XV
Rẽ sang trái, bạn sẽ ngạc nhiên vì sự tịch lặng và trống trải ở đoạn đường này của phố Cambacèrès. Không một chiếc xe. Tôi đi qua trước cửa một khách sạn và chói mắt vì một cây đèn chùm lấp lánh tất cả các bóng pha lê của nó trong hành lang liền với cửa vào. Có ánh nắng.
Số 10 bis là một ngôi nhà hẹp bốn tầng lầu. Lầu một có nhiều cửa sổ cao. Một cảnh sát đứng canh ở vỉa hè đối diện.
Một cánh cửa của ngôi nhà để mở, rote thời gian bật. Một phòng ngoài dài, tường xám. Phía trong cùng, một cửa với những ô kính nhỏ, tôi kéo ra khó khăn vì chét gỉ. Một cầu thang không rải thảm dẫn lên các tầng trên.
Tôi dừng lại trước cửa lầu một. Tôi đã quyết định hỏi những người thuê nhà ở tầng lầu xem số điện thoại ANJon 15 – 28 đã có thời kỳ nào là của họ không và cổ họng tôi thắt lại vì tôi biết cách thức tiến hành của mình thật kỳ. Trên cửa, một tấm biển đồng, tôi đọc thấy: HÉLÈNE PILGRAM.
Một hồi chuông mảnh và mòn đến nỗi chỉ nghe thấy từng lúc. Tôi ấn ngón tay trỏ trên nút thật lâu. Cửa hé ra, gương mặt một người đàn bà tóc ngả màu tro xám và cắt ngắn hiện ra ở khe cửa.
- Thưa bà… Tôi muốn hỏi thăm…
Bà ta dõi cặp mắt rất trong sáng nhìn tôi trân trân. Không thể đoán được tuổi bà. Ba mươi, năm mươi?
- Số điện thoại cũ của bà có phải là ANJon 15 – 28 không ạ?
Bà ta cau mày.
- Phải. Tại sao?
Bà mở cửa rộng hơn. Bà mặc một chiếc áo ngủ đàn ông bằng lụa đen.
- Tại sao ông lại hỏi tôi điều ấy?
- Bởi vì… Tôi đã từng ở đây…
Bà tiến ra thềm nghỉ đầu cầu thang và da diết nhìn vào mặt tôi. Mắt bà trố ra.
- Nhưng… ông là… ông… Mc Evou?
- Vâng, tôi đáp liều.
- Mời ông vào.
Bà có vẻ xúc động thật sự. Chúng tôi đứng đối diện nhau, giữa một phòng ngoài sân đã hư. Một số mảnh ván đã được thay bằng những miếng vải nhựa linôlêum.
- Ông không thay đổi lắm, bà mỉm cười nói với tôi.
- Bà cũng vậy.
- Ông vẫn còn nhớ tôi?
- Tôi nhớ bà rất rõ, tôi nói với bà.
- Thật quí hoá…
Đôi mắt bà nán lại nhìn tôi, dịu dàng.
- Ông lại đây…
Bà đi trước dẫn tôi vào một gian phòng rất lớn trần rất cao mà các cửa sổ chính là những cửa sổ tôi đã nhận thấy từ ngoài phố. Sàn gỗ, cũng hư như ở phòng ngoài, được phủ từng chỗ bằng thảm len trắng. Qua các cửa sổ, một mặt trời mùa thu rọi một ánh sáng màu hổ phách vào gian phòng.
- Mời ông ngồi…
Bà chỉ cho tôi một cái ghế dài phủ gối nhưng kê sát tường. Bà ngồi xuống bên trái tôi.
- Gặp lại ông một cách… đột ngột, thật cũng lạ.
- Tôi có việc đi qua khu phố này, tôi nói.
Tôi thấy bà trẻ hơn lúc xuất hiện qua khe cửa hé mở. Không một vết nhăn nhó nào ở khoé môi, quanh mắt cũng như ở trán và gương mặt phẳng phiu đó tương phản với mái tóc bạc.
- Tôi có cảm giác là bà đã thay đổi màu tóc. Tôi đánh liều nói.
