳ sinh linh nào. Cô tin rằng ai ai cũng phải tôn kính Chúa theo cách Người mặc khải cho họ. Nhưng đó không phải là cách làm ở xứ này. Cách ở đây là tất cả mọi người phải hành động giống hệt nhau. Tôi bị khinh miệt chỉ vì không đi giày, vì không cắt tóc, và vì tôi nhìn thấy những điều kỳ lạ. Ở quê nhà, nơi xứ sở cũ, có rất nhiều người giống như tôi, những kẻ từng được Chúa chạm tay vào, hoặc từng nhìn thấy những sự lạ ngoài nghĩa địa vào ban đêm và trở nên khác biệt sau đó. Chúng tôi chẳng mảy điều đó là gì và để mặc họ sống. Thế nhưng ở đây, nếu một người khác thường ở đôi chân hay trong đầu óc, họ liền tống cổ kẻ đó vào nhà thương điên. Hãy nhìn Peter Kralik mà xem; thuở còn là một đứa trẻ, khi uống nước từ một con suối, hắn đã nuốt phải một con rắn, và kể từ đó về sau hắn chỉ có thể ăn những loại thức ăn mà con vật ấy ưa thích, bởi hễ hắn nuốt thứ gì khác vào là nó lại nổi giận và cắn xé hắn. Khi cảm thấy nó quẫy đạp bên trong, hắn phải uống rượu để làm nó tê liệt đi đôi chút nhằm dễ chịu hơn. Hắn làm việc giỏi giang chẳng kém gì bất kỳ ai, đầu óc cũng minh mẫn, thế mà họ vẫn giam giữ hắn chỉ vì cái dạ dày hắn khác người. Sự đời là thế đấy; họ đã xây nhà thương điên cho những kẻ khác biệt, và thậm chí họ còn chẳng buồn cho chúng ta sống trong những cái hang cùng loài lử nữa. Chỉ nhờ sự thịnh vượng lớn lao của cô mới bảo vệ được tôi cho đến tận bây giờ. Giả sử cô gặp vận rủi, thì họ đã lôi tôi đi Hastings từ đời thủa nào rồi.”
Khi Ivar trò chuyện, nỗi u sầu trong lòng lão vơi đi. Alexandra nhận ra rằng cô thường có thể phá vỡ những quãng thời gian nhịn ăn và khổ hạnh kéo dài của lão bằng cách trò chuyện và để lão trút bầu tâm sự đang dấy lên trong đầu. Sự cảm thông luôn gột rửa tâm trí lão, trong khi sự chế nhạo lại chính là thứ thuốc độc đối với lão.
“Có rất nhiều điều có lý trong lời ông nói đấy, Ivar. Rất có thể sắp tới họ sẽ muốn lôi tôi đến Hastings chỉ vì tôi vừa dựng một cái lò sấy ngũ cốc; và khi đó tôi có thể mang ông đi cùng. Nhưng hiện tại tôi đang cần ông ở đây. Chỉ có điều đừng bao giờ đến tìm tôi để lằn nhằn về những gì thiên hạ nói nữa. Cứ để người ta buôn chuyện tùy thích, còn chúng ta sẽ tiếp tục sống theo cách mình cho là đúng đắn nhất. Ông đã ở bên tôi mười hai năm nay rồi, và tôi cũng đã tìm đến ông để xin lời khuyên thường xuyên hơn bất kỳ ai khác. Chừng đó lẽ ra phải làm ông mãn nguyện chứ.”
Ivar cung kính cúi đầu. “Vâng, thưa cô chủ, tôi sẽ không làm phiền cô bằng những lời bàn tán của họ nữa. Còn về đôi chân của mình, tôi vẫn luôn tuân thủ mong muốn của cô suốt ngần ấy năm qua, dù chưa bao giờ cô phải hỏi han tôi; tối nào tôi cũng rửa sạch sẽ, kể cả vào mùa đông.”
Alexandra bật cười. “Ồ, đừng bận tâm đến đôi chân của ông nữa, Ivar. Chúng ta đều nhớ có thời điểm một nửa số hàng xóm của chúng ta đi chân trần vào mùa hè. Tôi đoán giờ đây thỉnh thoảng bà cụ Lee cũng rất thèm được cởi phăng giày ra nếu dám đấy. Tôi thực sự mừng vì mình không phải là con dâu của bà Lee.”
Ivar nhìn xung quanh đầy vẻ bí hiểm và hạ thấp giọng gần như thành tiếng thì thầm. “Cô có biết họ có thứ gì ở nhà lão Lou không? Một cái bồn tắm trắng to tướng, giống như những máng đá đựng nước ở quê nhà ấy, để họ chui vào đó tắm rửa. Hôm cô sai tôi mang dâu tây sang bên đó, mọi người đều vào thị trấn cả, chỉ còn mỗi bà cụ Lee và đứa cháu nhỏ. Bà ấy dẫn tôi vào xem thứ đó, và bảo với tôi rằng không thể nào tắm sạch sẽ bằng cái bồn ấy được, bởi vì với chừng ấy nước, cô không thể nào đánh lên một lớp xà phòng cho thật đặc được. Thế nên khi họ đổ đầy nước vào rồi bắt bà ấy vào trỏng, bà ấy chỉ vờ vịt và khua nước cho tóe tung lên. Rồi đến lúc tất cả ngủ say, bà ấy lại lén tắm trong một cái chậu gỗ nhỏ mà bà giấu dưới gầm giường.”
Alexandra rung người cười nắc nẻ. “Tội nghiệp bà cụ Lee quá! Họ còn chẳng thèm cho bà đội mũ ngủ nữa cơ chứ. Thôi kệ; khi nào bà ấy sang thăm tôi, bà ấy có thể làm lại mọi thói quen cũ theo cách ngày xưa, và uống bao nhiêu bia tùy thích. Chúng ta sẽ mở một cái nhà thương dành riêng cho những con người hoài cổ vậy, Ivar ạ.”
Ivar cẩn thận gấp chiếc khăn tay lớn lại rồi nhét ngược vào ngực áo blouse. “Lần nào cũng vậy thôi, thưa cô chủ. Tôi đến gặp cô với nỗi muộn phiền, để rồi cô lại tiễn tôi ra về với một tâm hồn nhẹ nhõm. Mà cô có ơn phúc vui lòng bảo gã người Ireland rằng đừng bắt con ngựa tía kéo xe cho đến khi vết loét trên vai nó lành hẳn không?”
“Tôi sẽ bảo hắn. Giờ thì đi đi và đánh xe ngựa của Emil vào xe cộ đi. Tôi phải lái xe lên khu vực phía bắc để gặp gã thương nhân từ thị trấn đến mua cỏ linh lăng của tôi.”