- Không mà… tóc tôi đã bạc từ năm hai mươi lăm tuổi… Tôi ưng giữ nguyên màu tóc này…
Ngoài chiếc ghế dài, đồ đạc chả có mấy. Một cái bàn hình chữ nhật kê sát tường đối diện. Một cái Mannơcanh cũ giữa hai cửa sổ, thân choàng một tấm vải màu be bẩn và sự hiện diện khác thường của nó gợi đến một xưởng may. Vả lại, tôi nhận thấy một chiếc máy khâu để trên một cái bàn ở góc phòng.
- Ông nhận ra căn hộ này chứ? Bà hỏi tôi. Ông thấy đấy… Tôi vẫn giữ những thứ này…
Bà khoát tay về phía người giá thợ may.
- Chính Denise đã để lại tất cả những cái đó…
- Quả vậy, tôi nói, cũng không thay đổi gì mấy…
- Còn Denise? Bà sốt ruột hỏi. Cô ấy ra sao rồi?
- À, tôi nói, lâu rồi tôi không gặp lại cô ấy…
- Thế đấy…
Bà có vẻ thất vọng và gật đầu như thể bà hiểu rằng không nên nhắc đến cô “Denise” ấy nữa. Vì tế nhị mà.
- Thực ra, tôi nói, bà quen Denise lâu chưa?...
- Lâu rồi… Tôi quen cô ấy do Léon…
- Léon?
- Léon Van Allen ấy.
- Tất nhiên rồi, tôi nói, chột dạ vì cái giọng biểu lộ trong câu này, một giọng trách móc khi thấy cái tên “Léon” không gợi cho tôi nhớ ngay đến “Léon Van Allen”.
- Anh ta sao rồi, Léon Van Allen ấy? Tôi hỏi.
- Ồ… đã hai ba năm nay tôi không được tin tức gì của ông ấy… Ông ấy đã đi Guyane thuộc Hà Lan ở Paramaribo… Ông ấy đã mở lớp dạy múa bên đó…
- Dạy múa?
- Vâng. Trước khi làm nghề khâu may, Léon đã là diễn viên múa… Ông không biết sao?
- Có, có chứ. Nhưng tôi quên béng đi mất.
Bà ngả người ra sau dựa lưng vào tường và thắt lại chiếc dây lưng áo ngủ.
- Còn ông, ông giờ ra sao?
- Ồ, tôi ấy à? … chẳng sao cả…
- Ông không làm ở sứ quán Cộng hoà Đôminích nữa à?
- Không.
- Ông có nhớ hồi ông đề nghị làm cho tôi một tấm hộ chiếu Đôminích? Ông bảo ở đời phải đề phòng và bao giờ cũng phải có mấy tấm hộ chiếu…
Kỷ niệm này làm bà thích thú. Bà thốt lên một tiếng cười ngắn.
- Lần cuối cùng bà được tin về… Denise là bao giờ? Tôi hỏi bà.
- Ông đi Megève với cô ấy và từ nơi ấy, cô gởi cho tôi một bức thư ngắn. Rồi từ bấy đến nay bặt tin.
Bà đăm đăm nhìn tôi, vẻ dò hỏi nhưng hẳn là bà không dám đặt thẳng một câu hỏi trực tiếp. Cô nàng Denise ấy là ai nhỉ? Nàng có đóng vai trò gì quan trọng trong đời tôi không?
- Bà tưởng tượng coi, tôi nói, có những lúc tôi có cảm giác mình đang ở trong một màn sương mù dày đặc… Tôi bị những lỗ hổng trong trí nhớ… Những thời kỳ buồn chán… Cho nên, nhân tiện qua phố này, tôi mạo muội… lên đây… để thử tìm lại cái… cái…
Tôi hoài công tìm một chữ chính xác mà không ra nhưng cái đó không quan trọng gì vì bà mỉm cười, và nụ cười ấy cho tôi thấy bà không hề ngạc nhiên trước ứng xử của tôi.
- Ông muốn nói: tìm lại thời vui vẻ ngày xưa?
- Vâng. Đúng thế… Thời vui vẻ…
Bà cầm lấy một cái hộp thếp vàng trên một cái bàn nhỏ ở đầu đivăng và mở ra. Hộp đầy thuốc lá.
- Không, cảm ơn, tôi nói.
- Ông không hút thuốc nữa ư? Thuốc lá Ăng-lê đấy. Tôi nhớ là ông thường hút thuốc lá Ăng-lê mà… Mỗi lần chúng ta gặp nhau ở đây, cả bộ ba, với Denise, ông đều mang đến cho tôi một túi đầy những bao thuốc lá Ăng-lê.
- Phải, đúng vậy…
- Ở công sứ Đôminích, loại thuốc ấy, ông muốn bao nhiêu cũng có…
Tôi vươn tay tới cái hộp thếp vàng, dùng ngón cái và ngón trỏ nhón một điếu. Tôi e sợ đưa lên miệng. Bà đưa bật lửa cho tôi sau khi châm điếu thuốc của mình. Tôi phải bật đi bật lại mấy lần mới lên lửa. Tôi hít một hơi. Lập tức, một cảm giác nhoi nhói rất đau làm tôi ho sù sụ.
- Tôi mất thói quen rồi, tôi bảo bà.
Tôi không biết làm thế nào để rảnh nợ với điếu thuốc lá này, tôi cứ cầm nó giữa ngón cái và ngón trỏ trong khi nó cháy dần.
- Vậy là bây giờ, tôi nói, bà ở căn hộ này?
- Vâng. Tôi lại dọn đến đây khi tôi bặt tin Denise… Vả lại, trước khi đi, cô ấy cũng báo là tôi có thể lấy lại căn hộ…
- Trước khi cô ấy đi?
- Vâng mà… trước khi ông cùng cô ấy đi Megève…
Bà nhún vai như thể đó là điều hiển nhiên đối với tôi.
- Tôi có cảm giác tôi ở lại căn hộ này trong thời gian rất ngắn…
- Ông ở đây mấy tháng với Denise…
- Và bà, bà ở đây trước chúng tôi?
Bà ngẩn ra nhìn tôi.
- Cố nhiên là thế, kia… Đây là căn hộ của tôi… Tôi cho Denise mượn vì tôi phải đi Paris…
- Xin lỗi… Tôi vừa nhãng đi nghĩ sang chuyện khác.
- Ở đây tiện cho Denise. Có chỗ cho cô ấy đặt một xưởng khâu may…
Một cô thợ khâu ư?
- Tôi cứ tự hỏi: không hiểu tại sao bọn tôi lại rời căn hộ này, tôi nói.
- Tôi cũng thế…
Lại cái nhìn dò hỏi ấy. Nhưng tôi biết giải thích thế nào cho bà? Tôi biết ít hơn bà. Tôi chẳng biết gì về những chuyện này. Cuối cùng, tôi đặt vào cái gạt tàn mẩu thuốc cháy gần hết làm bỏng ngón tay tôi:
- Trước khi đến ở đây, chúng tôi có gặp nhau không nhỉ? Tôi rụt rè hỏi liều.
- Có. Hai ba lần. Ở khách sạn ông trọ…
- Khách sạn nào?
- Phố Cambon. Khách sạn Castille. Ông còn nhớ cái phòng màu ve ông thuê để ở với Denise?
- Vâng.
- Ông và cô ấy đã rời khách sạn Castille vì cảm thấy ở đó không an toàn… phải thế không?
- Vâng.
- Quả là một thời kỳ lạ lùng…
- Thời kỳ nào?
Bà không trả lời mà châm một điếu thuốc nữa.
- Tôi muốn đưa bà xem mấy tấm ảnh, tôi nói.
Tôi rút từ túi trong áo vét ra một cái phong bì đã trở thành một vật bất ly thân, trong đó tôi xếp tất cả các ảnh. Tôi đưa cho bà xem tấm hình Freddie Howard de Luz, Gay Orlow, người thiếu phụ không quen và tôi chụp trong “phòng ăn mùa hè”.
- Bà nhận ra tôi chứ?
Bà quay người để xem tấm ảnh dưới ánh sáng mặt trời.
- Ông đứng với Denise, nhưng hai người kia thì tôi không biết…
- Bà không biết Freddie Howard de Luz?
- Không.
- Cả Gay Orlow cũng không?
- Không.
Rành là người ta sống cách ngăn thật, các bạn của cùng một người mà không biết nhau. Thật đáng tiếc.
- Tôi còn hai tấm ảnh Denise nữa.
Tôi chìa cho bà tấm ảnh nhỏ cho thẻ căn cước và tấm đứng tì khuỷu tay ở lan can.
- Tôi biết tấm này rồi, bà nói với tôi… Thậm chí tôi nghĩ cô ấy đã gởi cho tôi một tấm như thế từ Megève nữa kia. Nhưng tôi không nhớ tôi đã để nó ở đâu…
Tôi lấy lại tấm ảnh từ tay bà và ngắm thật kỹ. Megève. Đằng sau Denise, có một khung cửa sổ nhỏ, với một cánh gỗ. Phải cánh cửa và hàng lan can ấy có thể là một nhà gỗ trên núi.
- Cái chuyện đi Megève ấy dù sao cũng là một ý kỳ cục, tôi đột ngột tuyên bố. Denise có nói với bà cô ấy nghĩ thế nào về việc ấy không?
Bà ngắm tấm ảnh căn cước. Tim đập thình thình, tôi chờ bà trả lời.
- Có… cô ấy có nói với tôi về chuyện đó… cô ấy bảo Megève là một nơi an toàn… Và từ đó, bao giờ cũng có khả năng vượt qua biên giới.
- Phải… Tất nhiên…
Tôi không dám đi xa hơn. Tại sao tôi lại rụt rè và sợ sệt đến thế khi đề cập đến những đầu đề thiết thân với mình? Nhưng cả bà nữa, tôi hiểu điều này qua cái nhìn của bà, là cũng muốn nghe tôi giải thích. Cả hai chúng tôi đều im lặng. Cuối cùng bà quyết định:
- Nhưng chuyện gì đã xảy ra ở Megève?
Bà đặt câu hỏi này với tôi một cách khẩn cấp đến nỗi lần đầu tiên, tôi cảm thấy lòng tràn đầy chán nản và thậm chí còn hơn chán nản nữa kìa – tuyệt vọng, cái nỗi tuyệt vọng thường xâm chiếm ta khi ta nhận biết được rằng, bất chấp mọi cố gắng, mọi ưu điểm cùng toàn bộ thiện chí của ta, ta vẫn vấp phải một trở ngại không thể vượt qua.
- Tôi sẽ giải thích cho bà hay… Để một hôm khác…
Chắc hẳn trong giọng tôi hoặc trong sắc diện tôi, có một cái gì lạc thần vì bà đã riết chặt cánh tay tôi như để an ủi và bà nói với tôi:
- Tha lỗi cho tôi đã đặt với ông những câu hỏi thiếu tế nhị… Nhưng… tôi là bạn thân của Denise mà…
- Tôi hiểu…
Bà đứng dậy.
- Ông đợi tôi một lát…
Bà rời căn phòng. Tôi nhìn xuống chân ngắm những vùng ánh sáng tạo nên bởi những tia nắng trên tấm thảm len trắng. Rồi những mảnh ván sàn và cái bàn hình chữ nhật và cái manơcanh cũ trước kia thuộc về “Denise”. Liệu rồi cuối cùng, tôi có nhận ra được một nơi tôi đã từng sống?
Bà trở lại, cầm cái gì đó trong tay. Hai cuốn sách. Một sổ nhật ký.
- Hôm đi, Denise bỏ quên cái này… Đây… tôi biếu ông…
Tôi ngạc nhiên không thấy bà xếp những vật kỷ niệm ấy trong một cái hộp như Stioppa de Djagoriew và người làm vườn cũ của bà mẹ Freddie. Rút lại, đây là lần đầu tiên trong cuộc tìm kiếm của tôi, người ta không đưa cho tôi một cái hộp. Ý nghĩ ấy làm tôi bật cười.
- Có gì mà ông thích thú thế?
- Chẳng có gì cả.
Tôi ngắm bìa những cuốn sách. Trên một trang bìa, mặt một người Trung Quốc để ria, đội mũ quả dưa, hiện ra trong màn sương mù màu xanh lơ. Một đầu đề Charlie Chan. Trang bìa kia màu vàng và ở mé dưới, tôi nhận thấy một cái hình vẽ một cái mặt nạ có cắm một cái bút lông ngỗng. Cuốn sách này tên là Thư nặc danh.
Denise đọc mọi thứ tiểu thuyết trinh thám!… bà nói với tôi. Còn có cái này nữa…
Bà chìa cho tôi một cuốn sổ nhật ký bìa da cá sấu.
- Cảm ơn.
Tôi mở cuốn sổ và lần giở các trang. Chưa thấy viết gì: không một cái tên nào, không một cuộc hẹn gặp. Cuốn sổ nhật ký có ngày tháng, nhưng không có năm. Cuối cùng, tôi tìm thấy giữa các trang một tờ giấy và tôi giở ra:
Cộng hoà Pháp.
Tỉnh Seine
Trích lục các giấy khai sinh của quận 13 Paris
Năm 1917
Ngày 21 tháng mười hai năm một nghìn chín trăm mười bảy.
Vào hồi mười lăm giờ, ở phố bến tàu Austerlitz 19, đã ra đời Denise Yvette Coudreuse, giống cái, con của Paul Coudreuse và Henriette Bogeerts, vô nghề nghiệp, ở địa chỉ trên.
Ngày 3 tháng 4 năm 1939 kết hôn với Jimmy Pedro Stern tại Paris (quận 17)
Để trích lục y bản chính
Paris – ngày 16 tháng 6 năm 1939.
- Bà đã xem cái này chưa? Tôi hỏi.
Bà ngạc nhiên nhìn tờ giấy khai sinh.
- Bà có biết chồng cô ấy không? Cái gã… Jimmy Pedro Stern ấy?
- Denise không bao giờ nói với tôi là cô ấy đã có chồng… Còn ông, ông có biết chuyện đó không?
- Không
Tôi đút cuốn sổ nhật ký và tờ giấy khai sinh vào túi trong, cùng với phong bì đựng ảnh và không hiểu tại sao một ý nghĩ vụt qua óc tôi.
- Cảm ơn bà đã cho tôi những vật kỷ niệm này.
- Xin ông cứ lấy, ông Mc Evoy.
Tôi nhẹ hẳn người khi thấy bà nhắc lại họ tôi vì khi bà phát âm nó lần đầu, tôi nghe không được rõ lắm. Tôi những muốn ghi ngay lập tức, nhưng tôi còn phân vân về chính tả.
- Tôi thích cái cách bà phát âm họ tôi, tôi bảo bà. Điều đó là khó đối với một người Pháp… Nhưng bà viết nó như thế nào? Khi viết chữ đó, bao giờ người ta cũng mắc lỗi chính tả.
Tôi dùng một giọng nghịch ngợm. Bà mỉm cười.
- MCE hoa, V…O…Y bà đánh vần
- Liền một từ duy nhất? Bà chắc thế chứ?
- Hoàn toàn chắc, bà nói như thể phá một cái bẫy mà tôi dăng ra nhử bà.
Vậy là McEvoy.
- Hoan hô! Tôi khen bà.
- Tôi không bao giờ phạm lỗi chính tả.
- Pedro McEvoy… Tôi mang một cái tên thật kỳ. Bà không thấy ư? Có những lúc tôi vẫn chưa quen với nó…
- Này… Suýt nữa tôi quên cái này, bà nói.
Bà rút trong túi ra một cái phong bì:
- Đây là mẩu thư cuối cùng tôi nhận được của Denise…
Tôi giở tờ giấy ra và đọc:
Megève, ngày 14 tháng 2
Hélène thân mến,
Thế là quyết định rồi. Ngày mai, mình sẽ cùng Pedro vượt biên sang bên đó, mình sẽ gởi tin tức về cho cậu thật nhanh.
Trong khi chờ đợi, mình cho cậu số dây nói của một người ở Paris mà nhờ đó, chúng mình có thể liên lạc được với nhau.
OLEG DE WRÉDÉ AUTEUIL 54 – 73
Hôn cậu
Denise
- Và bà có gọi dây nói chứ?
- Vâng. Nhưng lần nào người ta cũng bảo tôi là ông chủ đi vắng.
- Cái tay… Wrédé này là ai?
- Tôi không biết. Denise không bao giờ nói với tôi về người này.
Dần dần, ánh mặt trời rút khỏi căn phòng. Bà thắp một ngọn đèn nhỏ trên cái bàn thấp đầu đi-văng.
- Tôi sẽ lấy làm vui thích nếu được nhìn lại căn phòng tôi đã ở, tôi bảo bà.
- Tất nhiên là được thôi.
Chúng tôi theo một hành lang và bà mở một cửa bên phải.
- Đấy, bà nói. Tôi thì không dùng đến các phòng này nữa… Tôi ngủ trong phòng bạn… ông biết đấy… cái phòng nhìn ra sân ấy mà…
Tôi dừng lại ở khung cửa vào. Trời hãy còn đủ sáng. Hai bên cửa sổ, rủ xuống một tấm rèm màu cận rượu vang. Tường phủ giấy có vẽ những hoạ tiết màu xanh nhạt.
- Ông nhận ra chứ? Bà hỏi tôi.
- Vâng.
Một cái dát lò xo ở bức tường cuối phòng. Tôi đến ngồi lên mép cái dát lò xo ấy.
- Tôi có thể ở lại một mình mấy phút không?
- Tất nhiên.
- Cái này nhắc tôi nhớ đến “thời kỳ vui vẻ”…
Bà ném về phía tôi một cái nhìn buồn bã và gật đầu.
- Tôi đi pha tí trà…
Cả trong căn phòng này nữa, sàn gỗ cũng hư, nhiều miếng ván đã mất mà không được thay để lấp những chỗ trống, trên tường đối diện với cửa sổ, một lò sưởi lát đá hoa trắng và một tấm gương ở bên kia khung thép vàng mỗi góc lại cầu kỳ gắn thêm một vỏ ốc… Tôi ngả mình nằm ngang cái dát lò-xo, đăm đăm nhìn lên trần rồi những mô-típ trên giấy phủ tường. Tôi gần như dí trán vào tường để xem cho rõ những chi tiết. Những cánh đồng quê. Thiếu nữ đeo tóc giả ngồi trên những cái đu, mục đồng mặc quần ống phồng chơi đàn măngđôlin. Rừng cây dưới trăng. Mọi cái đó chẳng gợi cho tôi kỷ niệm gì, vậy mà những hình vẽ này hẳn đã từng quen thuộc đối với tôi hồi tôi còn ngủ trên chiếc giường này. Tôi tìm trên trần, một vết tích bất kỳ, mà không biết nó là cái gì. Nhưng chẳng có gì níu mắt tôi lại.
Tôi đứng dậy và ra chỗ cửa sổ. Nhìn xuống dưới đường.
Phố vắng tanh và tối hơn lúc tôi vào khu nhà. Gã cảnh sát vẫn đứng canh vỉa hè trước mặt. Phía trái, nếu tôi cúi đầu, tôi có thể thấy một khoảng cũng vắng tanh với những nhân viên cảnh sát khác đứng canh. Như thể cửa sổ của tất cả những khu nhà nuốt lấy bóng đêm đang xuống dần. Những cửa sổ ấy đen ngòm và ta thấy rõ là không có ai ở đấy.
Bấy giờ, một cái gì bật đánh “tách” trong tôi. Cái cảnh nhìn thấy từ căn phòng này gây cho tôi một cảm giác lo âu, nơm nớp, mà tôi đã từng biết. Những mặt tiền này, con phố vắng này, những bóng người canh gác này trong hoàng hôn làm tôi bối rối một cách quỷ quyệt như một bài hát hay một mùi hoa xa kia đã từng quen thuộc. Và tôi dám chắc rằng nhiều lần, cũng vào giờ này, tôi đã từng đứng đây rình ngóng không động đậy, không làm một cử chỉ nhỏ nào và thậm chí không dám thắp một ngọn đèn.
Khi tôi trở lại phòng tiếp khách, tôi tưởng không còn ai ở lại đó nữa, nhưng bà ta đã nằm dài trên ghế nhung. Bà ngủ. Tôi khẽ khàng lại gần và tôi ngồi xuống đầu kia của chiếc ghế dài. Một cái khay với một ấm trà và hai cái tách đặt giữa tấm thảm len trắng. Tôi khẽ ho. Bà ta không thức giấc. Tôi bèn rót trà ra hai tách. Trà nguội lạnh.
Ngọn đèn bên chiếc ghế dài để cả một phần của căn phòng chìm trong bóng tối và tôi phải khó khăn mới nhận ra cái bàn, cái manơcanh và cái máy khâu, những đồ vật mà “Denise” đã bỏ lại đó. Những buổi tối xưa kia của chúng tôi trong căn phòng này thường như thế nào nhỉ? Làm sao mà biết được?
Tôi nhấp trà từng ngụm nhỏ. Tôi nghe thấy hơi thở của bà ta, một hơi thở gần như không thấy được, nhưng căn phòng tĩnh lặng đến nỗi một tiếng động nhỏ nhất, một tiếng thì thầm khẽ nhất cũng bật lên rõ ràng đến phát sợ. Thôi, đánh thức bà ta làm gì? Bà ta không thể cho tôi biết gì nhiều lắm. Tôi đặt tách xuống chiếc thảm len.
Đúng lúc rời căn phòng, tôi làm cho sàn gỗ kêu cót két, và tôi đi vào hành lang.
Tôi mò mẫm tìm cửa ra, rồi tìm rơle thời gian của cầu thang. Tôi đóng cửa hết sức nhẹ nhàng. Tôi vừa đẩy cánh cửa có ô kính kia để đi qua lối vào khu nhà thì cái bật “tách!” mà tôi đã cảm thấy khi nhìn qua cửa sổ phòng ngủ trên kia, lại vang lên lần nữa. Lối vào rực một ánh sáng trắng loá toả ra từ ngọn đèn hình cầu treo trên trần. Tôi quen dần với thứ ánh sáng quá gắt ấy. Tôi đứng lại đó ngắm những bức tường xám và những ô kính cửa lấp lánh.
Một cảm giác xuyên qua tâm trí tôi, như những mảnh mộng vụt hiện vụt tan mà khi thức dậy ta cố nắm bắt để dựng lại toàn bộ giấc chiêm bao. Tôi thấy mình đang đi trong một Paris tối tắm và đẩy cửa khu chung cư này của phố Cambacérès. Thế rồi, mắt tôi bỗng nhiên chói loà và trong một giây, tôi không trông thấy gì nữa hết vì ánh sáng trắng loá ở cửa lối vào tương phản mạnh mẽ với bóng đêm bên ngoài.
Chuyện ấy là từ hồi nào nhỉ? Vào thời tên tôi là Pedro McEvoy và tối nào cũng về đây? Phải chăng tôi đã nhận ra lối vào, tấm rơm chùi chân hình chữ nhật to tướng, những bức tường xám, cái bóng đèn hình cầu trên trần đánh đai bằng một cái vành đồng? Đằng sau những ô kính cửa ra vào, tôi trông thấy những bậc đầu của cầu thang mà tôi thèm cất bước chậm rãi đi lên để làm lại những cử chỉ tôi đã từng làm và theo những lộ trình ngày xưa của mình.
Tôi tưởng như còn nghe thấy trong lối vào những khu chung cư dư âm những bước chân của những người thường qua đó và đã biệt tăm từ bấy đến nay. Một cái gì vẫn tiếp tục rung lên sau khi họ đi qua, những làn sóng mỗi lúc một yếu đi nhưng vẫn nắm bắt được nếu tập trung chú ý. Thực ra, có thể chưa bao giờ tôi là cái gã Pedro McEvoy đó, tôi chẳng là cái gì cả, nhưng những làn sóng xuyên qua tôi, khi xa xăm, khi mạnh hơn và tất cả những dư vang tản mác bồng bềnh trong không trung ấy kết tinh lại và đấy là tôi.